Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

VÌ SAO TÒA ÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH CÒN ÁN QUÁ HẠN?

THANH TÙNG – HỒNG TÚ

“Xếp xó” hồ sơ khi gặp án khó, trả hồ sơ tới lui vì “nhát tay”… Không chỉ làm cơ quan tố tụng đau đầu, án quá hạn còn làm người dân mệt mỏi, khổ sở vì phải chờ đợi và không biết đến bao giờ quyền lợi của mình mới được giải quyết dứt điểm. Vì sao lại có thực trạng này?

I. Vẫn trình độ non và nhát tay

“Quyết” kéo rê chứ không xử

Cuối năm 2007, bà H. kiện ra TAND quận 12 (TP.HCM) đòi khoản nợ 1,2 tỉ đồng mà bên mua nhà còn thiếu. Được phân công giải quyết, thẩm phán nhiều lần hòa giải nhưng bị đơn chỉ một lần đến dự, lại không chịu ký vào biên bản.

Năm 2008, tòa mở phiên xử nhưng phải hoãn vì bị đơn vắng mặt. Sau đó, thẩm phán lại… tổ chức hòa giải. Dù bị đơn luôn vắng mặt nhưng thẩm phán vẫn “kiên trì” hòa giải trong khi theo luật, tòa hoàn toàn có quyền xử vắng mặt bị đơn nếu sau hai lần triệu tập hợp lệ mà bị đơn không đến.

Chịu hết siết, bà H. đã yêu cầu chánh án TAND quận 12 thay đổi thẩm phán vì cho rằng vị này không khách quan, cố tình kéo rê án có lợi cho phía bị đơn. Tháng 5-2009, chánh án TAND quận 12 đã ra quyết định không cho thẩm phán trên tiếp tục giải quyết vụ kiện. Đến nay, vụ kiện của bà H. cũng chưa được vị thẩm phán mới giải quyết xong.

Bắt dân chờ đến bao giờ?

Trường hợp của ông C. còn khổ sở hơn nhiều. Cuối năm 2002, ông khởi kiện người hàng xóm bít lối đi vào đất của mình và được TAND quận 12 thụ lý. Một tháng sau, tòa triệu tập các bên đương sự đến làm việc. Rồi bẵng đi hai năm, đến cuối năm 2004, tòa mới gọi ông C. đến bảo cung cấp chứng cứ. Xong, tòa lại nói ông về, chờ cơ quan chức năng đo vẽ, định giá đất.

Cuối năm 2007, tòa tổ chức hòa giải nhưng không thành. Thẩm phán dặn ông C.: “Về chờ tòa lên lịch xử”. Ông C. chờ mãi, đến tháng 8-2008 tòa cũng đưa vụ kiện ra xử nhưng lại hoãn vì quên đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào vụ án… Từ đó đến nay, tòa… “án binh bất động” dù ông C. không ngừng yêu cầu được xét xử. “Tôi không biết còn phải chờ đến bao giờ nữa, lối vào nhà bị bít, không thể cứ trèo tường mãi” – ông chua xót.

Chưa tròn trách nhiệm

Trên đây chỉ là hai trong số hàng trăm vụ án đang quá hạn từ năm này sang năm khác tại TP.HCM. Nếu đối chiếu với Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành (tòa phải giải quyết trong bốn tháng, vụ phức tạp là sáu tháng) thì có thể thấy đã có sự vi phạm rất lớn về thời gian.

Nguyên nhân đầu tiên dẫn đến án quá hạn đã được chính ngành tòa án TP.HCM nhìn nhận trong buổi làm việc với Ban Pháp chế HĐND TP cuối tháng 11-2009 vừa qua: Một số thẩm phán trình độ còn non nên chưa thực sự tích cực nghiên cứu, chủ động giải quyết án, ngại đụng chạm đến những vụ án khó, phức tạp. Một số khác thì lại quá cầu toàn hoặc “nhát tay” trong quá trình giải quyết vì sợ án của mình bị cấp phúc thẩm hủy, sửa, ảnh hưởng đến việc tái bổ nhiệm thẩm phán sau này.

Điều đáng nói là bốn năm trước, nguyên nhân này cũng đã được ngành tòa án TP “chỉ mặt đặt tên”. Như vậy cho đến nay, chuyện thẩm phán ngại án khó, án phức tạp thực tế vẫn còn đang tồn tại.

Luật sư Trương Xuân Tám (Đoàn Luật sư tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, Ủy viên Hội đồng Luật sư toàn quốc) nhận xét sự thiếu trách nhiệm, ngại án khó, sự chủ quan, tắc trách của người giải quyết án đã khiến các đương sự phải chịu thiệt thòi. Đó là chưa kể nhận thức về pháp luật và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ giữa các thẩm phán vẫn còn chưa đồng đều, nhất là trong lĩnh vực dân sự, dẫn đến chuyện có các quan điểm vận dụng khác nhau giữa tòa cấp trên và tòa cấp dưới.

“Cũng không loại trừ trường hợp thẩm phán đã cố tình làm khó, kéo rê việc giải quyết án để vòi vĩnh đương sự” – luật sư Cao Minh Triết (Đoàn Luật sư tỉnh Tiền Giang) thẳng thắn đặt vấn đề. Theo luật sư Triết, đúng là có rất nhiều lý do cả chủ quan lẫn khách quan làm án bị quá hạn nhưng trách nhiệm của thẩm phán với vụ án vẫn là lý do quan trọng nhất.

Khắc phục từng bước

Nhìn nhận về án quá hạn, lãnh đạo TAND TP cho biết ngoài nguyên nhân thẩm phán chưa làm hết trách nhiệm, còn có nhiều nguyên nhân khách quan khác có tính hệ thống: Lượng án tòa thụ lý ngày càng tăng (năm 2009 TAND TP thụ lý đến hơn 45.000 vụ) mà nhân sự vẫn thiếu; các cơ quan liên quan (giám định, định giá, ủy thác tư pháp) chậm phối hợp với tòa; các bên đương sự cố tình không hợp tác…

Theo TAND TP, để khắc phục những nguyên nhân mang tính hệ thống này không phải là chuyện một sớm một chiều mà phải cố gắng từng bước.

Thưởng nóng

Ở Bình Dương, ngoài việc động viên tinh thần anh em, tôi đã áp dụng hình thức thực tế là thưởng tiền nóng. Thẩm phán nào giải quyết số lượng án bao nhiêu thì có mốc tiền thưởng tương ứng bấy nhiêu. “Chữa bệnh” bằng cách này vừa kích thích thẩm phán vừa tạo được không khí thi đua vui vẻ. Tất nhiên, các biện pháp chế tài với những thẩm phán cố tình trễ nải vẫn được tôi siết chặt.

Thẩm phán Nguyễn Thanh Tùng,
Chánh án TAND tỉnh Bình Dương

Ấn định thời hạn

Thời hạn xét xử hẹp, việc tống đạt giấy tờ, quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan trong luật dân sự đang có quá nhiều rối rắm và chồng chéo dẫn đến thực tế có khi thẩm phán không nhớ nổi thì làm sao xử tốt? Vì vậy, chúng ta nên bỏ hết các quy định nhỏ nhặt, đồng thời nới rộng thời hạn phải giải quyết án, chẳng hạn án bình thường tăng lên sáu tháng, án phức tạp có thể cho một năm.

Tuy nhiên, khi đó cũng phải quy định bất kể lý do gì thì thẩm phán cũng phải xử xong trong thời hạn được giao. Thẩm phán phải chủ động tính toán cũng như yêu cầu các đương sự hợp tác để giải quyết án trong khoảng thời gian này.

Bên cạnh đó, có trục trặc gì thì thẩm phán phải báo ngay để tòa tìm cách gỡ chứ không thể “im im” rồi “ngâm” án nhiều tháng trời.

TS. Chu Hải Thanh, Phó Giám đốc Học viện Tư pháp

Chế tài

Người ta hay nói về giáo dục tư tưởng cho thẩm phán nhưng đó chỉ là lý thuyết bởi thực tế các biện pháp vận động, kêu gọi làm việc có trách nhiệm đều chưa phát huy tốt tác dụng.

Vậy “trị bệnh” bằng cách nào? Theo tôi phải có những chế tài thật nặng nếu thẩm phán để án quá hạn, không chỉ là chuyện bình xét thi đua. Thậm chí nếu thẩm phán tòa nào để án quá hạn thì chánh án tòa đó cũng phải liên đới chịu trách nhiệm. Kèm theo đó cũng phải có biện pháp “kích cầu” như tăng lương, tăng người (nếu tòa nào có số lượng án cao) để họ không bị quá tải.

THS. Nguyễn Xuân Quang,
giảng viên Trường Đại học Luật TP.HCM

Chủ động báo cáo

Khi được phân án, thẩm phán phải cố gắng giải quyết dứt điểm. Trường hợp án khó, phức tạp hoặc chậm trễ vì những lý do khách quan như phải chờ sự phối hợp của các cơ quan khác… thì thẩm phán phải chủ động báo cáo lãnh đạo để tìm ra hướng gỡ vướng.

LS. Cao Minh Triết – Đoàn Luật sư tỉnh Tiền Giang 

II. Ðương sự dùng… “chiêu”

Không chỉ bởi thẩm phán thiếu trách nhiệm, “xếp xó” hồ sơ khi gặp án khó hay “nhát tay” trả hồ sơ tới lui, một nguyên nhân phổ biến khác dẫn đến án quá hạn là do sự bất hợp tác của các đương sự, chủ yếu là phía bị đơn…

Pháp luật đã có quy định tòa được quyền xử vắng mặt nếu triệu tập hợp lệ hai lần mà bị đơn không đến. Tuy nhiên, thực tế không phải lúc nào mọi chuyện cũng suôn sẻ như vậy. Có những vụ việc tòa đã phải bó tay vì các “chiêu” trì hoãn án của đương sự…

Thay nhau “trốn” tòa

Trước đây TAND TP thụ lý một vụ đòi nợ khá hi hữu giữa bà K. và ông C. Vụ án ban đầu tưởng đơn giản khi bà K. trưng ra tòa tờ giấy vay nợ của ông C., đồng thời được nhiều nhân chứng xác nhận là sự thật đúng như lời bà K. trình bày.

Biết vậy, ông C. đã trì hoãn bằng cách cố tình vắng mặt khi tòa triệu tập đến làm việc, hoặc chỉ cho người đến nghe ngóng tình hình. Sau đó, dù đã ký biên bản hòa giải thành nhưng ông lại đổi ý. Ông bắt đầu phản công, nộp cho tòa nhiều chứng cứ mới liên quan tới nhiều cơ quan, tổ chức khác. Lúc này, đến lượt bà K. chùng lại. Tòa mời thì bà không đến. Ông C. tuyên bố đang giữ nhiều bằng chứng khác và “sẽ chỉ tung ra khi nào bên kia tung ra trước”. Rồi hai bên cứ nắn gân cù cưa nhau mãi khiến việc giải quyết án kéo dài đến gần ba năm!

Một “chiêu” khác của các đương sự là thay nhau xin hoãn xử, hoặc cố tình cung cấp chứng cứ theo kiểu nhỏ giọt để kéo dài thời gian khi thấy bất lợi. Một thẩm phán ở TAND TP kể ông đang giải quyết một vụ án đòi tài sản mà phía bị đơn có tới tám người. Vụ này nguyên đơn cung cấp chứng cứ khá đầy đủ và phần lý nghiêng về bên họ nên khả năng thắng kiện rất cao nhưng ngay từ quá trình thu thập chứng cứ và hòa giải, tòa đã phát mệt vì các bị đơn thay nhau vắng mặt.

Mãi đến gần đây (sau hơn hai năm thụ lý), vụ án mới tiến đến được giai đoạn lên lịch xử. Lúc này tòa còn thấy mệt hơn bởi cứ trước ngày xử vài hôm lại nhận được đơn xin hoãn xử của một bị đơn (theo quy định mỗi đương sự được quyền xin hoãn xử hai lần). Họ cứ lần lượt thay nhau nghĩ ra đủ mọi lý do để xin hoãn, có người còn làm đơn có xác nhận của bệnh viện xin hoãn vài tháng vì bệnh tật, sinh nở. Tòa thụ động trong kế hoạch, thẩm phán và nguyên đơn đều bị ức chế. Đến nay, vụ tranh chấp vẫn chưa thể giải quyết xong.

Luật còn “hở”, thẩm phán chưa quyết đoán

Pháp luật dân sự quy định các bên có quyền và nghĩa vụ cung cấp, bổ sung tài liệu, nhân chứng… trong quá trình giải quyết án nhưng lại không quy định thời hạn “khóa sổ”. Mặt khác, các bên đương sự có nghĩa vụ đến tòa theo giấy triệu tập của tòa nhưng chế tài quá “mềm” (chỉ phạt 50.000 đồng) nên nhiều người chẳng ngán. Nhiều đương sự đến đôi lần rồi “lặn” luôn sau khi được ai đó tư vấn “cứ ở nhà đi, án càng kéo dài càng lợi”. Kết quả là án đã quá hạn lại càng quá hạn hơn!

Ở một góc nhìn khác, một kiểm sát viên cao cấp VKSND Tối cao cho rằng sở dĩ các đương sự “làm mưa làm gió” được là do tòa chưa vận dụng các thủ tục rút gọn, thẩm phán chưa quyết đoán khi xử án. Tranh chấp dân sự là chuyện của các đương sự, họ có quyền tự định đoạt nhưng thẩm phán lại chưa thấm nhuần thói quen xử theo chứng cứ. Khi bị đơn không có đủ lý lẽ, thay vì xử ngay, tòa lại sợ họ bị “oan” nên tự đi điều tra, xác minh thêm, mất nhiều thời gian.

Nhiều chuyên gia cho rằng thủ tục hòa giải áp dụng một cách cứng nhắc là bắt buộc phải hai lần cũng tạo điều kiện cho các đương sự kéo dài thời gian bởi rất nhiều vụ án các bên không thể và không cần hòa giải. Thay vào đó, nên chăng chỉ xem hòa giải là một thủ tục tự nguyện của đương sự. Nếu các bên đương sự yêu cầu thì tòa tiến hành, không thì thôi.

Bỏ đi khỏi nơi cư trú

TAND TP đang thụ lý một vụ kiện đòi nhà giữa bà L. và bà B. (em gái) kéo dài hơn 10 năm nay chưa xong.

Đầu tiên, bà B. kiện con bà L. đòi lấy lại nhà đang cho ở nhờ vì đã bán cho người khác. Năm 1995, TAND quận 10 và TAND TP đều tuyên bà B. thắng nhưng cả hai bản án sơ, phúc thẩm đã bị Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM hủy án.

Đầu năm 1998, TAND TP thụ lý lại vụ kiện, triệu tập bà B. đến. Thấy chiều hướng có vẻ bất lợi, bà B. bèn “bỏ đi khỏi nơi cư trú” khiến tòa phải tạm đình chỉ vụ án vì không biết bà ở đâu. Trong lúc này, người mua nhà của bà B. cũng nhanh tay “gả” tiếp căn nhà cho người khác dù tòa đang áp dụng biện pháp ngăn chặn.

Mấy năm sau, tòa xác định phía mẹ con bà L. được quyền kiện ngược bà B. Trong đơn khởi kiện mới nhất hồi tháng 6-2009, bà L. phải đưa cả những người mua căn nhà của bà B. vào với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Khắt khe hơn với đương sự

Ở TAND huyện Phước Long, nếu gặp phải những đương sự “ba gai”, tôi thường áp dụng biện pháp mạnh: tòa lập biên bản giao hẹn dứt khoát rằng trong một tháng tới nếu không nộp đủ chứng cứ cho tòa thì coi như họ từ chối quyền lợi của mình. Vì đã cam kết với tòa nên khi đưa ra xử vắng mặt hoặc đình chỉ vụ án thì đương sự không có quyền khiếu nại nữa. Ngoài ra, để quá trình giải quyết án nhanh gọn, luật nên quy định các cơ quan bổ trợ tư pháp như hội luật gia nên nhập cuộc giúp đương sự. Khi ấy đương sự có thể ủy quyền cho họ để tham gia tố tụng vừa nhanh vừa hiệu quả.

Thẩm phán Nguyễn Thị Hồng,
Phó Chánh án TAND huyện Phước Long (Bình Phước)

Ủy quyền cho luật sư

Phải quy định như ở các nước ngoài là tất cả loại án dân sự thì đương sự bắt buộc phải có luật sư tham gia hết. Sau đó họ phải ủy quyền hết cho luật sư những ý kiến của mình để đại diện theo pháp luật cho mình tại tòa, khi tòa tống đạt giấy tờ, triệu tập hoặc mở phiên xử thì luật sư phải có mặt theo luật định. Làm như vậy vừa gọn quy định, vừa rút ngắn được tố tụng và hết đất cho đương sự “dùng chiêu” với tòa.

TS. Chu Hải Thanh, Phó Giám đốc Học viện Tư pháp

Giới hạn lại việc xét xử

Quy định về việc đương sự cung cấp chứng cứ, việc được xin hoãn tòa hai lần như hiện nay là quá dễ dãi cả về nội dung cũng như thời gian. Ngoài ra, nên giới hạn lại những loại án nào tòa xét xử và loại nào được quyền kháng cáo chứ không nên chuyện gì cũng lôi nhau ra tòa được. Mình thể hiện tính dân chủ nhưng phải theo khuôn khổ nhất định.

Thẩm phán Nguyễn Thanh Tùng,
Chánh án TAND tỉnh Bình Dương

Định thời hạn cung cấp chứng cứ

Các bên đương sự có nghĩa vụ phải cung cấp tất cả chứng cứ liên quan cho tòa trong thời hạn nhất định. Nếu các bên cố tình ém nhẹm hay chỉ tung ra tại tòa hoặc tại phiên phúc thẩm thì chứng cứ này dứt khoát cần phải bị tòa bác bỏ.

Một kiểm sát viên cao cấp VKSND Tối cao

Rút gọn việc tống đạt, triệu tập

Nên áp dụng chế độ thừa phát lại trong việc tống đạt, triệu tập đương sự vì hiện nay quá phức tạp. Hoặc nên quy định tòa án gửi cho công an phường đi tống đạt, nếu đương sự không có nhà thì dán giấy ở cửa là coi như hợp lệ. Hoặc cho đương sự lựa chọn trọng tài kinh tế hay tòa án trong các tranh chấp của mình vì các tranh chấp về hợp đồng thuê nhà, đất… có thể do trọng tài phán quyết, đâu nhất thiết cứ phải tòa dân sự phân xử. Nên tăng thẩm quyền cho trọng tài để họ chia sẻ công việc với tòa án.

TS. Lê Nết

III. Tòa chờ giám định, xác minh

Các cơ quan liên quan chậm phối hợp với tòa trong việc xác minh, cung cấp chứng cứ, hay giám định khiến vụ án bị kéo rê có khi cả mấy năm trời. Khắc phục chuyện này không hề đơn giản.

Thực tế, tham gia vào quá trình giải quyết án, ngoài tòa còn có cả những cơ quan chuyên môn khác. Nhiều vụ tòa đã phải “dài cổ” chờ kết quả xác minh, cung cấp chứng cứ, giám định từ các cơ quan này mà không biết phải làm sao.

Xử xong, chứng cứ mới đến

Trước đây, giải quyết một vụ tranh chấp tài sản, một thẩm phán TAND TP.HCM đã yêu cầu Công an tỉnh L. cung cấp chứng cứ để bổ túc hồ sơ. Sau đó, Công an tỉnh L. có công văn cho biết không có chứng cứ đó nên tòa đưa vụ án ra xử.

Đương sự kháng cáo. Ngay trước khi Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM xử, bất ngờ TAND TP lại nhận được công văn cung cấp chứng cứ của Công an tỉnh L. Hỏi ra mới biết do trước đây quá bận nên công an không có thời gian lục tìm! Từ chứng cứ mới này, bản án sơ thẩm đã bị tòa phúc thẩm sửa.

Vụ khác, năm 2000, bà T. kiện hàng xóm ra TAND quận Bình Thạnh để tranh chấp một bức tường. Được nhận đơn rồi, mãi không thấy tòa gọi tiếp, bà đến hỏi thì thẩm phán giải thích rằng phải chờ Phòng Quản lý đô thị quận xem bức tường của ai. Bà T. về chờ. Đến năm 2003, bức xúc quá, bà gửi đơn khiếu nại đến quận thì việc xác minh mới hoàn tất. Nhưng sau đó phiên xử vẫn phải hoãn để xác minh thêm…

Bốn năm chờ phúc đáp

Năm 2005, phía ông B. và bà N. thành lập một công ty tư vấn kiến trúc xây dựng, rồi ký hợp đồng làm ăn với công ty khác. Họ cam kết nếu thương vụ thành công thì sẽ chia lợi nhuận theo tỉ lệ. Nhưng khi kết thúc hợp đồng, bà N. nói không có lãi nên không chia cho phía ông B. đồng nào, bị phía ông B. khởi kiện.

Tháng 6-2006, TAND quận 10 đã buộc bà N. phải trả cho phía ông B. tổng cộng hơn 50 triệu đồng tiền lợi nhuận có được từ hợp đồng. Ba ngày sau, bà N. kháng cáo. Từ đó đến nay, vụ án vẫn “nằm im” tại TAND TP. Các đương sự khiếu nại thì được tòa lý giải là còn phải chờ Sở Kế hoạch và Đầu tư TP cung cấp bản sao hồ sơ về việc góp vốn của các bên. Từ năm 2006, tòa đã gửi bốn văn bản yêu cầu Sở trả lời nhưng đến nay vẫn chưa được phúc đáp. Do tính chất quan trọng của chứng cứ này nên tòa vẫn phải chờ Sở, chưa thể xử phúc thẩm.

Cãi nhau chuyện ai giám định

Trong các vụ đòi bồi thường thiệt hại, đôi khi chỉ nội một chuyện xác định cơ quan nào giám định cũng phải mất hàng năm!

Năm 2001, ông S. ký hợp đồng trị giá hơn 700 triệu đồng với bà O. để xây một căn nhà trên đường Tôn Thất Thuyết (quận 4). Xây gần xong, ông S. kiện bà O. (chủ nhà) vì không thanh toán hết tiền. Phía bà O. lại nói ông S. xây ẩu tả nên phản tố đòi bồi thường thiệt hại.

TAND quận 4 phải mất hơn một năm để trưng cầu hai công ty kiểm định chất lượng căn nhà. Tháng 5-2005, tòa xử sơ thẩm, buộc ông S. phải bồi thường cho bà O. gần 100 triệu đồng. Sau đó, ông S. kháng cáo yêu cầu TAND TP xem xét lại việc giám định. Bà O. cũng kháng cáo yêu cầu thẩm định lại phần móng và kết cấu căn nhà để bắt ông S. xây đền một căn nhà mới.

Vụ án trở nên phức tạp khi các đương sự đều đòi có cơ quan giám định riêng nhưng không cơ quan nào dám nhận. TAND TP thì cứ trù trừ, chưa quyết được là mình hay các đương sự sẽ chọn cơ quan giám định.

Thiếu quy định

Làm việc với Ban Pháp chế HĐND TP cuối tháng 11-2009, Phó Chánh Tòa Dân sự TAND TP Phan Thanh Tùng nhìn nhận việc chậm trễ trong khâu giám định tư pháp hiện chưa tìm ra ngay cách gỡ.

Chẳng hạn tranh chấp nhà đất, khi định giá tài sản yêu cầu phải có bản vẽ. Khi tòa lập được bản vẽ hiện trạng đất thì phải đưa ngược về cơ quan chuyên môn duyệt, ít nhất là mất ba tháng. Rồi khi đương sự ngăn cản việc đo vẽ này thì chỉ được cưỡng chế định giá khi đương sự có ở nhà, nếu họ vắng nhà là thua. Có những vụ tòa bí quá, phải định giá trên giấy tờ thì tòa cấp trên lại không công nhận và hủy án…

Theo ông Tùng, rất nhiều cơ quan khác chậm trả lời dù tòa nhắc nhở nhiều lần. Hiện chưa có quy định bắt buộc các cơ quan này phải hợp tác nhanh với tòa và cũng chưa có chế tài nếu họ chậm trễ. “Cũng phải công bằng nhận xét rằng các cơ quan này thường xuyên bị quá tải bởi yêu cầu của tòa ngày càng nhiều mà họ thì vẫn phải lo công việc chuyên môn” – ông Tùng nói.

Ðương sự cản trở

Năm 2008, TAND quận 12 thụ lý vụ tranh chấp đất đai giữa ông B. và ông K. Đến giai đoạn định giá, ông K. (đang sử dụng đất) cứ phản đối như “đỉa phải vôi” . Thuyết phục không xong, cuối năm 2008, tòa phải yêu cầu cơ quan thi hành án cưỡng chế để định giá. Ngày đoàn cưỡng chế xuống hiện trường, cả gia đình ông K. chống trả quyết liệt khiến việc định giá đất bất thành…

Tương tự là vụ tranh chấp đất từ tháng 6-2005 giữa hai anh em ông N. tại quận 8. Sau khi TAND quận này trưng cầu định giá, hai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (đang sử dụng đất) quyết liệt phản đối. Một người nói ông đã mua lô đất này của ông N. từ năm 1998, hiện đã xin phép xây nhà thì không ai có quyền đến đo vẽ. Người còn lại thì khẳng định việc tranh chấp là chuyện nội bộ nhà ông N., không liên quan gì đến bà, bà không cho bất cứ ai đụng vào đất của bà cả.

Giám định chuyên nghiệp

Hiện chưa có  cơ quan chuyên giám định mà chỉ là hội đồng gồm nhiều thành phần khác nhau là không chuyên nghiệp. Ngoài ra nên trao việc giám định cho đương sự tự lo như một phần của nghĩa vụ tự chứng minh và để họ tự đi thuê, tự trả tiền. Tòa không phải làm thay cho họ rồi ngồi chờ kết quả, dẫn đến án quá hạn.

LS. Trương Xuân Tám, Ủy viên Hội đồng Luật sư toàn quốc

Có chế tài

Nhiều nước đã thực hiện, chẳng hạn nếu cán bộ giám định đưa ra kết quả sai, chậm gửi kết quả xác minh, hay thiếu trách nhiệm trong việc giám định thì tòa có quyền tước chứng chỉ hành nghề chuyên môn… Có vậy họ mới có trách nhiệm để thực hiện nghiêm túc yêu cầu của tòa. Một biện pháp nữa là nên chấp nhận hình thức giám định tư nhân và cho đương sự quyền lựa chọn tổ chức giám định.

Thẩm phán Nguyễn Thanh Tùng,
Chánh án TAND tỉnh Bình Dương

Giá nhà nước phải sát thực tế

Để tránh việc đương sự khiếu nại nhiều lần về giá trị nhà đất sau khi giám định xong, tôi nghĩ ngoài việc chính xác, kết quả đó còn phải phù hợp với thực tế. Điều này liên quan đến mức bảng giá mà nhà nước đưa ra có sát với giá thị trường hay không. Chưa khắc phục, người dân sẽ còn bức xúc và việc giám định càng, kéo dài.

Thẩm phán Phạm Thao, Chánh án TAND quận 2 (TP.HCM)

Hướng dẫn

Trước mắt, ba ngành tố tụng nên ngồi lại soạn ra những hướng dẫn chi tiết về những vấn đề giám định còn bỏ ngỏ. Chẳng hạn, khi đương sự khiếu nại, phải trưng cầu giám định lại thì tòa công nhận kết quả lần nào. Hay chuyện đương sự cứ khóa cửa bỏ đi khi hội đồng giám định đến thì phải làm sao…

Luật sư Trịnh Thanh, Văn phòng luật sư Người Nghèo

IV. Vướng ủy thác tư pháp

Trong một số vụ án cần lấy lời khai, tống đạt giấy tờ cho người ở nước ngoài, hoặc người cư trú ở địa phương khác, tòa phải nhờ cơ quan tư pháp nước sở tại, hoặc tòa án địa phương khác trong nước làm giúp. Chính việc này là một trong những nguyên nhân dẫn đến án quá hạn.

Lãnh đạo TAND TP khẳng định cứ nhìn vào quy trình ủy thác tư pháp ra nước ngoài hiện nay thì “nhắm mắt cũng thấy” vụ án sẽ bị quá hạn, không cách nào đảm bảo được thời gian xét xử theo luật định.

Hành trình vất vả

Đầu tiên, tòa án Việt Nam phải chuyển hồ sơ qua Bộ Tư pháp. Bộ này chuyển đến Bộ Ngoại giao. Bộ Ngoại giao chuyển đến Đại sứ quán Việt Nam tại nước sở tại. Từ đây hồ sơ vụ án mới được chuyển đến các cơ quan tư pháp nước bạn để nhờ thu thập, xác minh chứng cứ. (xem sơ đồ)

Nếu quá trình xác minh thuận lợi, hồ sơ sẽ lần lượt ngược hành trình trên quay về tòa án Việt Nam. Nội chuyện gửi đi gửi lại này cũng mất cả năm cho một lần ủy thác, đủ thời gian làm cho một vụ án thành quá hạn.

Ủy thác thành công đã vậy, còn nếu thất bại, hoặc chẳng may bị ách lại ở một cơ quan nào đó thì tòa chỉ còn biết ngồi chờ. Đấy là chưa kể đến chuyện các cơ quan ở nước bạn không nhiệt tình, hào hứng giúp đỡ thì chẳng còn cách nào khác.

Vướng từ phía đương sự

Trong báo cáo tổng kết năm 2009, Tòa dân sự TAND TP đã chỉ ra nhiều vướng mắc khác trong ủy thác tư pháp ra nước ngoài.

Không ít chuyện vướng ngay từ phía đương sự. Chẳng hạn đương sự chậm cung cấp địa chỉ người ở nước ngoài, không chịu trả chi phí dịch thuật tài liệu ủy thác, lệ phí bưu điện cho việc ủy thác theo luật. Nhiều trường hợp có nhu cầu tự hòa giải thì xin tòa kéo dài thời gian để liên lạc với người cư trú ở nước ngoài nhằm làm giấy ủy quyền cung cấp chứng cứ.

Rồi có cả chuyện trong quá trình tố tụng, đương sự chết, tòa phải xác minh để đưa những người thừa kế ở nước ngoài vào tham gia vụ án nhưng người trong nước không cung cấp đầy đủ địa chỉ người thừa kế ở nước ngoài nên khó khăn khi làm hồ sơ. Tất cả đều dẫn đến việc lấy lời khai, tống đạt các văn bản, hoặc xác định tài sản ở nước ngoài của tòa Việt Nam không thực hiện được, làm cho vụ án bị kéo dài…

Tại TAND TP từng xảy ra trường hợp án đã xử và tống đạt ra nước ngoài, đến cả năm sau đương sự mới gửi kháng cáo về. Lúc này tòa phải lấy hồ sơ ra để giải quyết tiếp theo thủ tục phúc thẩm.

Lãnh đạo Tòa dân sự TAND TP còn dẫn ra một thực tế khác là hầu hết thẩm phán chỉ biết danh sách 15 quốc gia đã có hiệp định tương trợ tư pháp với nước mình chứ nội dung tương trợ thế nào thì không biết nên thường lúng túng.

“Tòa nhà” làm khó nhau

Không chỉ do chờ đợi kết quả ủy thác với cơ quan tư pháp nước ngoài mới khiến án quá hạn, ngay giữa các tòa trong nước với nhau cũng vậy. Khi được ủy thác, các tòa đều vui vẻ nhận lời nhưng không tích cực điều tra thu thập chứng cứ ngay mà để đó khiến việc vi phạm thời gian ủy thác là rất lớn.

Chẳng hạn một vụ án mà Pháp Luật TP.HCM đã từng phản ánh: DNTT TP nhận huấn luyện nghiệp vụ cho con chó giống Phú Quốc của bà D. nhưng lại làm mất. Mất thú yêu, bà D. đau buồn, cương quyết yêu cầu doanh nghiệp phải đền đúng con chó của bà hoặc bồi thường 100 triệu đồng. Doanh nghiệp không chịu nên hai bên dắt nhau ra TAND quận Thủ Đức nhờ phân xử.

Vấn đề rắc rối ở chỗ giá trị của con chó Phú Quốc này bao nhiêu thì chẳng có cơ quan giám định nào ở TP.HCM dám kết luận để làm cơ sở cho tòa giải quyết. Vì thế, tháng 7-2009, TAND quận Thủ Đức đã ra quyết định ủy thác thu thập chứng cứ cho TAND huyện Phú Quốc (Kiên Giang), yêu cầu xác minh giống, chi phí nuôi dưỡng bình quân và giá trị con chó. Tòa án huyện Phú Quốc vui vẻ nhận lời nhưng hết một tháng theo luật định vẫn không gửi kết quả. Đầu tháng 9 vừa qua, TAND quận Thủ Đức đã phải tạm đình chỉ giải quyết vụ kiện cho đến khi có kết quả xác minh.

Một vụ, ủy thác… bốn nước

Trước đây, TAND quận Tân Phú đang giải quyết vụ vợ chồng ông A. kiện tranh chấp nhà với người khác thì vợ ông A. đột ngột qua đời. Theo luật, tòa phải đưa sáu người con của vợ chồng ông A. vào tham gia tố tụng (thừa kế di sản của mẹ).

Ngặt một nỗi trong số sáu người con này thì hai đang sinh sống ở Mỹ, một ở Úc, một ở Pháp. Năm 2008, vụ án được tòa quận chuyển lên TAND TP vì có yếu tố nước ngoài. Qua điện thoại, bốn người con đang cư trú ở nước ngoài đều đồng ý để ông A. đại diện họ tham gia tố tụng.

Vấn đề là không thể nói miệng mà phải có văn bản ủy quyền hợp lệ. Để có được những văn bản này, TAND TP phải tiến hành ủy thác tư pháp với… bốn nước. Đến nay, việc ủy thác vẫn chưa có kết quả dù đã gần một năm trôi qua. Hồ sơ ủy thác vẫn còn nằm ở đâu đó trong khi TAND TP cũng chỉ biết chờ và chờ vì có muốn đình chỉ vụ án cũng phải biết là việc ủy thác có thất bại hay không.

Chuẩn hóa

Cải cách thủ tục ủy thác tư pháp bằng cách công nhận tiếng Anh là ngôn ngữ hành chính chuẩn sẽ không phải mất nhiều thời gian, chi phí cho việc dịch tài liệu từ tiếng Việt sang tiếng Anh. Đương nhiên phải tùy vào hoàn cảnh từng nước nhưng tôi nghĩ trước sau chúng ta sẽ phải hòa nhập ở trình độ này.

Ví dụ gần chúng ta nhất là Malaysia, ngôn ngữ phổ thông của họ là tiếng mẹ đẻ nhưng các văn bản pháp luật hành chính, thương mại, dân sự, hôn nhân đều chuẩn hóa bằng tiếng Anh hết.

Tự thu thập

Để tránh tình trạng tòa phải mất hàng năm trời chờ kết quả ủy thác ở nước ngoài (nhiều trường hợp không có kết quả phải đình chỉ vụ án) thì hãy quy định nguyên đơn phải thu thập địa chỉ, thông tin về cá nhân của bị đơn ở nước đó. Hãy coi đó như một nghĩa vụ chứng minh bắt buộc trước khi tòa thụ lý vụ kiện.

Thực tế nhiều trường hợp tòa không biết thông tin gì về bị đơn hoặc người liên quan trong vụ án nhưng nguyên đơn thì biết rõ và có thể lấy dễ dàng thì hãy để họ tự lấy rồi nộp cho tòa.

TS. Chu HẢI THANH, Phó Giám đốc Học viện Tư pháp

Đôn đốc

Khó nhất cho các tòa hiện nay là ủy thác theo địa chỉ nguyên đơn cung cấp nhưng thực tế thì đó chỉ là địa chỉ tạm trú, hoặc bị đơn còn hộ khẩu nhưng đã chuyển đi từ lâu. Khi ấy tòa phải nhận thông tin và ủy thác lại.

Vậy nên với những ủy thác giữa các địa phương trong nước với nhau, cách tốt nhất để rút ngắn thời gian là cả bên ủy thác và bên nhận ủy thác phải có trách nhiệm với việc ủy thác. Bên ủy thác phải theo dõi thông tin để thường xuyên đôn đốc, nhắc nhở nơi mình nhờ vả, lãnh đạo bên được ủy thác phải theo dõi, nhắc nhở thẩm phán của mình đừng để quên luôn.

Thẩm phán PHẠM THAO, Chánh án TAND quận 2 (TP.HCM)

V. Lúng túng tranh chấp mới

Một tranh chấp mới được ngành tòa án TP thụ lý, giải quyết gần đây là doanh nghiệp bị kiện đòi nợ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế. Loại án này đã nhanh chóng lọt vào “tốp danh sách” án quá hạn vì nhiều nguyên nhân …

Trong số 101 doanh nghiệp bị cơ quan bảo hiểm xã hội kiện, có 23 doanh nghiệp tự khắc phục, 34 doanh nghiệp hòa giải thành với cơ quan bảo hiểm, còn lại 36 vụ các tòa đang giải quyết. Tốc độ giải quyết án còn rất chậm. Thực tế, có những vụ kiện đòi nợ bảo hiểm xã hội, tòa thụ lý quá thời hạn xét xử từ lâu mà vẫn chưa xong được khâu hòa giải…

Lúng túng ban đầu

Nguyên nhân đầu tiên dẫn đến việc chậm xét xử loại án này là vào thời điểm cơ quan bảo hiểm xã hội khởi kiện ban đầu, ngành tòa án TP đã gặp lúng túng khi xác định thẩm quyền xét xử giữa cấp quận, huyện hay cấp TP khiến hồ sơ bị trả tới trả lui.

Chẳng hạn, sau khi cơ quan bảo hiểm xã hội khởi kiện Công ty TNHH Giày Anjin và Công ty TNHH Đồ chơi quốc tế Lucky Việt Nam, TAND Bình Tân đã trả đơn vì cho rằng mình là tòa cấp quận, không có thẩm quyền xét xử. Trao đổi với TAND TP, sau đó TAND Bình Tân mới chịu tái thụ lý đơn kiện…

Hay như vụ Bảo hiểm xã hội quận 8 kiện Công ty TNHH Vina Haeng Woon Industry, thụ lý xong, TAND quận 8 chuyển vụ án lên TAND TP với lý do nguyên đơn yêu cầu áp dụng biện pháp cấm xuất cảnh đối với giám đốc công ty. Sau đó TAND TP lại chuyển vụ kiện về quận 8 vì giám đốc này đã rời khỏi Việt Nam nên không thể thực hiện được đề nghị trên…

Ngoài thẩm quyền xét xử, một lúng túng ban đầu khác của các tòa quận, huyện là chuyện tạm ứng án phí. Theo luật, khi khởi kiện, cơ quan bảo hiểm phải đóng tạm ứng án phí nhưng số tiền này rất lớn, cơ quan bảo hiểm không lo nổi. Đến nay, vấn đề này đã được hai ngành tòa án, bảo hiểm xã hội TP bàn bạc giải quyết. Theo đó, vì lợi ích của người lao động, tòa đã chấp nhận tạm miễn tiền tạm ứng án phí cho cơ quan bảo hiểm xã hội.

Bị đơn bất hợp tác

Các vụ kiện đòi nợ bảo hiểm luôn phức tạp, khó xác minh vì doanh nghiệp thường nợ kéo dài qua nhiều năm, tiền lương của công nhân cũng biến động liên tục… Đã thế, tòa càng gặp khó khăn hơn khi phía doanh nghiệp bất hợp tác, “trốn” tòa.

Trước đây, cơ quan bảo hiểm xã hội khởi kiện ba công ty Khoa Việt (nợ hơn 1 tỉ đồng), Công ty Cổ phần Bảo vệ MC (nợ 447 triệu đồng), Siêu thị Điện máy Tự Do (nợ 461 triệu đồng) ra TAND quận Bình Thạnh. Tòa chính thức thụ lý từ đầu tháng 5 nhưng đến nay đã qua bảy tháng vẫn chưa xong được khâu hòa giải. Lần nào tòa mời đến làm việc, đại diện các công ty cũng viện đủ mọi lý do để không đến như bận công việc hay ốm đau, gia đình có chuyện gấp…

Doanh nghiệp phá sản, giám đốc bỏ trốn

Một vướng mắc nữa là trong quá trình tòa đang giải quyết vụ kiện thì doanh nghiệp tuyên bố giải thể. Giám đốc – người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp cũng âm thầm “lặn” về nước. Khi đó, ai sẽ là người đại diện công ty để giải quyết thủ tục phá sản?

Nhiều ý kiến cho rằng nên để chủ tịch công đoàn công ty đứng ra đại diện cho công nhân tuyên bố phá sản. Tuy nhiên, các quy định hiện hành lại không cho phép. Đó là chưa kể nếu có người đại diện rồi thì thủ tục phá sản cũng còn đang rất nhiêu khê. Rồi chuyện tài sản của doanh nghiệp cũng vậy, có khi chưa chắc đã phải của họ vì rất nhiều trường hợp họ đi thuê mướn để sản xuất…

Hiện nay, ngành bảo hiểm xã hội TP đã lên danh sách hàng trăm doanh nghiệp nợ tiền bảo hiểm từ ba tháng trở lên để phát đơn kiện trong năm 2010. Đây sẽ tiếp tục là một gánh nặng không nhỏ cho ngành tòa án TP. Lãnh đạo TAND TP đã phải nhìn nhận rằng để gỡ được những cái vướng trong loại án này đòi hỏi phải có giải pháp tổng thể với sự phối hợp giữa nhiều ngành liên quan chứ không chỉ riêng gì ngành tòa án.

Càng chậm xử, càng khó đòi nợ

Làm việc với Đoàn đại biểu Quốc hội TP.HCM về tình hình các doanh nghiệp vi phạm Luật Bảo hiểm xã hội cuối tháng 8-2009, Giám đốc Bảo hiểm xã hội TP Cao Văn Sang cho rằng việc tòa kéo dài thời gian tố tụng đã làm nợ của doanh nghiệp liên tục phát sinh. Do vậy, đến khi tòa xử thì doanh nghiệp đã mất khả năng thanh toán, nợ càng khó đòi.

Chẳng hạn, trong vụ Công ty Đồ chơi quốc tế Lucky, giữa năm 2008, thời điểm cơ quan bảo hiểm xã hội khởi kiện, công ty này mới nợ 800 triệu đồng. Trong hơn một năm chờ tòa xác minh để xét xử, tính cả tiền nợ và tiền lãi, số tiền công ty này phải trả đã lên tới hơn 2,1 tỉ đồng.

Đa số doanh nghiệp nợ là của nước ngoài

Hiện ngành tòa án Bình Dương chưa thụ lý, giải quyết các vụ kiện đòi nợ bảo hiểm xã hội (BHXH). Theo Chánh án TAND tỉnh Bình Dương Nguyễn Thanh Tùng, hầu hết doanh nghiệp nợ BHXH kéo dài là của nước ngoài làm ăn thua lỗ, tài sản thì đi thuê, chủ thì bỏ trốn. Vì không thể có thông tin của bị đơn nên tòa có tuyên buộc họ trả tiền cũng không thi hành án được…

Đề nghị bỏ khâu hòa giải

Không cần phải có khâu hòa giải trong những vụ kiện bảo hiểm là đề xuất của Trưởng phòng Kiểm tra BHXH TP.HCM Nguyễn Đăng Tiến. Ông Tiến lý giải: Gần như 100% các doanh nghiệp để đến mức bị kiện là đã “nửa sống nửa chết” rồi nên mới cố tình chây ỳ nợ. Nếu cố tình trốn trả nợ thì mời hòa giải họ cũng không đến.

Mọi thứ đều đi thuê

Có lần Bảo hiểm xã hội TP.HCM đến một công ty nợ 800 triệu đồng tiền BHXH để xác minh tài sản. Cô kế toán người Việt được ủy quyền đon đả tiếp đón nhưng rất thành thật rằng két sắt công ty chỉ còn 4 triệu đồng. Hỏi đến tài sản, cô nói nhà xưởng,  máy móc đều đi thuê hết, chỉ có mấy dàn máy tính đời cũ là công ty mua nhưng lại mua theo diện… trả chậm.

Thắng kiện cũng bằng không

Công ty TNHH Giày Anjin bị TAND quận Bình Tân tuyên phải trả một lần cho cơ quan bảo hiểm xã hội hơn 6,5 tỉ đồng. Án tuyên xong cũng là lúc công ty đóng cửa, ngừng hoạt động, làm thủ tục xin phá sản. Thắng kiện, cơ quan BHXH cũng chỉ trông mong vào việc thanh lý số tài sản, máy móc vốn không đáng là bao của công ty.

Tương tự, Công ty TNHH Sản xuất giày dép Kwang Nam bị TAND quận Phú Nhuận tuyên buộc phải trả một lần số nợ hơn 7 tỉ đồng. Mới trả được hơn 1,3 tỉ đồng thì giám đốc công ty bỏ về nước. Hiện thi hành án phải cưỡng chế niêm phong tài sản nhưng giá trị cũng chẳng bao nhiêu.

SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM (Civillawinfor tổng hợp từ loạt bài viết của tác giả Thanh Tùng, Hồng Tú. Có gì sai sót mong các tác giả thông cảm)

Trích dẫn từ:

http://phapluattp.vn/20100105122452958p0c1063/van-trinh-do-non-va-nhat-tay.htm

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: