Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

CÔNG VĂN SỐ 44/TCT-TNCN NGÀY 7 THÁNG 1 NĂM 2010 CỦA TỔNG CỤC THUẾ GIẢI QUYẾT VƯỚNG MẮC THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRƯỜNG HỢP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT BỊ HỦY BỎ

Kính gửi:

Cục Thuế thành phố Hà Nội

Trả lời công văn số 18704/CT-THNVDT ngày 28/10/2009 của Cục thuế Hà Nội nêu vướng mắc về việc hoàn trả thuế Thu nhập cá nhân (TNCN) đối với trường hợp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bị huỷ bỏ. Vấn đề này, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

Tại Điều 692 Bộ Luật dân sự quy định hiệu lực của việc chuyển quyền sử dụng đất như sau: “Việc chuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực thi hành kể từ thời điểm đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai”.

Tại khoản 3 Điều 32 Luật thuế TNCN quy định: “Thời điểm xác định thu nhập chịu thuế đối với thu nhập quy định tại Điều 28 và Điều 29 của Luật này là thời điểm hợp đồng chuyển nhượng có hiệu lực”.

Căn cứ vào các quy định trên và theo quy định của Luật Đất đai thì hộ gia đình, cá nhân có quyền sử dụng đất, được quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất của mình cho hộ gia đình, cá nhân khác theo quy định của pháp luật về đất đai. Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho nhau thông qua Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất được cơ quan Công chứng chứng thực; trên cơ sở Hợp đồng đã được công chứng chứng thực, hồ sơ chuyển nhượng sẽ được chuyển đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để xác định nghĩa vụ tài chính của các bên liên quan (thuế TNCN đối với người chuyển nhượng và lệ phí trước bạ đối với người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất) làm cơ sở cho cơ quan nhà nước về quản lý đất đai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người nhận chuyển nhượng. Trường hợp trong thời gian theo quy định về trình tự thủ tục tiếp nhận hồ sơ, luân chuyển hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất được quy định tại Thông tư Liên tịch số 30/2005/TTLT-BTC-BTNMT ngày 18/4/2005 của Liên Bộ Tài chính và Bộ Tài nguyên và Mội trường mà các cơ quan Nhà nước chưa làm thủ tục sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; giữa bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng có thoả thuận với nhau huỷ bỏ Hợp đồng chuyển nhượng và phải được cơ quan nhà nước về quản lý đất đai chấp nhận huỷ bỏ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì tiền thuế TNCN và lệ phí trước bạ đã nộp sẽ được hoàn trả cho người nộp theo đơn đề nghị và giấy tờ có xác nhận huỷ bỏ hợp đồng của cơ quan quản lý đất đai.

Trường hợp thời gian làm thủ tục vượt quá quy trình cho phép nhưng chưa được làm thủ tục sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà lỗi thuộc về người nộp thuế thì không thực hiện hoàn trả số tiền thuế đã nộp.

Tổng cục Thuế đề nghị Cục Thuế thành phố Hà Nội chỉ đạo việc kiểm tra lại hồ sơ, quy trình tiếp nhận hồ sơ, thời gian giải quyết hồ sơ để thực hiện theo đúng quy định./.

KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG
Phạm Duy Khương

Advertisements

One Response

  1. Tôi xin có một vài góp ý nhỏ đối với CÔNG VĂN SỐ 44/TCT-TNCN NGÀY 7 THÁNG 1 NĂM 2010 CỦA TỔNG CỤC THUẾ GIẢI QUYẾT VƯỚNG MẮC THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRƯỜNG HỢP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT BỊ HỦY BỎ như sau:
    Việc hướng dẫn những thắc mắc, khó khăn nảy sinh trong thực tiễn thực thi, áp dụng pháp luật là hoàn toàn cần thiết cho cả người dân lẫn cơ quan thi hành. Đối với những vấn đề đó, các cơ quan hành chính nhà nước giải quyết phải đảm bảo cho quyền lợi chính đáng của người dân không bị xâm phạm, bảo đảm các nguyên tắc, quy định của pháp luât không bị vi phạm.
    Tuy nhiên, công văn trả lời trên đã không bảo đảm được cho quyền và lợi ích chính đáng của người dân, các nguyên tắc, quy định của pháp luật dân sự không được tôn trọng. Theo quy định tại điều 4 của BLDS 2005: “Điều 4. Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận.
    Quyền tự do cam kết, thỏa thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được bảo đảm, nếu cam kết đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Trong quan hệ dân sự, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được áp đặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe dọa, ngăn cản bên nào. Cam kết, thỏa thuận, hợp pháp có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên và phải được cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác tôn trọng”
    Do đó các bên trong giao dịch hoàn toàn có quyền thỏa thuận về biện pháp hủy bỏ hợp đồng để chấm dứt một quan hệ hợp đồng giữa các bên và đưa các bên trở về với tình trạng ban đầu của mình như khi chưa có giao dịch (hợp đồng). Mặc khác điều 425 BLDS 2005 quy định về Hủy hợp đồng như sau: “1. Một bên có quyền hủy bỏ hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm hợp đồng là điều kiện hủy bỏ mà các bênđã thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. 3. Khi hợp đồng bị hủy bỏ thỉ hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết và các bên phải hoàn trả cho nhau những tài sản đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì hoàn trả bằng tiền.” Như vậy, BLDS đã tôn trọng sự tự do ý chí, tự do cam kết và thỏa thuận trong hợp đồng, việc hủy hợp đồng (hủy bỏ quan hệ giao dịch giữa các bên) là do ý chí của các bên cùng xác lập, không có bất cứ cơ quan nào có quyền áp đặt ý chí của mình chấp nhận hoặc không chấp nhận thỏa thuận đố nếu nó không vi phạm điều cấm của pháp luật và đạo đức xã hội. Nhưng trong công văn hướng dẫn trên lại hưỡng dẫn: “giữa bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng có thoả thuận với nhau huỷ bỏ Hợp đồng chuyển nhượng và phải được cơ quan nhà nước về quản lý đất đai chấp nhận huỷ bỏ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì tiền thuế TNCN và lệ phí trước bạ đã nộp sẽ được hoàn trả cho người nộp theo đơn đề nghị và giấy tờ có xác nhận huỷ bỏ hợp đồng của cơ quan quản lý đất đai.” việc một cơ quan giúp việc cho UBND hay ngay cả UBND cũng không được quyền chấp thuận hay không chấp thuận việc hủy bỏ hợp đồng của các bên theo ý trí của các bên; việc hướng dẫn như trên đã vi phạm nghiêm trọng quyền tự do của người đân, đề cao sự thuận lợi cho cơ quan quản lý nhà nước mà xâm phạm tớ quyền của người dân.
    Đề nghị cơ quan ban hành hướng dẫn xem xét lại công văn trên để tránh việc làm tổn hại tới lợi ích của người dân.

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: