NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP

NGUYỄN MINH HẢI – Ban Thực hiện chính sách BHXH Việt Nam

Bảo hiểm thất nghiệp là một chính sách của Đảng và Nhà nước mới được ban hành, nhằm hoàn thiện hệ thống các chính sách an sinh xă hội ở nước ta. Mục tiêu của chính sách bảo hiểm thất nghiệp là bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, đồng thời tạo điều kiện để họ có cơ hội t́m kiếm được việc làm mới thích hợp và ổn định trong thời gian sớm nhất.

Ngay từ những năm đầu của thế kỷ XX, để góp phần giải quyết t́nh trạng mất việc làm trên thế giới, nhất là ở các nước công nghiệp, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đă có Công ước số 44 ngày 04/6/1934 về bảo đảm tiền trợ cấp cho những người thất nghiệp. Trên cơ sở của Công ước này, nhiều nước đă ban hành chính sách về bảo hiểm thất nghiệp. Tuy nhiên, nói chung ở các nước trên thế giới, trong hệ thống các chế độ BHXH, chế độ bảo hiểm thất nghiệp thường là chế độ ra đời muộn nhất bởi phạm vi thất nghiệp không thể dự báo được chính xác như các chế độ khác, hơn nữa việc quản lư bảo hiểm thất nghiệp là khó khăn do đó vấn đề xác định tài chính của bảo hiểm thất nghiệp luôn là trở ngại khi thực hiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp. Mặt khác, chúng ta cũng phải hiểu rằng chế độ bảo hiểm thất nghiệp sẽ cực kỳ hữu ích trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế với sự gia tăng của số người thất nghiệp nhưng lúc này đồng nghĩa với việc quỹ bảo hiểm thất nghiệp giảm đi nhanh chóng do bội chi và như vậy, tính bảo hiểm sẽ không c̣n nữa.

Một điểm cần lưu ư nữa là vấn đề quản lư. Nếu không quản lư được đối tượng đồng nghĩa với việc không thành công của chế độ bảo hiểm này bởi lẽ không biết người lao động đang hưởng chế độ bảo hiểm thất nghiệp có việc lại lúc nào để ngừng hưởng trợ cấp. Cũng v́ vấn đề này mà năm 1990 Ấn Độ đă cho ra đời chế độ bảo hiểm thất nghiệp rồi đến năm 1992 lại phải ngừng lại v́ không quản lư được.

Ở nước ta, trước khi có chính sách bảo hiểm thất nghiệp một cách hoàn chỉnh th́ tại Điều 17 và Điều 42 của Bộ Luật Lao động đă quy định về việc trợ cấp cho người lao động khi bị mất việc làm. Theo quy định của Điều 17, trong trường hợp thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ mà người lao động đă làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp từ một năm trở lên bị mất việc làm th́ người sử dụng lao động có trách nhiệm đào tạo lại họ để sử dụng vào những chỗ việc làm mới; nếu không thể sử dụng vào chỗ việc làm mới, phải cho người lao động thôi việc th́ phải trả trợ cấp mất việc làm, mỗi năm làm việc bằng một tháng lương và các doanh nghiệp phải lập quỹ dự pḥng về trợ cấp mất việc làm. Điều 42 Bộ luật Lao động th́ quy định khi chấm dứt hợp đồng lao động đă làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp, người sử dụng lao động cũng có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc, cứ mỗi năm làm việc bằng nửa tháng lương cộng với phụ cấp lương. Tuy nhiên, trong thực tế, nhiều doanh nghiệp đă không thực hiện đúng các quy định này v́ nhiều lư do khác nhau, trong đó có cả việc các quỹ này do các doanh nghiệp tự trích lập, quản lư nhỏ lẻ, không đủ khả năng chi trả khi có nhiều người lao động chấm dứt hợp đồng lao động hoặc bị mất việc làm.

Để hoàn thiện hệ thống các chính sách an sinh xă hội, trong đó có các chế độ bảo hiểm, Nhà nước đă ban hành chính sách riêng về bảo hiểm thất nghiệp. Chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở nước ta có hiệu lực từ 01/01/2009 nhưng theo thống kê của ILO, Việt Nam là nước thứ 2 ở Đông Nam Á thực hiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp.

Các nội dung của chính sách bảo hiểm tht nghiệp ở nước ta được quy định trong Luật BHXH được thông qua tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội Khoá XI, Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 của Chính phủ và được Bộ Lao động – Thương binh và Xă hội hướng dẫn tại Thông tư số 04/2009/TT-BLĐTBXH ngày 22/01/2009. Theo các văn bản trên đây, những nội dung cơ bản của chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam được quy định như sau:

Về đối tượng tham gia, mức đóng, hồ sơ đóng bảo hiểm thất nghiệp

Theo quy định, người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp là công dân Việt Nam giao kết các loại hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc với người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo các loại hợp đồng sau:

– Hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng;

– Hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

– Hợp đồng làm việc xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng;

– Hợp đồng làm việc không xác định thời hạn;

Những người đang hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng có giao kết các loại hợp đồng như trên th́ cũng không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp.

Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp là các cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp sau:

– Cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân.

– Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xă hội, tổ chức chính trị – xă hội, nghề nghiệp, tổ chức xă hội – nghề nghiệp, đơn vị sự nghiệp thuộc tổ chức chính trị, đơn vị sự nghiệp thuộc tổ chức chính trị – xă hội và tổ chức xă hội khác.

– Doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư.

– Hợp tác xă, Liên hiệp hợp tác xă thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xă.

– Hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng và trả công cho người lao động.

– Cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lănh thổ Việt Nam, trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xă hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.

Những người sử dụng lao động trên đây phải có sử dụng từ 10 người lao động trở lên. Số lao động này được tính bao gồm số lao động đang thực hiện hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc không xác định thời hạn hoặc có xác định thời hạn từ đủ 03 tháng trở lên. Đối với các cơ quan quản lư nhà nước th́ số lao động này được tính bao gồm cả số cán bộ, công chức đang làm việc tại cơ quan.

Thời điểm tính số lao động hằng năm của các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức để thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp là ngày 01/01 theo dương lịch. Trường hợp, thời điểm khác trong năm mà người sử dụng lao động sử dụng mới có đủ số lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định (từ 10 người trở lên) th́ thời điểm thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp của các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức được tính vào ngày 01 của tháng tiếp theo, tính theo dương lịch.

Căn cứ các quy định trên, có thể hiểu rằng người lao động có hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc từ đủ 12 tháng trở lên hoặc không xác định thời hạn nhưng phải đang làm việc cho người sử dụng lao động cũng thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp mới thực hiện đóng bảo hiểm thất nghiệp. Mức đóng bảo hiểm thất nghiệp bằng 3% tiền lương, tiền công trong đó người lao động có trách nhiệm đóng 1%, người sử dụng lao động đóng 1% và ngân sách Nhà nước hỗ trợ 1%. Bảo hiểm thất nghiệp là loại h́nh bảo hiểm bắt buộc, do đó trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày giao kết hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, người sử dụng lao động có trách nhiệm nộp hồ sơ tham gia bảo hiểm thất nghiệp cho cơ quan BHXH. Hồ sơ tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm Tờ khai cá nhân của người lao động và Danh sách người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo mẫu. Thời gian đă đóng bảo hiểm thất nghiệp sẽ được ghi nhận trong Sổ BHXH.

Về các quyền lợi mà người lao động được hưởng khi bị thất nghiệp

Theo quy định, người lao động khi bị thất nghiệp được hưởng 4 chế độ, bao gồm trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề, tư vấn – giới thiệu việc làm và BHYT. Người lao động muốn được hưởng các chế độ của bảo hiểm thất nghiệp phải có đủ 3 điều kiện sau:

– Một là đă phải đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ 12 tháng trở lên trong ṿng 24 tháng trước khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc theo quy định.

– Hai là phải trực tiếp đăng kư với pḥng Lao động-Thương binh và Xă hội cấp huyện nơi đang làm việc trong thời hạn 7 ngày tính theo ngày làm việc kể từ ngày bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc.

– Ba là sau 15 ngày kể từ ngày đăng kư với pḥng Lao động-Thương binh và Xă hội, người lao động đó vẫn chưa t́m kiếm được việc làm.

Sau khi hội đủ 3 điều kiện nêu trên, người lao động sẽ được hưởng các chế độ, cụ thể như sau:

1. Trợ cấp thất nghiệp:

Được hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng với mức bằng 60% mức b́nh quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của sáu tháng liền kề trước khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc. Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng phụ thuộc vào thời gian làm việc, có đóng bảo hiểm thất nghiệp và tăng thời gian gian tối đa được hưởng như sau:

– 03 tháng, nếu có từ đủ 12 tháng đến dưới 36 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp.

– 06 tháng, nếu có từ đủ 36 tháng đến dưới 72 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp.

– 09 tháng, nếu có từ đủ 72 tháng đến dưới 140 bốn tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp.

– 12 tháng, nếu có từ đủ 140 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp trở lên.

Trong khi đang hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng, người lao động sẽ bị tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp nếu:

– Không thông báo hằng tháng theo đúng quy định với Pḥng Lao động – Thương binh và Xă hội cấp huyện về việc t́m kiếm việc làm.

– Bị tạm giam.

Các trường hợp trên đây được tiếp tục hưởng lại trợ cấp thất nghiệp hằng tháng nếu vẫn c̣n trong khoảng thời gian hưởng và tiếp tục thực hiện thông báo hưởng theo đúng quy định hoặc hết thời gian bị tạm giam. Thời gian bị tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp như trên sẽ không được truy lĩnh hưởng trợ cấp thất nghiệp.

Ngườ́ đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp khi thuộc một trong các trường hợp sau:

– Hết thời hạn hưởng trợ cấp thất nghiệp.

– Có việc làm.

– Thực hiện nghĩa vụ quân sự.

– Hưởng lương hưu.

– Sau hai lần từ chối nhận việc làm do trung tâm giới thiệu việc làm giới thiệu mà không có lư do chính đáng.

– Trong thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp, ba tháng liên tục không thực hiện thông báo hằng tháng về việc t́m kiếm việc làm với Pḥng Lao động-Thương binh và Xă hội cấp huyện.

– Ra nước ngoài để định cư.

– Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lư hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh hoặc chấp hành h́nh phạt tù nhưng không được hưởng án treo.

– Bị chết.

Các trường hợp bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp do có việc làm hoặc do thực hiện nghĩa vụ quân sự sẽ được hưởng khoản trợ cấp một lần bằng giá trị của tổng mức trợ cấp thất nghiệp hằng tháng của số thời gian được hưởng trợ cấp thất nghiệp c̣n lại.

Việc chi trả trợ cấp thất nghiệp do cơ quan BHXH thực hiện.

2. Hỗ trợ học nghề:

Người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp có nhu cầu học nghề được hỗ trợ học một nghề thực hiện thông qua các cơ sở dạy nghề. Không hỗ trợ trực tiếp bằng tiền để người lao động tự học nghề. Mức hỗ trợ học nghề cho người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bằng mức chi phí học nghề ngắn hạn theo quy định của pháp luật về dạy nghề. Trường hợp người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp có nhu cầu học nghề với mức chi phí cao hơn mức chi phí học nghề ngắn hạn theo quy định của pháp luật th́ phần vượt quá mức chi phí học nghề ngắn hạn do người lao động chi trả.

Thời gian được hỗ trợ học nghề phụ thuộc vào thời gian đào tạo nghề của từng người lao động, nhưng không quá 06 tháng. Chi phí hỗ trợ học nghề do cơ quan BHXH chi trả.

3. Hỗ trợ t́m việc làm:

Người lao động hưởng trợ cấp thất nghiệp được trung tâm giới thiệu việc làm tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí. Việc hỗ trợ t́m việc làm phải phù hợp với tŕnh độ đào tạo, kinh nghiệm làm việc của người lao động.

Thời gian được hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm tính từ ngày người lao động được hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng và không quá tổng thời gian mà người lao động đó được hưởng trợ cấp thất nghiệp. Chi phí cho tư vấn, giới thiệu việc làm do cơ quan BHXH chi trả.

4. Chế độ BHYT:

Trong thời gian đang hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng, người lao động thất nghiệp được cơ quan BHXH cấp thẻ và hưng chế độ BHYT theo quy định của pháp luật về BHYT. Trường hợp chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp th́ người lao động thất nghiệp không được hưởng quyền lợi về BHYT và phải trả lại thẻ BHYT cho tổ chức BHXH. Quỹ bảo hiểm thất nghiệp đóng BHYT cho người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp.

Về hồ sơ hưởng các chế độ bảo hiểm thất nghiệp

Để được hưởng các chế độ bảo hiểm thất nghiệp, người lao động phải có các giấy tờ sau:

– Đơn đề nghị hưởng bảo hiểm thất nghiệp theo mẫu.

– Bản sao hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hết thời hạn hoặc thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc xác nhận của đơn vị cuối cùng trước khi thất nghiệp về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc đúng pháp luật.

– Sổ BHXH có ghi nhận thời gian đă đóng bảo hiểm thất nghiệp.

Các giấy tờ trên, người lao động phải nộp đủ cho pḥng Lao động – Thương binh và Xă hội cấp huyện trong thời gian 15 ngày kể từ ngày đăng kư thất nghiệp và được giải quyết trong thời hạn 20 ngày tính theo ngày làm việc.

Có thể nói, chính sách bảo hiểm thất nghiệp là một bộ phận quan trọng trong hệ thống các chính sách an sinh xă hội. Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam được Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đánh giá là tương đối hoàn chỉnh, đa dạng về các chế độ, là công cụ hữu ích hỗ trợ, bảo vệ người lao động không may bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc. Bên cạnh việc hỗ trợ một khoản tài chính đảm bảo ổn định cuộc sống cho người lao động khi bị mất việc làm bằng chế độ trợ cấp thất nghiệp hằng tháng th́ Bảo hiểm thất nghiệp ở nước ta c̣n thông qua việc hỗ trợ đào tạo nghề, tư vấn – giới thiệu việc làm để giúp cho người lao động thất nghiệp sớm t́m được việc làm mới thích hợp và ổn định. Tuy nhiên, v́ bảo hiểm thất nghiệp chính sách mới, lần đầu tiên thực hiện ở nước ta, quá tŕnh thực hiện, đặc biệt là giai đoạn đầu chắc chắn sẽ gặp không ít những khó khăn, vướng mắc. Do đó để thực hiện tốt chính sách bảo hiểm thất nghiệp, cần phải có sự tuyên truyền, phổ biến sâu rộng đến người sử dụng lao động và người lao động nhằm tạo ra sự nhận thức đúng đắn về chính sách ưu việt này. Việc tổ chức thực hiện các chế độ bảo hiểm thất nghiệp cũng phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa cơ quan lao động và cơ quan BHXH để nắm chắc số lượng người thất nghiệp, t́nh trạng thất nghiệp thật sự của người lao động hay nói một các khác là phải quản lư chặt chẽ về vấn đề lao động – việc làm. Đây là những vấn đề quan trọng có ư nghĩa quyết định đến sự thành công của chính sách về bảo hiểm thất nghiệp.

SOURCE: TẠP CHÍ BẢO HIỂM XÃ HỘI ĐIỆN TỬ

Trích dẫn từ:

http://tapchibaohiemxahoi.org.vn/index.asp?action_menu=BaiViet_Detail&BaiViet_ID=1560&MucLuc_id=775

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: