VAI TRÒ CỦA DOANH NGHIỆP TRONG THỰC HIỆN AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

THS. ĐỖ VĂN QUÂN – NGUYỄN THỊ DUNG (Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia HCM)

Trong nền kinh tế thị trường theo định hướng: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, hơn nữa trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, lạm phát do các yếu tố trong nước cộng hưởng với lạm phát toàn cầu, an sinh xã hội là mục tiêu rất quan trọng. Chính vì thế, ngay cả khi chuyển hướng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội vẫn được coi là một trong bốn mục tiêu quan trọng hiện nay của đất nước (kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, tăng trưởng bền vững). Trên tinh thần đó quan điểm của Đảng và Nhà nước về vai trò, tầm quan trọng của an sinh xã hội là: đầu tư cho an sinh xã hội chính là đầu tư cho con người, đầu tư cho phát triển, an sinh xã hội đã trở thành động lực góp phần cho kinh tế phát triển và tăng trưởng bền vững. 

Tuy nhiên, trước những biến động khó khăn của tình hình kinh tế trong nước và thế giới như hiện nay, dù Nhà nước có cố gắng như thế nào thì vấn đề an sinh xã hội cũng khó mà được bảo đảm nếu như không có sự chia sẽ một cách chủ động tích cực hơn của các chủ thể khác (doanh nghiệp, cộng đồng…). Theo cách tính của Tổ chức Lao động quốc tế, khi Việt Nam sụt giảm 2% GDP trong hai năm 2008-2009 (từ 8,5% năm 2007 xuống 6,5%) thì sẽ có 0,65% lao động tương ứng 300.000 người thất nghiệp. Dự báo con số người thất nghiệp của Việt Nam trong năm 2009 có thể sẽ cao hơn mức này…Trong bối cảnh như vậy, một vấn đề đặt ra là hệ thống doanh nghiệp đã và đang có vai trò, trách nhiệm như thế nào trong việc cùng với Nhà nước và cộng đồng giải quyết tốt vấn đề an sinh xã hội của đất nước.

Thực hiện an sinh xã hội là một nội dung cơ bản và tất yếu trong trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là một vấn đề khá cũ đối với các nước phát triển nhưng còn khá mới mẻ và nó đang được quan tâm ở Việt Nam hiện nay. Theo quan niệm của Hội đồng Thương mại thế giới, thì “trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là sự cam kết trong việc ứng xử hợp đạo lý và đóng góp vào sự phát triển kinh tế, đồng thời cải thiện chất lượng cuộc sống của lực lượng lao động và gia đình họ, cũng như của cộng đồng địa phương và của toàn xã hội nói chung”. Mặc dù có thể có nhiều cách diễn giải khác nhau, tuy nhiên có thể hiểu trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao gồm 4 yếu tố cấu thành:

(1) trách nhiệm với thị trường và người tiêu dùng;

(2) trách nhiệm về bảo vệ môi trường;

(3) trách nhiệm với người lao động;

(4) trách nhiệm chung với cộng đồng.

Theo tác giả, có thể nhóm gộp trách nhiệm (3 và 4) để hình thành trách nhiệm thực hiện an sinh xã hội của doanh nghiệp. Với cách tiếp cận này, có thể hiểu trách nhiệm thực hiện an sinh xã hội của doanh nghiệp là trách nhiệm của doanh nghiệp trong thực hiện BHXH và hỗ trợ xã hội đối với người lao động và cộng đồng, mang tính chất tất yếu và thường xuyên. Nó xuất phát từ chính nhu cầu sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp và được quy định thực hiện bởi chính sách, pháp luật của nhà nước chứ không phải chỉ là sự trợ giúp, lòng hảo tâm, làm từ thiện của doanh nghiệp và doanh nhân đối với một số nhóm người yếu thế trong xã hội như: người tàn tật, trẻ mồ côi, nạn nhân lũ lụt… mang tính phong trào. Doanh nghiệp thực hiện an sinh xã hội không đơn thuần chỉ là những hoạt động từ thiện, trợ giúp cộng đồng mà nó còn là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp cho sự phát triển kinh tế bền vững, thông qua việc quan tâm nâng cao chất lượng lao động và đời sống cho người lao động, cho cộng đồng và cho toàn xã hội. Hiện tượng doanh nghiệp thỏa mãn hay không thoả mãn các điều kiện về: BHXH; BHYT, trả lương thưởng; đào tạo lao động; điều kiện làm việc đúng quy định…đối với người lao động, hoặc là các cam kết với cộng đồng nơi doanh nghiệp đứng chân…được các phương tiện đề cập đến khá nhiều trong thời gian gần đây chính là những khía cạnh để đánh giá doanh nghiệp có thực hiện tốt an sinh xã hội của mình hay chưa.

An sinh xã hội là một nội dung quan trọng và tất yếu trong trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, có khả năng góp phần đảm bảo sự phát triển bền vững của nền kinh tế, đồng thời không mâu thuẫn với lợi ích kinh tế, lợi nhuận của doanh nghiệp. Vì khi doanh nghiệp thực hiện tốt an sinh xã hội sẽ góp phần tăng năng suất lao động, hiệu quả và lợi nhuận, nâng cao tính cạnh tranh, tăng năng suất, thúc đẩy sự phát triển bền vững. Hơn nữa, nó còn có vai trò quan trọng thúc đẩy doanh nghiệp thực hiện ngày càng cao các tiêu chuẩn quốc gia cũng như quốc tế về điều kiện lao động, hỗ trợ cộng đồng… Đối với người lao động, doanh nghiệp quan tâm đến thực hiện an sinh xã hội tức là họ sẽ đảm bảo tốt hơn quyền lợi, nhân phẩm, đảm bảo việc làm và tăng thu nhập, giúp người lao động nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ…Và do đó, doanh nghiệp sẽ tạo ra được một đội ngũ người lao động gắn bó, yêu thích công việc, tự hào về công ty và làm việc hết mình vì lợi ích chung của “đại gia đình”. Số liệu khảo sát do Viện Khoa học Lao động và Xã hội tiến hành gần đây trên 24 doanh nghiệp thuộc hai ngành dệt may và da giầy đã khẳng định: nhờ thực hiện các chương trình “trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp” (trong đó có an sinh xã hội) mà doanh thu của các doanh nghiệp này đã tăng 25%. Không những vậy, năng suất lao động cũng tăng từ 34,2 lên 35,8 triệu đồng/lao động/năm, tỷ lệ hàng xuất khẩu tăng từ 94% lên 97%. Ngoài hiệu quả kinh tế, các doanh nghiệp còn có lợi từ việc tạo dựng hình ảnh với khách hàng, sự gắn bó và hài lòng của người lao động, thu hút lao động có chuyên môn cao…Do đó, bản thân doanh nghiệp cần coi việc thực hiện an sinh xã hội chính là đòn bẩy, động lực cho sự phát triển của mình.

Thực hiện an sinh xã hội không chỉ là nghĩa vụ mà còn là quyền lợi để đảm bảo cho chính doanh nghiệp phát triển. Thực hiện an sinh xã hội là cách thức hiện thực hoá định hướng phát triển kinh tế – xã hội của đất nước: tăng trưởng kinh tế gắn liền với công bằng xã hội; Đối với doanh nghiệp nhà nước thực hiện an sinh xã hội là một cách thức để giữ vững vai trò chủ đạo của mình đối với các thành phần kinh tế. Như chúng ta đã biết, quan điểm tổng quát về phát triển kinh tế – xã hội của Đảng và Nhà nước Việt Nam là: tăng trưởng kinh tế gắn liền với công bằng xã hội. Đồng thời, xác định vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước trong quá trình thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Để hiện thực hoá quan điểm này trong cuộc sống thì việc thực hiện an sinh xã hội của các doanh nghiệp luôn đóng vai trò quan trọng. Thực tế cho thấy, trong những năm qua, các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp lớn của Nhà nước, như: Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV); Ngân Hàng Công Thương Việt Nam (Viettinbank); Tập đoàn Dầu khí quốc gia; Công ty Viễn thông quân đội (Vietel)… đã xác định, thực hiện an sinh xã hội chính là sự nghiệp của chính bản thân doanh nghiệp. Bên cạnh nhiệm vụ kinh doanh, các doanh nghiệp này đã luôn đề cao vai trò, trách nhiệm thực hiện an sinh xã hội của mình đối với người lao động và cộng đồng…Tuy nhiên, đối với khối doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhất là ở khu vực tư nhân…việc chủ động quan tâm thực hiện tốt an sinh xã hội vẫn là điều lạ lẫm đối với không ít doanh nghiệp. Điều này có thể xuất phát từ 2 nguyên nhân chính: nhận thức hoặc khó khăn về tài chính của bản thân các doanh nghiệp. Vấn đề các doanh nghiệp nợ đọng lương, đóng BHXH cho người lao động… đang rất báo động. Theo báo cáo của BHXH Việt Nam, tính đến hết ngày 31/12/2008, tổng số tiền nợ BHXH gần 1.900 tỷ đồng. Trên thực tế cho thấy, việc doanh nghiệp không quan tâm đến quyền lợi của người lao động, “quỵt” tiền đóng BHXH cho người lao động; buộc người lao động làm việc đến kiệt sức hoặc không có giải pháp giúp họ tái tạo sức lao động của mình; …là điều hoàn toàn xa lạ với trách nhiệm của doanh nghiệp trong thực hiện an sinh xã hội, đồng thời làm cản trở quá trình thực hiện các mục tiêu: tăng trưởng kinh tế gắn liền với công bằng xã hội và xác lập vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế Nhà nước ở Việt Nam hiện nay (đối với các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế nhà nước).

Tăng cường vai trò thực hiện an sinh xã hội của doanh nghiệp là sự kế thừa và khắc phục những hạn chế của hình thức thực hiện an sinh xã hội truyền thống – phi chính thức. Cùng tồn tại với những hình thức an sinh xã hội chính thức từ phía Nhà nước và doanh nghiệp, ở Việt Nam đang tồn tại hình thức an sinh xã hội phi chính thức mang tính truyền thống theo kiểu liên kết thế hệ trong gia đình, tức là bố mẹ, ông bà chăm sóc con cháu và khi bố mẹ, ông bà không còn khả năng lao động nữa thì con cháu đi làm chăm sóc phụng dưỡng bố mẹ, ông bà. Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập và khủng hoảng kinh tế như hiện nay thì hình thức an sinh xã hội này đang đặt ra những vấn đề bất cập. Thực tế cho thấy, nếu người được coi là trụ cột gia đình bị mất việc làm, hoặc giảm nguồn thu nhập do một lý do nào đó như tình trạng lạm phát thì tất yếu mô hình an sinh xã hội kiểu này sẽ bị phá sản. Bên cạnh hình thức an sinh xã hội truyền thống này, một hình thức phi nhà nước nữa cũng đang tồn tại, đó là xuất phát từ truyền thống đạo lý tốt đẹp của người Việt Nam, như: tinh thần tương thân, tương ái, lá lành đùm lá rách… Đối với hình thức này, trong những năm qua phát huy rất hiệu quả trong việc trợ giúp xã hội đối với nhóm xã hội yếu thế, gặp thiên tai địch hoạ xảy ra bất thường. Tuy nhiên, do là hình thức phi chính thức, cho nên nhiều khi các hoạt động này vẫn mang tính tự phát, thời vụ, thậm chí còn phụ thuộc vào sự nhiệt tình của cộng đồng hay lòng hảo tâm của mỗi cá nhân, đôi khi sự hỗ trợ vẫn chưa kịp thời. Cũng chính từ hình thức an sinh truyền thống này, một hiện tượng khá phổ biến ở Việt Nam là các doanh nghiệp tích cực tham gia vào các hoạt động từ thiện như: giúp nạn nhân của bão lụt, thiên tai hay tai nạn, đóng góp vào Quỹ xoá đói giảm nghèo của các tổ chức chính trị – xã hội khác nhau… Bên cạnh mặt tích cực rất đáng trân trọng, vẫn còn không ít doanh nghiệp chưa nhận thức được thực hiện an sinh xã hội là trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, do thiếu quy định pháp luật chặt chẽ về việc khấu trừ số tiền đóng góp vào chi phí trước thuế… Từ thực tế đó nhiều ý kiến cho rằng, cách làm này còn thiếu minh bạch và không thể đồng nghĩa với trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp như bản chất vốn có của nó. Có không ít ý kiến trong xã hội cho rằng một số doanh nghiệp có động cơ “đánh bóng hình ảnh” với mục đích vụ lợi không trong sáng như: làm ăn phi pháp, móc ngoặc, trốn tránh trách nhiệm với người lao động ngay trong doanh nghiệp, gây ô nhiễm môi trường… Do vậy, việc đề cao vai trò của doanh nghiệp trong thực hiện an sinh xã hội với tư cách là một là một thành tố quan trọng trong trách nhiệm xã hội của bản thân doanh nghiệp sẽ kế thừa những giá trị an sinh truyền thống, đồng thời khắc phục các bất cập hạn chế của các hình thức an sinh xã hội phi chính thức ở Việt Nam hiện nay.

Tăng cường vai trò thực hiện an sinh của doanh nghiệp là tất yếu, góp phần quan trọng trong việc chia sẻ với chủ thể Nhà nước trong bối cảnh hiện nay. Đặc điểm của hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay là chưa phổ cập trong toàn xã hội, đồng thời chủ yếu được thực hiện bởi chủ thể chính thức là Nhà nước và chủ thể cộng đồng phi chính thức, vai trò của chủ thể chính thức doanh nghiệp còn chưa tương xứng với trách nhiệm vốn có của nó và yêu cầu đặt ra. Không thể phủ nhận được, ở Việt Nam chủ thể cao nhất, quan trọng nhất điều phối hệ thống an sinh xã hội luôn phải là Nhà nước. Nhà nước với vai trò và trách nhiệm của mình có khả năng tạo ra cơ chế đảm bảo những điều kiện tối thiểu về an sinh xã hội cho những thành viên trong xã hội bằng các biện pháp cụ thể hoặc các công cụ chính sách về nguồn lực, bộ máy thực hiện. Nhà nước cũng có thể trực tiếp phân phối lại thu nhập hoặc gián tiếp thông qua việc hình thành những định chế phù hợp…Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, ngoài trách nhiệm chính của Nhà nước, cần xây dựng hệ thống an sinh xã hội ngoài Nhà nước, trong đó việc đề cao vai trò của doanh nghiệp là hết sức quan trọng. Nếu không có sự tham gia một cách tích cực chủ động của doanh nghiệp thì những khiếm khuyết của hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay không thể khắc phục được. Bởi vì về đại thể, chính sách an sinh xã hội của chúng ta hiện nay được biết đến bởi hai tiểu hệ thống: BHXH và hỗ trợ xã hội. BHXH là hình thức an sinh xã hội thực hiện trên nguyên tắc có đóng, có hưởng, kể cả hình thức bắt buộc hay tự nguyện bao gồm: y tế, nghề nghiệp, thai sản, tuổi già… Hỗ trợ xã hội là hình thức an sinh xã hội thực hiện trên nguyên tắc không đóng vẫn được hưởng, bao gồm: trợ cấp xã hội, trợ giúp xã hội, cứu trợ xã hội, ưu đãi xã hội… Hình thức an sinh xã hội tự nguyện đang có xu hướng phụ thuộc vào vai trò thực hiện của doanh nghiệp ngày càng lớn. Định hướng trong quá trình xây dựng và thực hiện hệ thống an sinh xã hội của Việt Nam hiện nay là hoạt động trên nguyên tắc đóng tiền để được bảo hiểm và bảo hiểm đó phải bảo đảm mức sống tối thiểu, cho dù có xảy ra tình trạng khủng hoảng kinh tế hoặc lạm phát. Do vậy, hệ thống an sinh xã hội ở nước ta đang tất yếu triển khai theo nguyên tắc: đa tầng, linh hoạt, nhằm mục tiêu cơ bản: (1) giải quyết được những vấn đề cơ bản trong giai đoạn chuyển đổi của Việt Nam; (2) phải mang tính xã hội; (3) bảo đảm độ an toàn và có yếu tố bền vững. Đặc biệt, việc xây dựng một hệ thống BHXH hoàn chỉnh, theo nguyên tắc đóng – hưởng (bao gồm BHXH bắt buộc và tự nguyện, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp…) đang được quan tâm thực hiện. Trước hết, để đối phó với bối cảnh khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp gia tăng…Việt Nam đã chính thức thực hiện bảo hiểm thất nghiệp (từ 01/01/2009), nâng mức lương tối thiểu cho người lao động… thì vấn đề xác lập vai trò tích cực hơn của doanh nghiệp trong thực hiện an sinh xã hội lại càng là vấn đề có ý nghĩa mang tính cấp bách. Do vậy, tăng cường sự tham gia của chủ thể doanh nghiệp vào quá trình thực hiện an sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay là một tất yếu nhằm xây dựng và thực hiện hệ thống an sinh của Việt Nam ngày càng tốt hơn, bao phủ rộng hơn, hiệu quả hơn.

Doanh nghiệp thực hiện tốt an sinh xã hội là một giải pháp hữu hiệu để giảm tình trạng đình công của người lao động ở Việt Nam hiện nay. Theo Tổng LĐLĐ Việt Nam, một trong nguyên nhân trực tiếp dẫn đến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (trong đó có vấn đề thực hiện an sinh xã hội) còn nửa vời là do tổ chức công đoàn còn yếu ớt. Tại khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ, kinh tế tư nhân chỉ có khoảng 10% doanh nghiệp có tổ chức công đoàn, nhiều doanh nghiệp tổ chức công đoàn hoạt động chỉ mang tính chất hình thức – chủ cánh tay nối dài của chủ sử dụng lao động. Do vậy, khi có tranh chấp xảy ra, người lao động trong tình thế không được ai bảo vệ, họ nên khi bức xúc, giải pháp gần như duy nhất của họ là tìm cách đình công. Từ nguyên nhân này dẫn đến, số vụ đình công của công nhân ngày một gia tăng. Theo số liệu tổng hợp được từ các ngành công đoàn và lao động, thương binh, xã hội đưa ra: năm 2006, cả nước đã xảy ra 387 vụ đình công; năm 2007 là 541 vụ; tính đến tháng 5/2008 cả nước xảy ra 330 cuộc đình công và ngừng việc tập thể, trong đó nhiều nhất là ở TP. Hồ Chí Minh (118 cuộc) và khu vực doanh nghiệp FDI (257 cuộc)… Tính chất của các cuộc đình công chủ yếu là đình công tự phát, các xung đột về lợi ích của ngươi lao động vì thế cũng không giải quyết được. Tình trạng đình công của công nhân xảy ra có nhiều nguyên nhân, nhưng trước hết là phần lớn xuất phát từ lý do doanh nghiệp không thực hiện tốt vấn đề an sinh xã hội cho người lao động, như: thu nhập của họ quá thấp, không đủ để trang trải cho cuộc sống; chủ không tuân thủ trong việc trả lương và các khoản trợ cấp cho công nhân… Do vậy, khi doanh nghiệp quan tâm và thực hiện tốt vấn đề an sinh xã hội cho người lao động thì nhất định sẽ góp phần làm giảm tỷ lệ đình công của công nhân trong các nhà máy, xí nghiệp ở Việt Nam hiện nay.

Để doanh nghiệp thực hiện tốt vấn đề an sinh xã hội, các cơ quan chức năng cần phải xây dựng chính sách, pháp luật và tuyên truyền “chỉ đường” cho các doanh nghiệp thực hiện, nêu gương các doanh nghiệp làm tốt về an sinh xã hội. Hiện nay, ở Việt Nam có khoảng 350.000 doanh nghiệp đang tham gia thị trường có đăng ký, có đến 3.7 triệu hộ kinh doanh cá thể, tuy nhiên phần lớn họ chưa thực sự hiểu và thực hiện tốt vấn đề an sinh xã hội như là một phần quan trọng và tất yếu trong thực hiện trách nhiệm xã hội của mình. Do vậy, đang rất cần có hành lang pháp luật quy định về thực hiện an sinh xã hội, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Cụ thể là Nhà nước cần đưa ra khung pháp lý rõ ràng và nhất quán hơn dựa trên việc sửa đổi các bộ Luật Lao động, Luật Doanh nghiệp, Luật Thuế…; tạo môi trường pháp lý hoàn chỉnh và sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp. Đồng thời, nâng cao tiêu chuẩn lao động và thúc đẩy cạnh tranh; tạo điều kiện hoàn thiện và nâng cao tiêu chuẩn lao động Việt Nam theo xu hướng hội nhập quốc tế. Trong khi vẫn chưa có nhiều các doanh nghiệp ở Việt Nam nhận thức được việc phát triển bền vững chính là phương thức tối đa hoá lợi nhuận một cách hiệu quả nhất, thì những biện pháp xử lý nghiêm minh, chế tài bằng pháp luật của chính quyền đối với đối tượng sai phạm cùng việc xây dựng một cơ chế khuyến khích dư luận đứng ra tự bảo vệ các quyền lợi chính đáng của mình sẽ là những điều tối cần thiết để hình thành ý thức “trách nhiệm thực hiện an sinh xã hội của doanh nghiệp” ở nước ta. Các cơ quan chức năng cần tăng cường vai trò tuyên truyền, kiểm tra, giám sát và xử lý những vấn đề liên quan đến Luật Lao động, Luật BHXH… tại các doanh nghiệp.

SOURCE: TẠP CHÍ BẢO HIỂM XÃ HỘI ĐIỆN TỬ

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: