Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

BẢO HỘ PHẦN MỀM MÁY TÍNH Ở VIỆT NAM

TS.  NGUYỄN ĐÌNH HUY – Khoa Luật Dân sự – ĐH Luật TP.HCM (Bài được viết trước thời điểm Luật SHTT năm 2005 được ban hành)

Quyền tác giả là một bộ phận của quyền sở hửu trí tuệ, một loại quyền sở hửu đối với tài sản vô hình – thành quả của hoạt động sáng tạo của con người.Tài sản vô hình là tài sản không nhìn thấy được song trị giá được bằng tiền và có thể trao đổi trong giao lưu dân sự. Vì vậy, những đối tượng của quyền tác giả rất dễ bị xâm phạm từ phía người sử dụng, gây ra những hậu quả xấu, ảnh hưởng đến quyền lợi của người sáng tạo ra tác phẩm nói riêng và của toàn xã hội nói chung. Xét từ góc độ lý luận, quan hệ quyền tác giả là một loại quan hệ pháp luật tuyệt đối, là quan hệ vật quyền mà đối tượng (khách thể) của nó là những tác phẩm khoa học, văn học, nghệ thuật là món ăn tinh thần không thể thiếu được của cuộc sống con người, phản ánh mức độ phát triển của một đất nước.

Phần mềm máy tính (PMMT) là một trong số các loại hình tác phẩm văn học, khoa học, nghệ thuật được pháp luật bảo hộ (Điều 747 BLDS) là một đối tượng có những đặc thù riêng so với các đối tượng khác. PMMT là một hoặc một nhóm chương trình được biểu hiện dưới dạng chuỗi lệnh viết theo một ngôn ngữ lập trình nào đó và các tập dữ liệu liên quan, chỉ dẫn cho máy tính hoặc hệ thống tin học biết phải làm gì để thực hiện nhiệm vụ đã đề ra. PMMT có thể được cài đặt ngay trong máy tính hoặc được lưu trữ ở ngoài máy tính dưới các hình thức khác nhau như văn bản, đĩa từ, đĩa quang…. Mặc dù trong các Công ước quốc tế về quyền tác giả, PMMT không được coi là một loại hình tác phẩm được bảo hộ nhưng pháp luật tất cả các nước trên thế giới hiện nay đều bảo hộ PMMT bằng chế định quyền tác giả. Riêng ở Hoa Kỳ, PMMT còn có thể được bảo hộ dưới dạng sáng chế nếu thỏa mãn được các điều kiện như: tính mới, tính sáng tạo và tính hữu ích.

Luật pháp của các quốc gia không đồng nhất trong khái niệm về PMMT cũng như tồn
tại những quan điểm khác nhau về lĩnh vực bảo hộ đối với PMMT. Một luồng quan điểm cho rằng PMMT không có những đặc trưng của một tác phẩm văn học, khoa học, nghệ thuật và một người bình thường nếu không biết sử dụng máy tính thì không thể khai thác được công dụng của PMMT. Đối tượng của quyền tác giả phải là những tác phẩm chứa đựng nội dung văn học, khoa học, nghệ thuật được sáng tạo dưới một hình thức vật chất nhất định mà con người có thể cảm nhận được bằng các cơ quan thính giác, thị giác, xúc giác… nghĩa là có thể nghe thấy, nhìn thấy, sờ thấy được….

Mặt khác PMMT liên quan nhiều đến lĩnh vực kỹ thuật và công nghệ cho nên PMMT phải được bảo hộ như một đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp. Cũng có ý kiến cho rằng PMMT là một loại hình tác phẩm đc biệt nên có thể bảo hộ hoặc bằng quyền tác giả hoặc bằng quyền sở hữu công nghiệp; chủ sở hữu PMMT có quyền lựa chọn hình thức bảo hộ. Tuy nhiên, đại đa số ý kiến cho rằng bảo hộ PMMT bằng quyền tác giả là phù hợp và hiệu quả nhất, bởi vì PMMT dù được viết dưới dạng mã nguồn hay đã được chuyển thành mã máy đều là hình thức thể hiện ý tưởng của con người; mà như chúng ta đã biết, quyền tác giả không bảo hộ ý tưởng, chỉ bảo hộ hình thức thể hiện ý tưởng mà thôi. Bảo hộ PMMT bằng quyền tác giả rất đơn giản và mang lại hiệu quả cao nhất vì không phải đăng ký tác phẩm, thời gian bảo hộ quyền tác giả dài hơn so với quyền sở hữu công nghiệp.

Theo quy định của pháp luật nước ta, PMMT bao gồm chương trình máy tính, tài liệu mô tả chương trình, tài liệu hỗ trợ và cơ sở dữ liệu. Đây là một quy định mang tính chung chung, chúng ta chỉ biết PMMT bao gồm những gì nhưng thế nào là chương trình máy tính, tài liệu mô tả chương trình, tài liệu hỗ trợ, cơ sở dữ liệu thì không có sự giải thích cụ thể.

Theo thống kê của hãng Microsoft và các công ty phần mềm Việt Nam thì các PMMT
bị ăn cắp bản quyền ở nước ta chiếm tới hơn 98% – một con số quá lớn so với tỷ lệ trung bình trên thế giới là khoảng 50% PMMT bị sao chép lậu. Con số đó đã đặt ra cho các nhà làm luật, các cơ quan có thẩm quyền trong việc bảo hộ quyền tác giả cũng như tất cả mọi người trong xã hội nhiều câu hỏi, nhiều vấn đề bức xúc cần phải được giải quyết một cách nhanh chóng và hợp lý.

Một câu hỏi luôn được đặt ra là tại sao ở nước ta hiện nay tình trạng xâm phạm quyền
tác giả nói chung và đặc biệt là đối với PMMT lại diễn ra với mức độ trầm trọng đến như vậy? Và đâu là hướng giải quyết tình trạng này? Theo chúng tôi, một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng phần mềm máy tính bị sao chép lậu tràn lan được bắt nguồn từ những tính chất đặc trưng của phần mềm máy tính. Thực tế cho thấy rằng, trong tất cả các loại tác phẩm được bảo hộ bằng quyền tác giả thì PMMT luôn là đối tượng bị xâm phạm nhiều nhất (ở Việt Nam cũng như trên toàn thế giới). Bởi vì PMMT là một loại tài sản thuần túy chất xám, rất dễ bị sao chép với số lượng lớn, khó phát hiện và bảo vệ. Mặt khác, chất lượng của PMMT sao chép lậu và của bản gốc là hoàn toàn như nhau; điều này không giống như photocopy một quyển sách hay làm giả một bức tranh. Chính vì xuất phát từ những đặc tính trên của PMMT mà pháp luật nước ta có quy định việc sao chép PMMT dù đã được công bố, phổ biến vẫn phải xin phép và trả thù lao cho tác giả không phụ thuộc vào mục đích sao chép (k.2, Đ.761 BLDS). Như vậy, nếu một người muốn sao chép lại một phần mềm để sử dụng riêng không vì mục đích kinh doanh (ví dụ như để phục vụ cho nghiên cứu, giảng dạy), không làm ảnh hưởng đến sự khai thác bình thường của phần mềm đó thì vẫn phải xin phép và trả thù lao cho tác giả.Theo chúng tôi, quy định này rất khó thực thi trên thực tế vì ở nước ta việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội quyền tác giả hoạt động không có hiệu quả, ý thức tôn trọng quyền tác giả của người dân rất thấp. Mặt khác, có nhiều chương trình máy tính, nhiều cơ sở dữ liệu rất cần thiết cho việc phát triển văn hóa, khoa học của đất nước với nhu cầu sử dụng rất lớn. Như vậy, có nên quy định đối với những phần mềm đã được công bố, phổ biến ,việc sao chép không vì mục đích kinh doanh thì không phải trả tiền thù lao mà chỉ phải xin phép tác giả?

Pháp luật nước ta quy định thời hạn bảo hộ quyền tác giả đối với PMMT là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm sau khi tác giả chết (Đ.766 BLDS). Quy định này phù hợp với các Nghị quyết của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) về bảo hộ PMMT và được hầu hết các nước áp dụng. Như vậy, nếu thử làm một phép tính nhỏ chúng ta thấy rằng thời hạn bảo hộ trung bình đối với một PMMT là trên dưới một trăm năm. Ví dụ, nếu một người sáng tạo ra một PMMT vào lúc 30 tuổi; người đó chết lúc 80 tuổi thì thời hạn bảo hộ PMMT của người đó là 100 năm. Có điều gì bất hợp lý ở đây, khi mà một PMMT được bảo hộ như một tiểu thuyết, một bài thơ hay một bài hát?

Có lẽ không nên đặt ra vấn đề về sức lực, thời gian, trí tuệ mà tác giả đã bỏ ra để sáng tạo ra một PMMT, một tiểu thuyết, một bài thơ… bởi vì không ai dám chắc rằng để sáng tác một tiểu thuyết phải tốn sức lực, thời gian, trí tuệ nhiều hơn so với PMMT. Vấn đề là ở chỗ khác. Thực tế cho thấy rằng PMMT mà cụ thể là các chương trình máy tính rất nhanh “cũ” sau một thời gian ngắn, thậm chí không còn được sử dụng.Theo đánh giá của các chuyên gia về phần mềm thì “tuổi thọ” trung bình của chương trình máy tính là từ 8 đến 12 năm.Vậy phải chăng thời hạn bảo hộ PMMT mà pháp luật quy định là quá dài?

Chúng tôi cho rằng để pháp luật nói chung và các quy phạm pháp luật nói riêng được
thực thi có hiệu quả trong cuộc sống thì khi xây dựng một quy phạm pháp luật, các nhà làm luật phải dựa vào những điều kiện phát triển chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa cụ thể của đất nước. Nếu xét từ góc độ này, thì quy định về thời hạn bảo hộ PMMT là quá dài.

Sẽ hợp lý hơn nếu như thời hạn bảo hộ PMMT được quy định là 25 năm kể từ ngày được công bố, phổ biến. Quy định này phù hợp với điều kiện phát triển của nước ta và sẽ góp phần làm cân bằng lợi ích giữa chủ sở hữu và người sử dụng PMMT. Tuy nhiên, một vấn đề nan giải sẽ phát sinh và nó sẽ là sự cản trở đáng kể đối với quá trình hội nhập quốc tế của nước ta, bởi vì quy định này không phù hợp với luật pháp quốc tế trong lĩnh vực bảo hộ quyền tác giả. Mà quyền tác giả nói riêng và quyền sở hữu trí tuệ nói chung luôn là vấn đề được đưa lên hàng đầu trong các cuộc đàm phán, ký kết các hiệp định quốc tế đa, song phương về quan hệ thương mại. Liệu có một quốc gia phát triển nào đó lại ký kết hiệp định thương mại với Việt Nam khi PMMT của họ chỉ được bảo hộ 25 năm kể từ ngày được công bố, phổ biến?

Vấn đề quan trọng, mấu chốt làm phát sinh những vấn đề khác trong lĩnh vực bảo hộ
PMMT đó chính là lợi ích của các chủ thể trong quan hệ quyền tác giả. Lợi ích của chủ
sở hữu và người sử dụng phần mềm luôn luôn “mâu thuẫn”, đối lập nhau. Chủ sở hữu muốn quyền lợi của mình được pháp luật bảo vệ một cách tuyệt đối, thời hạn bảo hộ dài, được nhận tiền thù lao cao…. Ngược lại, người sử dụng muốn được tự do sử dụng phần mềm, trả tiền thù lao thấp, thậm chí không phải trả càng tốt…. Do vậy, nếu quyền lợi của một bên được chú trọng và bảo vệ một cách thái quá thì quyền lợi của bên còn lại sẽ bị ảnh hưởng.

Từ những vấn đề trên có thể rút ra một kết luận rằng vấn đề cân bằng lợi ích giữa chủ
sở hữu và người sử dụng phần mềm là một trong những yếu tố quyết định đem lại hiệu quả cho việc bảo hộ PMMT. Nghĩa là pháp luật phải có những quy định làm giao thoa hài hòa lợi ích của chủ sở hữu và người sử dụng; phải tìm ra một cơ chế bảo hộ thích hợp nhất để một mặt vừa khuyến khích được tác giả đầu tư sáng tạo ra nhiều phần mềm có giá trị, đảm bảo được lợi ích vật chất cũng như tinh thần của họ; mặt khác, tạo điều kiện cho người sử dụng được tiếp cận với phần mềm, khai thác phần mềm một cách hợp pháp và có hiệu quả; góp phần vào sự phát triển văn hóa, khoa học của đất nước. Một khi lợi ích được cân bằng dù chỉ là tương đối thì chắc chắn việc xâm phạm quyền tác giả sẽ giảm đi đáng kể. Cân bằng lợi ích ở đây hoàn toàn không đồng nghĩa với ngang bằng lợi ích vì lợi ích của chủ sở hữu và người sử dụng không thể nào ngang bằng được.

Để bảo hộ có hiệu quả quyền tác giả đối với phần mềm máy tính, ngoài việc ban hành
các văn bản pháp luật phù hợp, chính xác, có khả năng thực thi cao còn phải cần đến
nhiều điều kiện khác như công tác quản lý nhà nước, quản lý xã hội quyền tác giả, hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật và quan trọng nhất là ý thức chấp hành pháp luật, tôn trọng quyền tác giả của nhân dân. Đối với nhiều nước trên thế giới, công nghiệp sản xuất phần mềm đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.

Những năm gần đây, nhà nước ta đã có những chính sách mang tính chiến lược nhằm phát triển ngành công nghiệp phần mềm. Chính vì vậy việc bảo hộ quyền tác giả đối với phần mềm máy tính lại trở nên thiết thực hơn bao giờ hết. ·

SOURCE: TẠP CHÍ  KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 8/2002

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: