VAI TRÒ GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT CỦA TÒA HIẾN PHÁP

CAO VŨ MINH – Đại học Luật TPHCM

1. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giải thích pháp luật ở nước ta hiện nay.

Giải thích pháp luật chính là việc làm sáng rõ hơn về mặt tư tưởng, nội dung, mục đích, ý nghĩa của quy phạm pháp luật nhằm giúp mọi người hiểu và thực thi các quy định này một cách thống nhất và nghiêm chỉnh. Tuy nhiên, hiện nay giải thích pháp luật chưa được quan tâm đúng tầm với sự phát triển của nhà nước và pháp luật. Theo sách báo về lý luận nhà nước và pháp luật thì nội dung của pháp luật cần phải được thể hiện bằng ngôn ngữ pháp lý rõ ràng, một nghĩa, dễ đọc, dễ hiểu, nhưng trên thực tế tiêu chí này rất khó đạt được. Nhiều quy phạm pháp luật được ban hành ra hoặc là không rõ ràng hoặc là gây ra nhiều cách hiểu khác nhau. Điển hình như hai thuật ngữ “bãi bỏ” và “hủy bỏ”. Lâu nay vẫn có sự tranh luận sôi nổi xoay quanh hai thuật ngữ này. Có người cho rằng, hai thuật ngữ này là giống nhau vì trong nhiều văn bản pháp luật hay thậm chí cả Hiến pháp – đạo luật có giá trị pháp lý cao nhất cũng không có tiêu chí nào cho phép xác định sự khác biệt giữa hai thuật ngữ này (trong Hiến pháp quy định lúc thì áp dụng quyền “bãi bỏ”, lúc thì “huỷ bỏ” mà không hề đưa ra tiêu chí phân biệt). Cũng có quan điểm cho rằng, hai thuật ngữ này là khác nhau vì nếu giống nhau thì chỉ cần sử dụng một trong hai. Giới luật học thì cứ bàn, nhiều nhà nghiên cứu thì cứ cất công nghiên cứu vấn đề này1 còn những chủ thể có thẩm quyền giải thích pháp luật thì cứ để đó, tạo ra một câu hỏi không lời đáp.

Một ví dụ khác: Khoản 1 Điều 83 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 (Luật 2008) quy định:

– Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực.

– Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Trong trường hợp văn bản có hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó”.

Như vậy, với quy định này thì sẽ áp dụng văn bản pháp luật nào khi có một sự việc xảy vào ngày văn bản pháp luật cũ có hiệu lực nhưng khi giải quyết thì văn bản pháp luật cũ ấy được thay thế bằng văn bản pháp luật mới? Nếu nói là áp dụng văn bản pháp luật mới – văn bản đang có hiệu lực thì mâu thuẫn câu đầu tiên của khoản 1 Điều 83 Luật 2008. Nếu áp dụng văn bản pháp luật cũ đã hết hiệu lực thì lại mâu thuẫn với câu thứ hai của khoản 1 Điều 83 Luật 2008. Trong trường hợp này, có thể áp dụng quy định tại Điều 79 Luật 2008 về “hiệu lực trở về trước của văn bản pháp luật” hay không nếu như văn bản pháp luật mới quy định trách nhiệm pháp lý nặng hơn văn bản pháp luật cũ đã hết hiệu lực? Xem xét cả Điều 79, Điều 83 Luật 2008 vẫn không cho phép chúng ta đưa ra kết luận cuối cùng về vấn đề này2 vì rằng khoản 4 Điều 83 Luật 2008 chỉ quy định: “Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật mới quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra trước ngày văn bản có hiệu lực thì áp dụng văn bản mới”. Nhưng nếu trong trường hợp “văn bản quy phạm pháp luật mới quy định trách nhiệm pháp lý nặng hơn” thì áp dụng văn bản pháp luật cũ, trong khi Điều 79 Luật 2008 lại quy định: “Chỉ trong những trường hợp thật cần thiết, văn bản quy phạm pháp luật mới được quy định hiệu lực trở về trước” và câu cuối khoản 1 Điều 83 thì lại quy định: “Trong trường hợp văn bản có hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó”. “Những trường hợp thật cần thiết” là những trường hợp nào và văn bản nào là văn bản có quy định hiệu lực trở về trước? Đây đều là những quy định tùy nghi, khó có cách hiểu và áp dụng thống nhất nếu không được giải thích rõ ràng.

Khoản 1 Điều 9 Luật 2008 quy định: “Văn bản quy phạm pháp luật chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ hoặc bãi bỏ bằng văn bản quy phạm pháp luật của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó hoặc bị đình chỉ việc thi hành, huỷ bỏ hoặc bãi bỏ bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền” (trước đây, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 2002) cũng quy định ở khoản 1 Điều 9 với nội dung tương tự). Với điều luật này có thể hiểu rằng, văn bản được sửa đổi, bổ sung phải bằng chính văn bản của cơ quan đã ban hành ra văn bản đó hoặc cơ quan có thẩm quyền cao hơn, vì rằng không thể lấy văn bản có giá trị pháp lý thấp hơn để sửa đổi, bổ sung văn bản có giá trị pháp lý cao hơn, càng không thể lấy văn bản của cơ quan có thẩm quyền thấp hơn để sửa đổi, bổ sung văn bản của cơ quan có thẩm quyền cao hơn. Tuy nhiên một câu hỏi đặt ra là văn bản pháp luật mới sửa đổi, bổ sung văn bản pháp luật cũ có cần cùng loại với văn bản cũ hay không? Về lý luận thì chỉ có những văn bản cùng loại với nhau mới có thể thay thế cho nhau. Nếu theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 2002) (sau đây gọi là Luật 1996) thì không dễ trả lời vì theo Luật 1996 thì mỗi cơ quan nhà nước đều có quyền ban hành nhiều văn bản pháp luật với những tên gọi khác nhau3. Tuy Luật 1996 có những tiêu chí để phân biệt giữa các văn bản pháp luật của cùng một cơ quan ban hành nhưng nhìn chung các tiêu chí phân biệt này vẫn chưa thực sự rõ ràng. Đến Luật 2008 thì câu trả lời có phần dễ dàng hơn vì kể từ ngày 1/1/2009, một số cơ quan nhà nước và một số chức vụ trong cơ quan nhà nước chỉ được quyền ban hành một loại văn bản pháp luật (Chính phủ chỉ được quyền ban hành Nghị định, Thủ tướng Chính phủ được ban hành Quyết định, Bộ, cơ quan ngang Bộ chỉ được quyền ban hành Thông tư với tư cách là văn bản quy phạm pháp luật). Việc đơn giản hóa hệ thống văn bản pháp luật tuy giúp chúng ta dễ dàng hơn trong việc xác định câu trả lời, nhưng vẫn không thực sự chắc chắn.

Nhiều ý kiến cho rằng văn bản mới sửa đổi, bổ sung văn bản cũ nhất định phải cùng loại với văn bản cũ vì trên thực tế chúng ta vẫn thấy tồn tại công thức: “Nghị định này sửa đổi, bổ sung nghị định kia; Thông tư này thay thế cho thông tư kia”. Có những trường hợp văn bản mới sửa đổi, bổ sung thay thế văn bản cũ tuy không cùng cơ quan ban hành nhưng hiệu lực pháp lý của văn bản mới cao hơn văn bản cũ như Luật Luật sư thay thế Pháp lệnh Luật sư, Luật Cán bộ công chức thay thế Pháp lệnh Cán bộ công chức. Đây gọi là pháp điển hóa và tuân thủ theo đúng câu cuối cùng của khoản 1 Điều 9 Luật 2008. Nhưng nếu quan niệm như vậy thì sẽ không giải thích được một thực tế đã từng xảy ra đó là việc Nghị quyết số 51/2001/QH ngày 25/12/2001 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992. Như đã trình bày, thật khó chấp nhận được việc lấy văn bn có hiệu lực pháp lý thấp hơn để sửa đổi, bổ sung văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn. Với tư duy pháp lý ấy, không thể lấy Nghị quyết mà sửa đổi, bổ sung Hiến pháp – văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất. Bên cạnh đó, cả Luật 1996 và Luật 2008 quy định rất rõ trong những trường hợp nào thì Quốc hội được ban hành Nghị quyết, nhưng không thấy có quy định Quốc hội có quyền lấy nghị quyết để sửa đổi, bổ sung Hiến pháp. Có thể lý luận rằng, Quốc hội ban hành Nghị quyết trong trường hợp cần quyết định các vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội4, nhưng “vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội” là những vấn đề nào? Quy định tùy nghi như vậy vừa thể hiện sự bất lực trong quá trình lập pháp, vừa rất dễ tạo ra sự lạm quyền, tùy tiện. Nếu muốn hạn chế tình trạng tùy nghi này thì cần giải thích thế nào là “vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội” và như vậy lại quay về vấn đề giải thích pháp luật. Câu hỏi đặt ra là nên trao quyền giải thích pháp luật chính thức cho chủ thể nào, vì hiện nay có nhiều chủ thể có quyền giải thích pháp luật nhưng lại thực hiện quyền này không thực sự hiệu quả5.

2. Giải thích pháp luật của Tòa án Hiến pháp – một xu thế khách quan và đúng đắn

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đã khẳng định: “Xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền”6 và “xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp”7. Cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong văn kiện Đại hội X sẽ khác nhiều so với cơ chế giám sát Hiến pháp theo quy định pháp luật hiện hành ít nhất là về chủ thể thực hiện, thủ tục, hậu quả pháp lý… Với phương châm “văn kiện của Đảng là linh hồn của pháp luật” nên Nhà nước ta đang ra sức xây dựng một mô hình cơ quan tài phán Hiến pháp hoạt động thực sự hiệu quả. Xoay quanh vấn đề này, hiện nay ở nước ta có ba phương án khác nhau được đưa ra thảo luận: 1. Quốc hội thành lập Ủy ban giám sát hiến pháp trực thuộc Quốc hội; 2. Trao quyền bảo vệ Hiến pháp cho Tòa án nhân dân tối cao; và 3. Thành lập Tòa án Hiến pháp độc lập8. Tuy mỗi phương án đều có những ưu khuyết điểm khác nhau, nhưng chúng tôi tán thành phương án thành lập Tòa án Hiến pháp độc lập, bởi khi Tòa án Hiến pháp được thành lập và đi vào hoạt động sẽ đảm bảo tính khách quan, công bằng, độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, ít bị chi phối bởi những yếu tố khách quan và chủ quan.

Câu hỏi đặt ra là khi thành lập Tòa án Hiến pháp thì thẩm quyền của cơ quan này như thế nào. Có ý kiến cho rằng nên trao cho Tòa án Hiến pháp những thẩm quyền như sau: 1) Xem xét tính hợp hiến của văn bản pháp luật, 2) Giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền Hiến định giữa các cơ quan nhà nước, 3) Kiểm tra tính hợp hiến của các đạo luật, 4) Xác nhận kết quả bầu cử, kết quả trưng cầu ý dân, 5) Giải thích Hiến pháp, 6) Giải quyết tranh chấp về địa giới đơn vị hành chính giữa các tỉnh và 7) Các thẩm quyền khác liên quan đến tổ chức, hoạt động nội bộ9. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi bàn đến thẩm quyền thứ năm – tức thẩm quyền giải thích Hiến pháp của Tòa án Hiến pháp (TAHP)

TAHP được thành lập nhằm xem xét, kiểm tra tính hợp hiến của các văn bản pháp luật cũng như giải thích Hiến pháp. Đó là điều không cần bàn cãi, tuy nhiên nếu chỉ gói gọn thẩm quyền của TAHP trong phạm vi giải thích Hiến pháp thì những văn bản pháp luật khác (như Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Thông tư…) sẽ do chủ thể nào giải thích? Logic pháp lý thông thường cho thấy, một khi TAHP muốn xem xét tính hợp hiến của văn bản pháp luật, phán xét các vi phạm Hiến pháp thì TAHP phải có quyền giải thích pháp luật.

Về thực tiễn, chúng tôi cho rằng, hơn bất kỳ chủ thể nào khác, TAHP sẽ là cơ quan giải thích pháp luật tốt nhất, có sức thuyết phục nhất và vì lẽ công bằng nhất. Nếu trao quyền này cho các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước sẽ dẫn đến nhiều bất cập. Hiện nay thẩm quyền giải thích pháp luật được trao chính thức cho Uỷ ban thường vụ Quốc hội10 nhưng trên thực tế từ trước đến nay quyền này chỉ mới được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thực hiện 5 lần, một con số rất ít ỏi11. Có ý kiến cho rằng, nên trao quyền này cho Quốc hội12, nhưng sẽ không hợp lý vì hiện nay, Quốc hội chỉ họp “xuân thu nhị kỳ”, mỗi kỳ họp chỉ khoảng một tháng lại phải giải quyết rất nhiều công việc. Quốc hội lại làm việc không thường xuyên, nên cũng không thể đáp ứng được nhu cầu giải thích pháp luật trong những trường hợp khẩn cấp, bất thường. Việc trao quyền giải thích pháp luật cho các cơ quan hành chính nhà nước cũng sẽ gây ra nhiều bất cập. Lâu nay, tuy pháp luật không trao quyền giải thích pháp luật cho Chính phủ, các Bộ, Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp nhưng thực tế, các cơ quan này vẫn tiến hành giải thích pháp luật. Với công thức chung “Chính phủ quy định chi tiết”, các Bộ “hướng dẫn thi hành” thì tình trạng Quốc hội ban hành “luật khung, luật ống” rồi chờ Nghị định hướng dẫn, Nghị định lại chờ Thông tư nên dẫn đến tình trạng hiệu lực trên thực tế của văn bản pháp luật ở nước ta biểu hiện theo sơ đồ hình chóp ngược. Văn bản càng thấp lại có giá trị pháp lý càng cao – một thực tế phi lý. Mặt khác, nếu các cơ quan hành chính vừa có quyền hành pháp, vừa nắm trong tay quyền giải thích pháp luật thì sẽ rất nguy hiểm, dễ dẫn đến tình trạnh lạm quyền, vi phạm quyền công dân cũng như tùy tiện quy định thêm nghĩa vụ cho công dân. Có thể đơn cử một vài trường hợp như Thông tư số 02/2003/TT-BCA ngày 13/1/2003 của Bộ Công an quy định mỗi người chỉ được đăng ký một môtô, xe máy là trái với quyền cơ bản của công dân quy định tại Điều 58 Hiến pháp năm 1992; Quyết định số 33/2008/QĐ-BYT của Bộ Y tế ngày 30/09/2008 về việc ban hành Tiêu chuẩn sức khoẻ người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ lại tự tiện quy định thêm nghĩa vụ của công dân (theo đó, những người không đủ chiều cao tối thiểu 1m45, không đủ cân nặng tối thiểu 40kg sẽ vĩnh viễn không được quyền điều khiển xe máy. Tương tự, đối với người lái ôtô chiều cao tối thiểu phải từ 1,50m trở lên; với nhóm lái xe chuyên nghiệp, những người đã có bằng lái cần khám tuyển lại yêu cầu chiều cao 1,60m trở lên, với những người tuyển mới tối thiểu phải đạt 1,62m. Đối với người khuyết tật, quy định này cũng yêu cầu họ phải đáp ứng các điều kiện như trên mới được tham gia điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ. Như vậy, quyết định này sẽ tác động rất mạnh tới những người kém may mắn, bằng cách lấy đi những phương tiện đang giải phóng họ khỏi sự thiệt thòi về thể lực); rồi Quyết định số 51/2009/QĐ-UBND do UBND thành phố Hà Nội ban hành cấm việc người dân vận chuyển gia súc, gia cầm bằng xe gắn máy, xe thô sơ. Cục kiểm tra văn bản Bộ Tư pháp đã cho rằng, quyết định trên là không có căn cứ, biểu hiện của hành vi “ngăn sông, cấm chợ”. Hay mới đây là việc UBND thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 64/2009/QĐ-UBND ngày 31/7/2009 phê duyệt quy hoạch kinh doanh nông sản, thực phẩm trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, tại khoản 2, Điều 1 của Quyết định quy định rõ hoạt động kinh doanh bán lẻ nông sản thực phẩm như: rau, củ, quả, thịt gia súc, gia cầm (tươi hoặc đông lạnh, sơ chế), thủy sản như cá, tôm, cua, mực (tươi hoặc đông lạnh)… chỉ được phép diễn ra trong phạm vi các chợ, siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng văn minh tiện lợi. Trong khi đó, khái niệm và tiêu chí đối với “cửa hàng văn minh tiện lợi” chưa được quy định trong bất kỳ văn bản pháp luật hiện hành nào. Việc đưa ra một khái niệm như vậy và cũng không được giải thích trong Quyết định số 64 sẽ dẫn đến tình trạng không thống nhất trong cách hiểu, dẫn đến việc thực hiện khó khăn, không đồng bộ, gây ảnh hưởng đến quyền tự do kinh doanh của các chủ thể đã được Hiến pháp và các pháp luật có liên quan quy định13…

Trên đây là một vài ví dụ tiêu biểu cho quyền “giải thích pháp luật” của các cơ quan hành chính nhà nước.

Đã có ý kiến cho rằng, nên trao quyền giải thích pháp luật cho Tòa án14. Đây cũng là một ý kiến cần được quan tâm. Nhưng theo chúng tôi, không nên trao quyền giải thích pháp luật cho tòa án thường, vì nhiều lý do. Pháp luật hiện hành quy định “khi xét xử, thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”15. Với cơ chế hiện nay, khi mà cơ cấu tổ chức, hoạt động hàng ngày tòa án chưa độc lập thì rất khó có thể độc lập “khi xét xử” được. Bên cạnh đó, sự can thiệp quá sâu của các cấp ủy cũng như quy trình bổ nhiệm thẩm phán như hiện nay cũng là một trong những nguyên nhân khiến Tòa án không thể độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Hiến pháp và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân quy định: “Thẩm phán các Tòa án nhân dân địa phương, Tòa án quân sự quân khu và tương đương, tòa án quân sự khu vực do Chánh án tòa án nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của các Hội đồng tuyển chọn thẩm phán”, đến lượt mình Pháp lệnh Thẩm phán và hội thẩm nhân dân lại quy định: “Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện gồm có Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp tỉnh làm Chủ tịch, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, đại diện lãnh đạo Ban Tổ chức chính quyền (nay là Sở Nội vụ) – là cơ quan chuyên môn thuộc UBND”. Với Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán như vậy, thì không thể độc lập trong suy nghĩ chứ chưa nói đến chuyện độc lập khi xét xử.

Điều 12 Hiến pháp hiện hành quy định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”. Pháp chế đó là sự tuân thủ một cách tuyệt đối các đạo luật, là sự chấp hành pháp luật một cách nghiêm minh, bình đẳng và thống nhất bởi tất cả các cơ quan, tổ chức và cá nhân. Nguyên tắc này đòi hỏi tiền đề là phải có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh . Hệ thống pháp luật hoàn chỉnh thì về hình thức phải chặt chẽ, về nội dung phải hợp lý và hợp pháp, đảm bảo tính khả thi và đồng bộ. Tuy nhiên, không phải lúc nào ý chí của nhà làm luật cũng được hiểu đủ và hiểu đúng. Chính vì vậy, giải thích pháp luật ra đời như một tất yếu, khách quan. Việc trao quyền này cho TAHP sẽ đảm bảo tính đúng đắn, công bằng cũng như hạn chế những vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân để từ đó, tạo lập trật tự an toàn xã hội, góp phần ổn định tình hình đất nước, tiến tới xây dựng thành công một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng một nhà nước thực sự của dân, do dân và vì dân với mục tiêu hàng đầu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

Chú thích:

(1) Xem thêm TS. Hoàng Thị Ngân, Văn bản quy phạm pháp luật: huỷ bỏ hoặc bãi bỏ, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 6, tr. 44; PGS,TS. Nguyễn Cửu Việt, Các yếu tố cấu thành thẩm quyền và tính hệ thống của thẩm quyền, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 9, 2005, tr.8

(2) Điều 79 Luật 2008: Hiệu lực trở về trước của văn bản quy phạm pháp luật.

1. Chỉ trong những trường hợp thật cần thiết, văn bản quy phạm pháp luật mới được quy định hiệu lực trở về trước.

2. Không được quy định hiệu lực trở về trước đối với các trường hợp sau đây:

a) Quy định trách nhiệm pháp lý mới đối với hành vi mà vào thời điểm thực hiện hành vi đó pháp luật không quy định trách nhiệm pháp lý;

b) Quy định trách nhiệm pháp lý nặng hơn.

Điều 83 Luật 2008: Áp dụng văn bản quy phạm pháp luật

1. Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực.
Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Trong trường hợp văn bản có hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó.

2. Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn.

3. Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành mà có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản được ban hành sau.

4. Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra trước ngày văn bản có hiệu lực thì áp dụng văn bản mới.

(3) Điều 1 Luật 1996.

(4) Khoản 3 điều 11 Luật 2008 quy định: “Nghị quyết của Quốc hội được ban hành để quyết định nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội; dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương; điều chỉnh ngân sách nhà nước; phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước; quy định chế độ làm việc của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội; phê chuẩn điều ước quốc tế và quyết định các vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội; Khoản 2 điều 20 Luật 1996 quy định: “Nghị quyết của Quốc hội được ban hành để quyết định kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, chính sách dân tộc, tôn giáo, đối ngoại, quốc phòng, an ninh, dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách nhà nước, điều chỉnh ngân sách nhà nước, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước, phê chuẩn điều ước quốc tế, quyết định chế độ làm việc của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội và quyết định các vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội”.

(5) Chúng tôi đồng ý với ý kiến của PGS,TS. Nguyễn Cửu Việt khi cho rằng ngoài chủ thể chính thức được trao quyền giải thích pháp luật là Ủy ban thường vụ Quốc hội thì Chính phủ, các Bộ…vẫn tiến hành giải thích chính thức nhưng dưới “vỏ bọc” là “quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành”.

6) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội, 2006, tr.126.

(7) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội; 2006, tr.127.

(8) Xem thêm PGS,TS. Trương Đắc Linh, Cơ chế giám sát hiến pháp theo các Hiến pháp Việt Nam và vấn đề xây dựng tài phán hiến pháp ở nước ta hiện nay, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế về bảo hiến.

(9) Xem thêm PGS,TS. Trương Đắc Linh. Tlđd

(10) Khoản 3 Điều 91 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định: Uỷ ban thường vụ Quốc hội giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh”.

(11) PGS,TS. Nguyễn Cửu Việt, Vài nét về khái niệm giải thích pháp luật, quy định về giải thích pháp luật và thực tiễn giải thích pháp luật ở Việt Nam, trong Giải thích pháp luật, một số vấn đề về lý luận và thực tiễn, NXB Hồng Đức, 2009, tr.152.

(12) Xem thêm PGS,TS. Nguyễn Cửu Việt,Tlđd tr.150.

(13) Tuổitrẻ online, Quyết định số 64 về kinh doanh thực phẩm của UBND TP.HCM: Bị bắt giò, thứ năm, ngày 3/9/2009.

(14) Xem thêm Võ Trí Hảo, Vai trò giải thích pháp luật của Tòa án, Tạp chí Khoa học pháp lý.

(15) Điều 130 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Điều 16 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ

Trích dẫn từ:

http://www.nclp.org.vn/nha_nuoc_va_phap_luat/phap-luat/to-chuc-bo-may-nha-nuoc/vai-tro-giai-thich-phap-luat-cua-toa-an-hien-phap

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: