Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

VỀ TIÊU CHÍ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM LÀ THÀNH VIÊN CỦA WTO

TS. ĐỖ NGỌC HẢI – Học viện Chính trị – Hành chính khu vực I

Tiêu chuẩn của Đại biểu Quốc hội đã được quy định trong Hiến pháp, trong Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội, nhưng theo tôi, trong điều kiện của nước ta đang trong quá trình hội nhập ngày càng đa dạng và sâu sắc, cần thêm, sửa đổi và làm rõ một vài tiêu chí sau:

Thứ nhất, về độ tuổi:

Hiện nay, luật quy định công dân đủ 21 tuổi có quyền ứng cử làm đại biểu Quốc hội. Theo tôi quy định độ tuổi 21 là còn quá trẻ. Tuổi 21 mới là tuổi vừa tốt nghiệp đại học nếu học giỏi. Ngay ở những cơ quan bình thường cũng còn phải làm hợp đồng từ 1 đến 2 năm. Một người muốn trở thành luật sư, phải tốt nghiệp đại học luật, sau đó học lớp đào tạo nghề luật sư ở Học viện Tư pháp 6 tháng (có thể sắp tới lâu hơn), mới được cấp chứng chỉ và phải thực tập 2 năm ở văn phòng luật sư, sau về thi, nếu đỗ mới đủ tiêu chuẩn của luật sư hành nghề.

Tuổi 21 sức khỏe thì có, ước mơ thì nhiều, song tích lũy kiến thức xã hội chưa có là bao, kiến thức văn hóa còn ít, nhận thức chính trị còn yếu, tâm sinh lý chưa ổn định. Như vậy độ tuổi 21 không thể đảm nhận được nhiệm vụ của Quốc hội, ví dụ như nhiệm vụ làm luật. Ở Pháp, muốn ứng cử vào hạ nghị viện thì người ứng cử phải đủ 23 tuổi vào thượng viện phải 35 tuổi. Theo tôi, có thể khi quy định người 21 tuổi có quyền ứng cử vào đại biểu Quốc hội thì có quan niệm cho rằng, đất nước ta dân chủ hơn, trẻ hóa hơn. Nhưng theo tôi, nhiệm vụ của Quốc hội là rất nặng nề, rất quan trọng, do đó, phải người có tài trí mới làm được. Vì vậy, tôi đề nghị nên quy định: người ứng cử vào đại biểu Quốc hội phải đủ 32 tuổi, vì độ tuổi ấy, mọi khía cạnh như chính trị, tâm lý, nhận thức đã chắc chắn hơn, vì thế, đảm đương được nhiệm vụ chính trị của Quốc hội. Song, theo tôi cũng nên giới hạn độ tuổi. Qua theo dõi, tôi thấy có đại Quốc hội khóa V là linh mục Lương Đình Ái đã 86 tuổi. Bác Hồ của chúng ta, từ trước đến nay nhân dân Việt Nam đã suy tôn Bác vị lãnh tụ thiên tài, Người cha già của dân tộc, vậy mà Bác đã từng nói: 79 tuổi thuộc lớp người xưa nay hiếm, tuổi ấy Bác sẽ đi gặp C.Mác, F.Ăng ghen. Theo tôi, quan điểm dân chủ không phải tất cả các độ tuổi, mà cần độ tuổi nào thì hiệu quả công việc cao. Phát triển dân chủ vì lợi ích cho nhân dân, cho đất nước, phát triển dân chủ không vì tuổi ít vào Quốc hội là văn minh, tuổi già vẫn ở Quốc hội là dân chủ hơn. Phát triển dân chủ cần đặt câu hỏi: Anh A ở Đại biểu Quốc hội khóa IV, V, làm được những gì? Theo tôi, những người có hàm từ Bộ trưởng trở lên, những người có học hàm Phó Giáo sư, Giáo sư có thể làm Đại biểu Quốc hội không quá 70 tuổi còn bình thường không được quá tuổi quy định công chức 60 tuổi nếu là nam, nữ không quá 55 tuổi.

Thứ hai, về bằng cấp

Tôi đề nghị đại biểu Quốc hội ít nhất phải có trình độ tốt nghiệp đại học. Rất đáng mừng, từ Quốc hội khóa X trở lại đây số đại biểu có bằng đại học và trên đại học là tương đối cao, khóa X: 441/450 = 98% ; khóa XI: 465/498 = 93,37%; khóa XII: 473/493 = 95,94%.

Tôi không đồng ý với những ý kiến cho rằng, không cần tính tới yếu tố bằng cấp của người làm đại biểu Quốc hội. Đó là một quan điểm sai lầm. Nhất định có học có hơn, không phải ngẫu nhiên V.I.Lênin nói: Học, học nữa, học mãi. Tất nhiên học ở đây là tự học, học ở trường, học bạn bè… song có phải ai cũng tự học đâu, ai cũng học bạn bè đâu. Theo tôi, đa số học ở trường vẫn là cơ bản, vì thế, tốt nghiệp đại học thông qua cơ sở trường lớp, trang bị cho con người nhiều tri thức. Thông qua học đại học, một con người có được phương pháp nhận biết sự vật, hiện tượng, biết khái quát, biết được quy luật khách quan. Vì thế, làm đại biểu Quốc hội với chức năng làm luật phải đưa vào luật những quan hệ xã hội mang tính khách quan, phổ biến, gạt bỏ đi được những yếu tố chủ quan, cục bộ.

Thứ ba, Đại biểu Quốc hội phải có khát vọng tự thân

Là một con người bình thường nếu có khát vọng, con người đó sẽ đạt được mục đích mình đặt ra. Bản thân một con người A nào đó nếu có khát vọng làm đại biểu Quốc hội, anh ta sẽ xác định được mục đích: vào Quốc hội để làm gì? Quốc hội Việt Nam chỉ chấp nhận những đại biểu Quốc hội vào để cống hiến, để vì dân, vì nước, do đó phải xứng đáng. Vì thế, đừng hy vọng vào đại biểu Quốc hội là hưởng lợi lộc, là oai, đánh bóng mình. Tự thân, tức là anh ta phải nghiên cứu nhiệm vụ của Quốc hội là gì. Bản thân mình có đáp ứng được không? Nếu không đạt được sẽ không thỏa mãn khát vọng, ví dụ: một người muốn leo lên đỉnh núi A, nếu không có sức khỏe, không có ý chí thì không thể leo được. Vào đại biểu Quốc hội nếu mục đích không chân chính bản thân anh ta cũng rất khổ. Ví dụ, một người chỉ quen cày, bừa, mà ngồi họp bàn về đạo luật Điện tử thì anh ta tham gia kỳ họp Quốc hội, song đầu óc lại nghĩ về đồng ruộng và đàn lợn, con gà…

Thứ tư, đại biểu Quốc hội là người có nhận thức cao; có quyết tâm đổi mới; biết nghĩ, biết bàn việc nước việc dân; biết nói và dám nói, nhất là trong trong điều kiện Việt Nam là thành viên WTO.

Một là, người đại biểu phải có nhận thức cao. Đó là nhận thức sâu sắc về quy luật tự nhiên, quy luật xã hội, quy luật tư duy:

– Quy luật tự nhiên, ví dụ:

Người đó cần nhận thức được nước (H2O) là một chất rất quan trọng trong đời sống tự nhiên, xã hội. Vì, nước nuôi dưỡng vạn vật, nước chảy chỗ trũng, nước mềm, có thể theo bất kỳ khuôn mẫu nào, và con người ta chết vì nước nhiều hơn. Nếu nhận thức được như vậy bản thân đại biểu Quốc hội mới có những đóng góp của mình cho Quốc hội về luật nước, để bảo vệ môi trường cho nước… nắm được điều kiện tự nhiên của đất nước mình, đó là nhiều sông suối, kênh rạch

Vì thế, nghề cầu đường cần chú ý đào tạo thật tốt, chuyên sâu để có những kỹ sư, thứ bậc cao về vấn đề này. Đại biểu Quốc hội cần nắm được nước ta là khí hậu nhiệt đới gió mùa, khi có gió mùa Đông Bắc trồng cây gì thuận lợi, bệnh dịch phát triển thế nào và những bệnh gì hay xuất hiện ở người già trẻ nhỏ… Hoặc nước ta có 4 mùa rõ rệt, nhất là miền Bắc ở những vùng núi cao sẽ lạnh hơn rất nhiều, đồng bào ở đó địa hình, giao thông vẫn khó khăn, phức tạp, điều kiện kinh tế – xã hội thấp kém. Vậy, quy định về Luật Hôn nhân gia đình như hiện nay (nam 20 tuổi, nữ 18 tuổi) có quyền kết hôn ở những vùng rừng núi, đã phù hợp chưa? Điều kiện tự nhiên, địa hình, khí hậu có tác động rất lớn tới yếu tố tâm, sinh lý con người. Ví dụ, ở vùng lạnh con người có tư duy khác, vùng nóng khác; vùng lạnh tư duy khoa học chắc chắn hơn, vùng nóng nhạy cảm hơn, quyết liệt hơn.

– Quy luật xã hội, cái cơ bản của con người là gì? Đó là lợi ích.(?) Thát-chơ, nguyên Thủ tướng Anh nói đại ý: Tình bạn và đồng minh không bao giờ vĩnh viễn, chỉ có lợi ích là vĩnh viễn. Vì thế, đưa ra bất cứ đạo luật nào, người đại biểu Quốc hội trước tiên phải chú ý đó là lợi ích của dân. C. Mác đã viết: Con người trước tiên phải ăn, ở, mặc đi lại…

Loài người nói chung, con người Việt Nam nói riêng chịu rất nhiều sự chi phối của nhiều luật, đó là: luật tự nhiên: mưa sẽ ướt, trời lạnh sẽ rét… luật của Nhà nước ban hành, luật tôn giáo, luật đạo đức, luật pháp quốc tế… vì thế, là đại biểu Quốc hội phải nghiên cứu và hiểu rất rõ người dân Việt Nam trong mối quan hệ với tự nhiên, với tôn giáo, với đạo đức.. có như vậy khi tranh luận, một quy phạm pháp luật nào, một đạo luật nào mới chính xác. Theo tôi, Quốc hội ban hành luật hiện nay cần phát huy hơn nữa tính khoan dung của luật.

Pháp luật XHCN là để phục vụ nhân dân; lấy giáo dục thuyết phục là chính. Mông-téc-xki-ơ (1689-1755) nêu ra trong đó: Hòa bình là nguyên tắc cơ bản. Nói đến hòa bình là nói đến giáo dục thuyết phục thì con người cần nhân ái với nhau, giúp đỡ và hợp tác với nhau, phải chăng đây là mục đích của con người hướng tới và con người dùng pháp luật làm phương tiện để đạt được mục đích nhân ái, hòa bình.

Vì thế, theo tôi trong điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội hiện nay, với điều kiện hội nhập với quốc tế, với vị thế của Việt Nam hiện nay, những nhà ban hành văn bản quy phạm pháp luật cần tiêu chí: cái thiện là hạt nhân của luật, xây dựng luật cần xoay quanh hạt nhân đó, ngay trong hình phạt cũng phải chứa cái thiện. Có như vậy luật mới lâu bền được.

– Quy luật tư duy. Theo tôi, người đại biểu Quốc hội là người đại diện cho toàn thể lợi ích của nhân dân. Vì thế, tư duy của họ không phải là bộ phận, là ngành, là địa phương nào đó. Đó là tư duy toàn cục, tư duy luôn vì lợi ích chung cho tất cả đất nước. Tư duy là bảo vệ quyền lợi của dân tộc mình, đất nước mình.

Hai là, là đại biểu Quốc hội phải có quyết tâm đổi mới. Theo tôi, là đại biểu Quốc hội cần xác định, nhận thức được chân lý: Việt Nam là một bộ phận của thế giới, thế giới có tác động đến Việt Nam, ngược lại Việt Nam cũng có ảnh hưởng đến thế giới. Điều đó, Hồ Chủ tịch đã dạy chúng ta từ những ngày đầu cách mạng.

Công cuộc đổi mới của Đảng ta từ 1986 đến nay đã mang lại rất nhiều thành tựu trên mọi lĩnh vực. Công cuộc đổi mới như một sức sống mới khơi dậy mọi tiềm năng của đất nước, của bộ máy nhà nước trong đó có Quốc hội. Hoạt động của Quốc hội có hiệu quả hơn, hội nhập hơn. Bên cạnh những cái được của công cuộc đổi mới còn có những mặt trái tất yếu của nó đó là: tội phạm gia tăng; đạo đức xã hội có khía cạnh xuống cấp, phân hóa giàu nghèo; môi trường bị đe dọa nghiêm trọng… Từ đó, có cán bộ nhà nước, trong đó có đại biểu Quốc hội còn nghi ngờ hiệu quả của sự đổi mới, có đại biểu Quốc hội còn sa sút tinh thần, trong quản lý nhà nước vi phạm pháp luật trở thành tội phạm. Từ sự phân tích đó, theo tôi, một tiêu chí để đánh giá đại biểu Quốc hội là phải quyết tâm đổi mới, tin tưởng vào sự đổi mới của Đảng, Nhà nước là đúng đắn, ủng hộ sự đổi mới, cần nhận thức được trong quá trình đổi mới có những hệ quả xấu là tất yếu.

Ba là, là đại biểu Quốc hội phải biết nghĩ việc nước, việc dân. Việc nước, việc dân có quan hệ khăng khít, hỗ trợ cho nhau. Nghĩ việc nước để phục vụ việc dân, vì Nhà nước ta sinh ra để phục vụ nhân dân, vì nhân dân.Việc nước, theo tôi, để thực hiện chính quyền mạnh mẽ sáng suốt của nhân dân.

Bốn là, là đại biểu Quốc hội phải biết nói, dám nói. Theo tôi, biết nói là đưa ra những lý lẽ để tranh luận, để phân biệt, phải, trái với những chủ đề, những chức năng nhiệm vụ của mình, chứng minh làm cho sáng tỏ những vấn đề có sức thuyết phục cao.

Dám nói: Có đủ tự tin để nói ra điều đó, dù có thể gặp phải rất nhiều khó khăn để chứng minh việc đó là sự thật. Ở Quốc hội ta trong thời gian qua vì nhiều lý do nhiều người chưa dám nói. Đây là một yếu tố tâm lý, là bản lĩnh của mỗi đại biểu Quốc hội, vì biết nói và dám nói là một đặc điểm cơ bản của đại biểu Quốc hội. Như trên tôi đã trình bày, Quốc hội ra đời là để bàn cãi. Mục đích của biết nói, dám nói là để đoàn kết, là vì lợi ích của đất nước, của dân tộc; để nâng cao trình độ, tính tranh luận mà đại biểu Quốc hội, qua đó tìm ra cái mới, tìm ra chân lý của sự vật, hiện tượng cần tìm, như vậy, mới sử dụng được sự vật đó hiệu quả cao nhất.

Biết nói và dám nói trước diễn đàn Quốc hội – cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước – qua đó là nguồn lực mạnh nhất để những gì xấu xa, bóng tối đang ẩn khuất ở bộ máy Nhà nước, ở các tổ chức xã hội khác, ở lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẽ bị lôi ra ánh sáng và bị pháp luật trừng trị; biết nói và dám nói của đại biểu Quốc hội là lực cản lớn nhất để ngăn chặn những mầm nụ của tội ác, của tham nhũng… Vì, ngôn từ là một khía cạnh hoạt động cơ bản của đại biểu Quốc hội.

Thứ năm, Đại biểu Quốc hội trong điều kiện hiện nay cần phải xác định đó là một nghề.

Nghề của đại biểu Quốc hội là gì ? Theo tôi, đây là một đề tài lớn cần phải nghiên cứu. Cá nhân tôi có thể tạm đưa ra nghề của đại biểu Quốc hội như sau: đi họp, bàn cãi, chất vấn, suy nghĩ việc nước, việc dân, giơ tay biểu quyết… để quyết định làm Hiến pháp, làm luật; Quyết định những vấn đề cơ bản của đất nước.

Một nghề rất là cao quý rất nặng nhọc và không phải ai cũng làm được. Nhưng từ trước đất nước ta chưa có một trường lớp nào đào tạo nghề làm đại biểu Quốc hội. Đa số những người làm đại biểu Quốc hội cũng chưa ai tự học, tìm hiểu để vào đại biểu Quốc hội.

Để xác định là một nghề phải thạo việc, biết việc, tinh thông nghề đó, có như vậy mới biết được cái sai, cái đúng của việc mình phải làm. Nghề chính của Quốc hội là làm luật. Muốn có một đạo luật tốt trong thời kỳ hiện đại ngày nay là do chính Quốc hội, vì Quốc hội đã được nhân dân ủy quyền rồi. Bản thân Quốc hội lại do những con người đại biểu Quốc hội hợp thành. Những con người thông minh, có đức, có tài. Sự tài giỏi, thông minh của đại biểu Quốc hội cần phải được thể hiện nhiều lĩnh vực, song theo tôi, khả năng phán đoán là biểu hiện cao nhất. Vì, phán đoán là cái tương lai, cái chưa có trong hiện thực. C.Mác viết: “Luật pháp mang tính chất phổ biến. Trường hợp cần phải xác định trên cơ sở luật pháp, thì có tính chất đơn nhất. Muốn quy cái đơn nhất vào cái phổ biến, cần phải có sự phán đoán”1.

Vì thế, các đại biểu Quốc hội cần xác định nhiệm vụ của mình là rất quan trọng, rất vẻ vang, rất nặng nề, làm sao bản thân mình góp sức để mọi người trong xã hội mình được bình đẳng. Tôi xin trích dẫn câu nói của Mông-téc-xi-ki-ơ: “Mỗi dân tộc đều tìm ra lý do của các kỉ cương trong dân tộc mình. Và chỉ những người thông minh bẩm sinh, hiểu thấu Hiến pháp nước nhà mới kiến nghị được những điều thay đổi. Đó là lẽ tự nhiên”2.

Tôi tán thành với Mông-téc-xi-ki-ơ, muốn là đại biểu Quốc hội phải là người thông minh. Như vậy, trong điều kiện Việt Nam là thành viên của WTO, muốn trở thành đại biểu Quốc hội phải là người thông minh bẩm sinh.(!)

Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng, thông minh: “sáng trí, hiểu nhanh, tiếp thu nhanh, xử lý tốt có hiệu quả đối với các công việc”3.

Quốc hội Việt Nam hiện nay có 3 nhiệm vụ cơ bản, đó là làm Hiến pháp, làm luật; Quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước; giám sát tối cao. Người đại biểu Quốc hội, theo tôi phải thật sáng trí, tiếp thu nhanh mới xử lý 3 loại công việc đó có hiệu quả được. Bản thân đại biểu Quốc hội phải có khát vọng tự thân, tự mình thích công việc để có hiệu quả cao nhất.

Như vậy, thông minh song cũng phải học nghề, nghề làm luật theo tôi là nghề cao quý và rất khó, vì luật bắt tất cả mọi người phải tuân theo luật để mọi người được bình đẳng tương đối, luật là giới hạn của dân chủ, luật ra đời sẽ có người trong xã hội khó chịu… vì thế, nói như Rút-xô: “Con người trước khi làm ra luật đã phải là con người do luật đào tạo nên” 4.

Thứ sáu, mỗi đại biểu Quốc hội khi ứng cử vào Quốc hội cần đưa ra triết lý của mình.

Ở phần trên tôi đã trình bày đại biểu Quốc hội phải thông minh, sắc sảo. Phần này tôi yêu cầu thêm đại biểu Quốc hội phải có triết lý của mình, tức là nhà thông thái.(!)

Ví dụ, chuyện Tổng tuyển cử năm 1946 là một dấu son cho đất nước Việt Nam, một dấu ấn chính trị oai hùng đầy kiêu hãnh. Nhà thơ, nhà văn, nhà báo Xuân Diệu khi được hỏi: ông có định bỏ văn chương để làm chính trị không? Xuân Diệu trả lời: “Làm chính trị với tôi là một bổn phận cấp bách hiện nay. Trong lúc cứu quốc này, tất cả dân tộc ta đều là những chiến sĩ, từ chị gánh rau đến anh bán phở tất cả đều phải làm chính trị, đều phải tỏ cái ý muốn của mình bên vực cho một chính thể nào. Tôi ra ứng cử để mong bênh vực cho dân chúng, để phá những chủ trương lạc hậu, khi độc lập đã yên, quyền dân đã vững, tôi ao ước trở lại với văn chương. Vì không phải ai cũng có đủ mọi tài. Mình nên chuyên chú đến cái chuyên môn của mình thì mới phát huy được năng lực tốt nhất của mình. Bây giờ thì ý muốn thắm thiết nhất của tôi là chống lại những cái gì phản tiến bộ, phản dân tộc”.

Trả lời câu hỏi của phóng viên: “Ông quê ở Hà Tĩnh, có những lý do gì khiến ông ứng cử ở Hải Dương?” Thi sĩ cười, đáp “chung quanh vẫn nước non nhà…” (Báo Tiền phong số 137, ngày 17/5/2007).

Câu trả lời của nhà thơ Xuân Diệu đã lộ ra triết lý của ông: Làm chính trị là bổn phận cấp bách hiện nay, ai cũng phải làm chính trị trong lúc cứu quốc; làm để xóa bỏ cái lạc hậu, cái hủ lậu, cái mà ăn hiếp dân và Xuân Diệu coi ăn hiếp dân là khả ố nhất. Nhân dân phải tranh đấu, phải đau khổ hy sinh nhưng nhất định thắng lợi. Vậy đấy, là nhà thơ đã có lúc viết: là thi sĩ nghĩa là ru với gió; mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây, thế mà được cách mạng giác ngộ, được theo cách mạng, đã là nhà chính trị: đại biểu Quốc hội tranh đấu cho quyền lợi của nhân dân. Ông tin vào sự tiến hóa của lịch sử sẽ tiếp sức, sẽ đẩy bánh xe lịch sử đi lên, sẽ nghiền nát những gì vật cản.

Là đại biểu Quốc hội phải nhìn cả đất nước, nhìn ra nhân loại: ông quê Hà Tĩnh ứng cử Hải Dương là thế. Theo tôi, đó là một triết lý ứng xử tuyệt vời, rất nhân văn, rất hiệu quả và cũng rất chính trị.

Ông Vũ Đình Hòe, Bộ trưởng Bộ Giáo dục, ứng cử tại Hà Nội. Ông phát biểu: Tôi ra ứng cử ngoài chương trình chung còn có chương trình riêng gồm hai phần chính bao quát chống ngoại xâm, diệt nội phản, xây dựng nước Việt Nam mạnh và dân chủ. Về giáo dục: 1- Lập nhiều trường. 2- Tổ chức nền học thực nghiệp và chuyên nghiệp. 3- Mở rộng đại học, gửi sinh viên đi du học ngoại quốc. 4- Cấp học bổng cho học sinh nghèo, nâng cao đời sống giáo viên, 5- Khuyếch trương bình dân học vụ (Báo Tiền phong số 137, ngày 17/5/2007).

Triết lý ứng cử của Vũ Đình Hòe đã góp sức mình vào giải phóng dân tộc, bồi dưỡng sức dân về giáo dục. Những triết lý ứng cử của Vũ Đình Hòe tới hôm nay vẫn còn giá trị đó là: tổ chức nền học thực nghiệm và chuyên nghiệp. Đất nước ta đến hôm nay rất thiếu thợ bậc cao, nhiều học sinh, sinh viên ra trường song tính chuyên nghiệp còn thấp. Cấp học bổng cho sinh viên nghèo, nâng cao đời sống giáo viên. Một đất nước phát triển đến đâu cũng có người nghèo, gia đình nghèo, tất nhiên có sinh viên nghèo. Cũng là giáo viên song đa số đời sống nghèo, do con đông, do bệnh tật, do lương bổng thấp. Từ trước tới nay đời sống giáo viên thường thiếu thốn khó khăn, vì thế, triết lý của Vũ Đình Hòe nâng cao đời sống giáo viên sẽ còn sống mãi.

Theo tôi, triết lý ứng cử cần đề ra thành nguyên tắc cho mỗi công dân Việt Nam trước khi ra ứng cử đại biểu Quốc hội.

Thứ bảy, Đại biểu Quốc hội trong quá trình hoạt động không chỉ thể hiện được tính dân tộc mà còn thể hiện được tính nhân loại.

Ngay những ngày đầu của chính quyền cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Việt Nam là một bộ phận của thế giới”. Đây là yếu tố mới về dân tộc mà Bác đưa ra.

Vì thế, theo tôi, là một đại biểu Quốc hội cần trang bị cho mình lý luận nhận thức về dân tộc và phải bảo vệ những yếu tố của dân tộc mình. Bảo vệ bằng nhiều cách, đó là: dân tộc đó phải tự phấn đấu học tập, lao động để phát triển; học tập các nước khác, các dân tộc khác để phát triển; hội nhập với các dân tộc khác trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội.

Song, theo tôi, hội nhập nhưng dân tộc là bất biến. Có nghĩa là quá trình lao động, phát triển, thông qua các hình thức hội nhập dân tộc Việt Nam vẫn là Việt Nam. Đặt ở đâu, nhìn bất cứ góc độ nào cũng vẫn là dân tộc Việt Nam; đó là: một dân tộc giàu lòng nhân ái, vị tha, anh hùng bất khuất, thông minh, hiếu học, hăng say lao động. Song, các đại biểu Quốc hội thông qua những đóng góp của mình trong thời gian hoạt động: đóng góp vào xây dựng luật, vào chất vấn, vào nghị quyết của Quốc hội để hoạt động của Quốc hội Việt Nam có ảnh hưởng, là bài học cho hoạt động Quốc hội các nước Đông Nam Á, châu Á và thế giới.

Thứ tám, vấn đề Đảng viên trong tỷ lệ đại biểu Quốc hội.

Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì dân là xu hướng tất yếu, là bản chất nhà nước ta được ghi trong Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi 2001). Muốn xây dựng được nhà nước pháp quyền, theo nhà nghiên cứu luật cần 3 yếu tố: nền kinh tế thị trường, Hiến pháp, Bộ luật Dân sự.5 Hiện nay ở nước ta, 3 yếu tố đó đã đủ, là bước đi, tiền đề để Nhà nước ta, nhân dân ta hội tụ những yếu tố chủ quan và khách quan để xây dựng một Nhà nước pháp quyền. Theo lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về nhà nước và pháp luật, cái cốt lõi của Nhà nước pháp quyền là: Thượng tôn pháp luật. Trong hệ thống pháp luật, Hiến pháp là đạo luật cơ bản. Nghĩa là, những quy phạm quy luật trong Hiến pháp bắt buộc, định hướng cho mọi đạo luật, mọi hoạt động của Nhà nước, tổ chức xã hội.

Quốc hội là một cơ quan trong bộ máy của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, nhưng phải hoạt động phải trong khuôn khổ của Hiến pháp. Tại Điều 4 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi 2001) quy định: Đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Như vậy, Quốc hội chịu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Theo tôi, muốn lãnh đạo phải có lực lượng, lực lượng về trí tuệ, lực lượng về số lượng. Có nhiều ý kiến cho rằng số đại biểu Quốc hội là Đảng viên phải là 20% – 40%, Quốc hội hoạt động có nhiều hình thức, trong đó có hình thức bỏ phiếu. Theo Hiến pháp và luật để có những vấn đề của Quốc hội phải 50%, có những vấn đề quan trọng phải 2/3 đại biểu Quốc hội tán thành. Vì thế, số đại biểu ở một khóa Quốc hội là đảng viên, theo tôi, càng nhiều càng tốt, cái quan trọng là trí tuệ, đạo đức, những tiêu chí mà Đảng viên đó đạt được. Song, nhiều cũng có giới hạn, nhiều nhưng đồng biến Đảng và Quốc hội.

Một vấn đề nào đó được đưa ra lấy ý kiến biểu quyết, nều là 100% đồng ý chưa chắc vấn đề đó đã tốt. Nếu chỉ 50% thì rõ ràng là không tốt, vì các đại biểu Quốc hội tán thành theo truyền thống phải quá bán, hoặc có những nước quy định những vấn đề quan trọng của đất nước là 2/3 đại biểu Quốc hội tán thành. Nếu 100% đại biểu Quốc hội đồng ý 1 vấn đề gì đó, theo tôi, là không tốt, vì vấn đề đó chưa được phản biện; vấn đề đó về góc độ chính trị bị áp đặt; vấn đề đó tính dân chủ chưa rộng rãi.

Thứ chín, vấn đề các doanh nhân trong đại biểu Quốc hội.

Tôi đồng ý với ý kiến cho rằng doanh nhân là lực lượng chủ lực nhất trong sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước, sự nghiệp dân giàu nước mạnh hôm nay. Doanh nhân là những chủ doanh nghiệp, góp phần thực hiện để Việt Nam là thành viên tốt trong môi trường WTO. Nếu quan sát các kỳ Quốc hội chúng ta thấy số lượng các giám đốc là đại biểu Quốc hội còn ít, chỉ thấy là giám đốc doanh nghiệp nhà nước, còn doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn hạn chế.

Đặt một câu hỏi tỷ lệ bào nhiều % các giám đốc doanh nghiệp nói chung là vừa? Theo tôi, không nên đặt vấn đề này ra, vì, đại biểu Quốc hội là mang tính đại biểu, tính chuyên nghiệp. Chúng ta đã phê phán các quan chức hành chính và quản lý xã hội là đại biểu Quốc hội sẽ vừa đá bóng vừa thổi còi, sẽ hạn chế tính chuyên nghiệp của đại biểu Quốc hội; chúng ta đòi hỏi đại biểu Quốc hội tính chuyên nghiệp cao. Nếu bao nhiêu % của các doanh nghiệp là đại biểu Quốc hội cũng không khác gì các quan chức hành chính, công chức. Họ lo kinh doanh, sao lo làm được trách nhiệm của đại biểu Quốc hội. Vì thế, theo tôi, cái cơ bản của các giám đốc doanh nghiệp là kinh doanh, họ có thể nhóm họp và cử những đại diện của họ ứng cử vào đại biểu Quốc hội để bày tỏ nguyện vọng, vướng mắc của họ để Quốc hội xem xét và quyết định.

Thứ mười, vấn đề đại biểu Quốc hội chuyên nghiệp là bao nhiêu phần trăm là vừa.

Tiêu chí để khẳng định chuyên nghiệp của đại biểu Quốc hội phải dựa vào những chức năng của Quốc hội nước ta, từ đó chức năng lập pháp là cơ bản; tiếp theo là thời gian đại biểu Quốc hội đó dành cho hoạt động Quốc hội.

Dựa vào hai tiêu chí này cùng với những tiêu chí tôi vừa nêu trên của mỗi đại biểu Quốc hội, nếu được 100% đại biểu Quốc hội là chuyên nghiệp thì tốt quá, song đó là không tưởng. Vì, từ trước đến giờ trên thế giới không có Quốc hội nào là 100% cả. Nếu như vậy, tính cạnh tranh cũng giảm đi. Hiện nay ở nước ta khoảng 25%, theo tôi khóa sau – Quốc hội khóa XIII – phấn đấu có thêm 5% đại biểu Quốc hội chuyên nghiệp. Nhà nước ta cần có trường để đào tạo những người làm đại biểu Quốc hội chuyên nghiệp.

Thứ mười một, vấn đề Đại biểu Quốc hội trình dự án luật.

Trình dự án luật là một quyền, một nghĩa vụ của đại biểu Quốc hội, được quy định trong Luật Tổ chức Quốc hội 2001 (Điều 48). Đây là một vinh dự, trách nhiệm rất lớn của đại biểu Quốc hội. Phải chăng trách nhiệm lớn quá mà từ trước đến nay hầu như chưa có đại biểu Quốc hội nào trình dự án luật (trừ ông Huỳnh Ngọc Điển, đại biểu Quốc hội khóa VIII, đại biểu thành phố Hồ Chí Minh trình Dự án Luật Thuế sử dụng đất, tuy không được thông qua)?

Một câu hỏi đặt ra, quy định về trình dự án luật của đại biểu Quốc hội được quy định trong luật có nên để nữa không? Hay chúng ta bỏ quy định đó đi? Để mà các đại biểu Quốc hội không trình dự án luật, nghĩa là nhiệm vụ này các đại biểu Quốc hội không hoàn thành. Vậy nguyên nhân ở đâu ? Theo tôi:

Một là nguyên nhân ở Đại biểu Quốc hội. Do trình độ đại biểu Quốc hội ở nước ta. Một số vị đại biểu Quốc hội có trình độ luật nhưng lại giữ những chức vụ quan trọng trong Quốc hội, nên công việc quản lý, sự vụ chiếm hết thời gian. Trình dự án luật là một khoa học rất cao. Bản thân đại biểu Quốc hội phải có ý tưởng về một lĩnh vực nào đó, phải viết dự án, thuyết minh, chứng minh tính khả thi của nó, vì thế, nhìn vào số lượng đại biểu Quốc hội từ trước đến nay không phải ai cũng làm được điều này. Để trình được dự án luật đại biểu Quốc hội phải có trí tuệ cao, hiểu biết nhiều lĩnh vực xã hội và phải có chuyên môn luật cao.

Hai là, do cách làm luật của chúng ta. Từ trước đến nay hầu hết các luật đều do Chính phủ trình. Luật thuộc ngành nào lại do ngành đó trình dự án. Quốc hội chủ yếu làm ở giai đoạn thảo luận, thẩm định ban hành. Do cách làm như vậy, nên đại biểu Quốc hội ít có cơ hội trình dự án. Từ trước đến nay, Quốc hội cũng chưa khuyến khích, phát huy tạo điều kiện để đại biểu trình dự án luật.

Đảng và Nhà nước ta đã đặt ra mục tiêu tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì dân. Để hoàn thành mục tiêu này, có nhiều nhiệm vụ, trong đó có một nhiệm vụ phải hoàn thành hệ thống pháp luật tốt cả nội dung và hình thức, nhiệm vụ này cơ bản do Quốc hội đảm nhiệm. Quốc hội muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ này, từng đại biểu Quốc hội là những mắt xích quan trọng, chất lượng hợp thành một Quốc hội mạnh, Quốc hội có những đại biểu Quốc hội bàn cãi, chất vấn nhiều hơn, tính chuyên nghiệp của đại biểu Quốc hội cao hơn. Cần xác định đại biểu Quốc hội là một nghề cao quý, nặng nhọc, vất vả nhưng cũng vinh quang. Đó là nghề vì dân tộc mình. Vào Quốc hội là để cống hiến trí tuệ, tài năng. Sản phẩm của đại biểu Quốc hội, của Quốc hội, đó là những luật, Bộ luật có chất lượng tốt, quản lý xã hội hiệu quả, người dân dễ thực hiện, người dân có niềm tin vào luật do Quốc hội ban hành.

Chú thích:

(1) C. Mác, Ph. Ăng ghen, Toàn tập, Tập 1, Nxb. CTQG, H, 1995, tr.101

(2) Nxb. Giáo dục; Trường Đại học KHXH nhân văn, H, 1996, Khoa Luật, người dịch: Hoàng Thanh Đạm, tr.35

(3) Nguyễn Như Ý (chủ biên), Từ điển Tiếng Việt thông dụng, Nxb. Giáo dục, 1996, tr.1086

(4) Bàn về khế ước xã hội , Nxb. TP Hồ Chí Minh , 1992, tr.74

(5) TS. Đỗ Ngọc Hải, Hiến pháp năm 1946, Bản Hiến pháp đặt nền móng cho nền lập hiến Việt Nam, Nxb. CTQG, H, 2005, tr.17

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ

Trích dẫn từ: http://www.nclp.org.vn/ban_ve_du_an_luat/ve-tieu-chi-111ai-bieu-quoc-hoi-trong-111ieu-kien-viet-nam-la-thanh-vien-wto

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: