BÁO CÁO SỐ 23/BC-BTP NGÀY 05 THÁNG 2 NĂM 2010 CỦA BỘ TƯ PHÁP VỀ TỔNG KẾT CÔNG TÁC TƯ PHÁP NĂM 2009 VÀ PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ CÔNG TÁC NĂM 2010

Năm 2009, trước những diễn biến phức tạp của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới, thiên tai dịch bệnh gây thiệt hại nặng nề, cùng với quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị; sự lãnh đạo đúng đắn của Trung ương Đảng; sự chỉ đạo, giám sát có hiệu quả của Quốc hội, Chính phủ đã bám sát diễn biến, đánh giá đúng tình hình, xác định đúng mục tiêu, nhiệm vụ, chuyển hướng kịp thời, quyết sách nhanh nhạy, chỉ đạo, điều hành tập trung, quyết liệt, liên tục, cụ thể, ứng biến và sáng tạo; đã thực hiện thành công mục tiêu tổng quát là ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng hợp lý (GDP đạt 5,32%), ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội tốt hơn; chủ quyền quốc gia, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững; thế và lực của đất nước tiếp tục được tăng cường, vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao. Trong những thành tựu chung của đất nước có sự đóng góp quan trọng của Ngành Tư pháp.

Ngay từ những ngày đầu năm 2009, bám sát kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2009 của đất nước, Nghị quyết của Chính phủ về chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2009, Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP của Chính phủ về những giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội và Ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị triển khai công tác tư pháp năm 2009, Bộ đã ban hành Chương trình công tác trọng tâm của Ngành năm 2009 và tổ chức thực hiện với quyết tâm cao, tạo nhiều chuyển biến tích cực trên các lĩnh vực công tác. Nhờ đó, vị trí, vai trò của công tác tư pháp trong đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước tiếp tục được khẳng định; vị thế của Ngành từ Trung ương đến địa phương ngày càng được củng cố, tăng cường.

Các lĩnh vực công tác thuộc chức năng, nhiệm vụ được triển khai đồng bộ, trong đó chú trọng thực hiện các nội dung theo Chương trình công tác trọng tâm năm 2009 như: triển khai thực hiện tốt Luật Ban hành VBQPPL; chuẩn bị các điều kiện cần thiết để triển khai công tác theo dõi chung về thi hành pháp luật; tiếp tục tổ chức thực hiện Chỉ thị số 21/2008/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ; chuẩn bị các điều kiện cần thiết để triển khai thực hiện tốt Luật Thi hành án dân sự (THADS), Nghị quyết của Quốc hội về thi hành Luật THADS, nhằm tạo chuyển biến cơ bản trong công tác THADS; nâng cao chất lượng hoạt động chứng thực, hộ tịch, quốc tịch, lý lịch tư pháp; tăng cường năng lực của các cơ quan bổ trợ tư pháp, tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động bổ trợ tư pháp; tiếp tục lộ trình cải cách tư pháp, cải cách hành chính; kiện toàn tổ chức, cán bộ của Ngành, xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong sạch, vững mạnh; tạo chuyển biến thực sự về chất lượng đào tạo cán bộ pháp luật, nhất là đào tạo nguồn bổ nhiệm các chức danh tư pháp; thành lập Trường Trung cấp luật; tiếp tục đổi mới phương thức chỉ đạo điều hành; đẩy mạnh việc phân cấp trong một số lĩnh vực hoạt động, hướng mạnh về cơ sở.

Bước sang năm 2010, toàn Ngành cần nghiêm túc đánh giá một cách toàn diện, chính xác, khách quan công tác tư pháp năm 2009 để khẳng định những kết quả tích cực đã đạt được; ghi nhận những cách làm mới, hiệu quả cần nhân rộng; làm rõ những khó khăn, vướng mắc, hạn chế, yếu kém trong chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện các mặt công tác cần được khắc phục để thực hiện tốt Chương trình công tác của Ngành năm 2010, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Chính phủ về giải pháp thực hiện nhiệm vụ kinh tế – xã hội năm 2010.

Phần thứ nhất:

ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC TƯ PHÁP NĂM 2009

1. Công tác xây dựng văn bản, đề án; thẩm định, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa và theo dõi thi hành pháp luật

1.1. Kết quả đạt được

a) Công tác xây dựng văn bản, đề án

Quán triệt bài học “thể chế đi trước một bước”, trong năm 2009, Ngành Tư pháp đã tập trung xây dựng và hoàn thiện các văn bản, đề án phục vụ công tác quản lý và phát triển các lĩnh vực công tác tư pháp như lý lịch tư pháp, bồi thường nhà nước, THADS, luật sư, theo dõi thi hành pháp luật…, tạo đà phát triển toàn diện, hiệu quả, góp phần quan trọng nâng cao vị thế của Bộ, Ngành trong những năm tiếp theo. Chất lượng và tiến độ xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) đã được cải thiện đáng kể, đã chủ động nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các cơ chế, chính sách kịp thời, đồng bộ, hỗ trợ cho việc triển khai thực hiện có hiệu quả các giải pháp nhằm ngăn chặn suy giảm, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội; góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế. Đặc biệt, công tác xây dựng VBQPPL quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các luật, pháp lệnh thuộc chức năng, nhiệm vụ Bộ, Ngành được Thủ tướng Chính phủ biểu dương là một trong 03 Bộ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và chỉ đạo khen thưởng.

Bộ tích cực tham mưu, giúp Chính phủ hoàn thành nhiệm vụ quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật, phân công cơ quan chủ trì soạn thảo dự án luật, pháp lệnh của Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội trong năm 2009; các Sở Tư pháp đã tham mưu cho UBND cấp tỉnh ban hành Kế hoạch xây dựng VBQPPL của HĐND, UBND cấp tỉnh năm 2009; theo dõi, đôn đốc các bộ, ngành và địa phương tăng cường và đảm bảo tiến độ xây dựng văn bản, đề án theo kế hoạch.

Năm 2009, Bộ có nhiệm vụ soạn thảo và phối hợp hoàn chỉnh 40 văn bản, đề án trình Ban Bí thư, Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ (trong đó có 05 dự án luật(1); 139 văn bản, đề án thuộc thẩm quyền ban hành của Bộ Tư pháp hoặc liên tịch ban hành. Bên cạnh đó các đơn vị thuộc Bộ, các cơ quan Tư pháp địa phương, các Tổ chức pháp chế bộ, ngành còn phải thực hiện một số lượng lớn các công việc liên quan đến việc xây dựng văn bản, đề án. Bộ đã hoàn thành và trình Ban Bí thư, Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ 37 văn bản, đề án, đạt 92,5% tổng số văn bản, đề án phải trình trong năm 2009 (chi tiết xem Phụ lục I); riêng việc xây dựng và trình các dự án luật đạt 100% kế hoạch; ban hành, phối hợp ban hành 57 văn bản, đề án thuộc thẩm quyền hoặc liên tịch ban hành, đạt 41 % kế hoạch.

Tính đến 30/9/2009, các cơ quan Tư pháp địa phương trong toàn quốc đã chủ trì soạn thảo, tham mưu cho cơ quan có thẩm quyền ban hành khoảng 7.461 VBQPPL; phối hợp với các cơ quan liên quan soạn thảo, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành khoảng15.650 VBQPPL (chi tiết xem Phụ lục STP-01A).

Bộ đã tiếp tục phối hợp với các cơ quan hoàn chỉnh dự án Luật Nuôi con nuôi, Luật Tiếp cận thông tin; chủ động ban hành Kế hoạch và phối hợp với các bộ, ngành triển khai xây dựng các luật, pháp lệnh trình Chính phủ trong năm 2010 như các dự án: Luật Thủ đô, Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật, Luật Giám định tư pháp, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật dân sự (phần liên quan đến quyền sở hữu và hợp đồng), Luật Phòng, chống buôn bán người, Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật, Pháp lệnh Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật.

Quy trình xây dựng các văn bản, đề án ngày càng đi vào nền nếp khi triển khai thực hiện Luật Ban hành VBQPPL năm 2008, Nghị định số 24/2009/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Ban hành VBQPPL, Chỉ thị số 636/CT-TTg ngày 20/5/2009 về triển khai thực hiện Luật Ban hành VBQPPL và các biện pháp thi hành luật. Việc xây dựng văn bản, đề án không những tuân thủ quy định của Luật Ban hành VBQPPL, mà còn được đổi mới theo hướng tăng cường tính dân chủ, công khai, minh bạch, nâng cao tính chuyên nghiệp trong tất cả các khâu từ lập dự kiến chương trình đến soạn thảo, thẩm định và ban hành; chú trọng phối hợp với các bộ, ngành, địa phương nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, kinh nghiệm nước ngoài, tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong nước và quốc tế.

Nội dung các văn bản, đề án đã thể chế hóa kịp thời đường lối, chính sách, định hướng quan trọng trong các Nghị quyết của Đảng, Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ; chứa đựng nhiều vấn đề mới, tiến bộ.

b) Công tác thẩm định, góp ý văn bản, đề án

Công tác thẩm định được đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng. Ý kiến thẩm định đã bám sát nội dung thẩm định theo quy định của Luật Ban hành VBQPPL và Nghị định số 24/2009/NĐ-CP; đã chú trọng đánh giá tác động xã hội, có tính phản biện cao, bảo đảm tính khả thi. Nhiều ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp đã được các bộ, ngành chủ trì soạn thảo nghiên cứu tiếp thu, chỉnh lý dự thảo văn bản, góp phần quan trọng nâng cao chất lượng của các văn bản. Quy trình thẩm định văn bản đã có cải tiến nhiều so với trước đây như việc thành lập Hội đồng thẩm định là bắt buộc đối với dự thảo VBQPPL có nội dung phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực hoặc do Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo, đã huy động được sự tham gia của nhiều nhà khoa học, chuyên gia thuộc nhiều ngành, lĩnh vực có liên quan, qua đó đưa ra ý kiến phản biện tập thể giúp cơ quan soạn thảo nhìn nhận vấn đề một cách chính xác và khách quan hơn. Thông qua hoạt động góp ý, thẩm định VBQPPL, đã phát hiện và kiến nghị chỉnh lý nhiều vấn đề thuộc nội dung của nhiều dự án, dự thảo văn bản, đề án chưa bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính đồng bộ, hoàn chỉnh, thống nhất và trên cơ sở đó, đề xuất sửa đổi, bổ sung và ban hành mới nhiều quy định pháp luật, phục vụ hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước.

Tổ chức pháp chế đã và đang trở thành người gác cổng” đáng tin cậy cho lãnh đạo bộ, ngành trong công tác xây dựng VBQPPL. Việc thẩm định của Tổ chức pháp chế bộ, ngành trước khi người đứng đầu bộ, ngành ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản ngày càng được đề cao hơn, nhờ đó chất lượng thẩm định văn bản từng bước được nâng cao, góp phần nâng cao chất lượng văn bản được ban hành.

Tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, công tác thẩm định VBQPPL đã được coi trọng, các Sở Tư pháp và các cơ quan Tư pháp địa phương ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong việc tham mưu, giúp HĐND, UBND các cấp ban hành VBQPPL. Nhiều lãnh đạo HĐND, UBND thể hiện sự tin tưởng đối với Sở Tư pháp và các cơ quan Tư pháp địa phương trong công tác thẩm định văn bản, đề án qua việc chỉ ký ban hành văn bản, đề án khi đã có ý kiến thẩm định của các cơ quan Tư pháp.

Tính đến hết ngày 30/09/2009, Bộ đã tiến hành thẩm định xong 441 văn bản, đề án, 107 điều ước quốc tế (bằng so với năm 2008); tham gia góp ý 910 văn bản các loại do các bộ, ngành gửi đến (giảm 74 văn bản so với năm 2008); cấp 28 ý kiến pháp lý cho các khoản vay nước ngoài. Các cơ quan Tư pháp cấp tỉnh, huyện đã thẩm định và Tư pháp cấp xã đã góp ý 46.775 văn bản, đề án (chi tiết xem Phụ lục STP-01B).

c) Công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa VBQPPL

Hoạt động kiểm tra VBQPPL tiếp tục được củng cố, tăng cường hơn năm 2008, hướng vào việc kiểm tra, xử lý văn bản theo chuyên đề, địa bàn, lĩnh vực; hoạt động kiểm tra ngày càng được nâng cao về chất lượng, thực hiện đúng quy trình và nâng cao sự phối kết hợp với các cơ quan hữu quan; đã phát hiện, kiến nghị xử lý kịp thời nhiều VBQPPL, thậm chí cả văn bản, nghị quyết của các tổ chức xã hội – nghề nghiệp có sai sót về nội dung và hình thức; được Quốc hội, Chính phủ đánh giá cao, dư luận và xã hội đồng tình ủng hộ. Công tác rà soát, hệ thống hoá VBQPPL tiếp tục được quan tâm triển khai thực hiện theo chuyên đề và thí điểm tại một số cơ quan, địa phương, tiến tới nhân rộng trong toàn quốc.

Các cơ quan Tư pháp địa phương đã kiểm tra được 295.179 văn bản, trong đó phát hiện 12.017 văn bản có sai sót; đã kiến nghị xử lý 10.340 văn bản, chiếm 86% trên tổng số văn bản phát hiện có sai sót (chi tiết xem Phụ lục STP-1B). Riêng Cục Kiểm tra VBQPPL, Bộ Tư pháp đã tiếp nhận kiểm tra 4.005 văn bản theo thẩm quyền (gồm 699 văn bản của cấp Bộ và 3.306 văn bản của cấp tỉnh), bước đầu phát hiện 433/1.291 văn bản đã kiểm tra có dấu hiệu trái pháp luật, chiếm 33,54%.

Bộ đã hướng dẫn các bộ, ngành rà soát và xây dựng danh mục các VBQPPL hết hiệu lực; thực hiện rà soát VBQPPL năm 2009 và rà soát VBQPPL theo từng lĩnh vực; tiến hành rà soát VBQPPL trong phạm vi quản lý của bộ, ngành theo các cam kết của Tổ chức thương mại thế giới; tổng kết 05 năm thực hiện Nghị định số 135/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 của Chính phủ về kiểm tra và xử lý VBQPPL, làm cơ sở xây dựng Nghị định thay thế Nghị định này và đã trình Chính phủ xem xét ban hành.

Công tác đôn đốc thực hiện, kiểm tra, hướng dẫn, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hóa VBQPPL được tăng cường, đã tổ chức kiểm tra tại 12 địa phương; tập huấn nghiệp vụ rà soát, hệ thống hoá cho 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

d) Công tác theo dõi chung về thi hành pháp luật

Năm 2009, Bộ đã phối hợp với các bộ, ngành và địa phương tập trung hoàn thiện cơ sở pháp lý để triển khai thực hiện công tác này trong năm 2010. Xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1987/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án "Triển khai thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật". Tiến hành xây dựng Thông tư quy định việc thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật, đồng thời chuẩn bị các điều kiện để triển khai Đề án từ tháng 1/2010 đến tháng 6/2011.

Thực hiện bước đầu nhiệm vụ theo dõi chung theo thẩm quyền: Bộ đã xây dựng Báo cáo công tác thi hành pháp luật hàng quý trình Chính phủ; giúp Chính phủ theo dõi, đôn đốc và xây dựng báo cáo của Chính phủ số 127/BC-CP ngày 17/8/2009 về tình hình thực hiện Nghị quyết số 55/2005/QH11 ngày 29/11/2005 của Quốc hội Khoá XI về kết quả giám sát việc ban hành VBQPPL của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ; Báo cáo tình hình soạn thảo và trình các dự án luật, pháp lệnh của Chính phủ năm 2009.

1.2. Những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân

a) Những hạn chế, yếu kém

– Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2009 chưa toàn diện, đồng bộ; thiếu dự báo mang tính chiến lược và sự ưu tiên trong việc giải quyết những vấn đề bức thiết của đời sống xã hội. Nội dung Chương trình chủ yếu được lập trên cơ sở đề xuất của các bộ, ngành, chưa thể hiện rõ chính kiến của Bộ Tư pháp dưới góc độ là cơ quan quản lý nhà nước về công tác xây dựng pháp luật, dẫn đến nhiều đề án, văn bản phải điều chỉnh, xin rút, ảnh hưởng đến chương trình hoạt động của Quốc hội.

– Công tác thẩm định chưa tạo được chuyển biến cơ bản về chất lượng, đôi khi còn nặng về chuyên môn pháp luật thuần tuý, thiếu sự gắn kết với yêu cầu quản lý nhà nước về kinh tế – xã hội và chỉ số năng lực cạnh tranh của các địa phương, chưa khắc phục được tình trạng mâu thuẫn, chồng chéo trong hệ thống pháp luật, chưa tạo được sự bền vững và sức sống của pháp luật trong đời sống xã hội; Thông tư của Bộ về quy chế thẩm định dự án, dự thảo VBQPPL chưa được ban hành. Số VBQPPL ở địa phương được ban hành nhưng chưa qua thẩm định là còn nhiều.

– Tiến độ xây dựng một số văn bản, đề án tuy có cố gắng nhưng còn chậm so với kế hoạch, nhất là các văn bản, đề án thuộc thẩm quyền ban hành của Bộ hoặc liên tịch ban hành. Tỷ lệ văn bản, đề án được ban hành thấp hơn so với năm 2008(2). Một số dự thảo văn bản, đề án phải chỉnh sửa nhiều lần, làm chậm tiến độ trình và ban hành.

– Hoạt động kiểm tra liên ngành về công tác kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hóa VBQPPL chưa hoàn thành kế hoạch đã đặt ra; việc kiểm tra VBQPPL có lúc còn thiếu linh hoạt.

– Hoạt động theo dõi chung về thi hành pháp luật chưa được triển khai kịp thời; công tác đôn đốc nhằm khắc phục tình trạng nợ đọng các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành của các bộ, ngành chưa được thực hiện quyết liệt.

– Công tác quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật ở địa phương nhìn chung còn nhiều hạn chế. Một số địa phương chưa kịp thời xây dựng, ban hành Chương trình xây dựng VBQPPL năm 2009, chương trình và nội dung cụ thể về công tác kiểm tra, rà soát VBQPPL; nhiều địa phương chưa thực hiện nghiêm túc việc xử lý VBQPPL ban hành trái pháp luật đã được cơ quan có thẩm quyền cấp trên thông báo; tính phản biện xã hội trong xây dựng văn bản, chất lượng thẩm định, góp ý chưa cao.

– Kinh phí hỗ trợ cho hoạt động xây dựng, soạn thảo văn bản còn hạn chế, việc phân bổ kinh phí còn chậm, cơ cấu phân bổ cho từng văn bản chưa thật sự hợp lý; nhiều địa phương gặp khó khăn về kinh phí soạn thảo, thẩm định, góp ý VBQPPL của HĐND, UBND do chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể.

b) Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém

– Sự phối hợp trong soạn thảo văn bản, đề án còn chưa chặt chẽ, sự chủ động từ phía đơn vị chủ trì soạn thảo chưa cao nên hạn chế việc huy động tiềm năng, trí tuệ của tập thể cán bộ, công chức làm công tác xây dựng VBQPPL. Thành viên các Ban soạn thảo văn bản, đề án không tham dự đầy đủ các cuộc họp Ban soạn thảo thảo dẫn đến tình trạng thiếu thông tin hoặc không thống nhất được ý kiến về những vấn đề phức tạp.

– Thể chế về thẩm định VBQPPL, theo dõi chung về thi hành pháp luật chưa được hoàn thiện, ảnh hưởng không nhỏ đến việc triển khai nhiệm vụ được giao.

– Số lượng dự án, dự thảo VBQPPL cần phải thẩm định ngày càng tăng, nội dung thẩm định đa dạng, phức tạp, một số văn bản, đề án đặt ra nhiều vấn đề mới, phức tạp cả về lý luận và thực tiễn, liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của nhiều bộ, ngành, trong khi đó đội ngũ cán bộ làm công tác này chưa được tăng cường một cách tương xứng cả về số lượng và chất lượng, nhất là kinh nghiệm thực tiễn, kiến thức về các lĩnh vực chuyên môn ngoài chuyên ngành luật; chưa thực hiện những giải pháp khắc phục theo kết luận của Bộ trưởng tại Toạ đàm “Nâng cao chất lượng công tác văn bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của Bộ Tư pháp trong tình hình mới”.

– Một số cơ quan chủ trì soạn thảo gửi hồ sơ thẩm định VBQPPL còn sai sót về thủ tục, thiếu các tài liệu trong hồ sơ theo quy định, nhất là các cơ quan được giao chủ trì soạn thảo văn bản ở địa phương, dẫn đến việc nghiên cứu, tiếp thu ý kiến thẩm định đôi khi trở nên hình thức. Nhiều địa phương chưa có cơ chế để cán bộ làm công tác thẩm định được tham gia quá trình soạn thảo văn bản ngay từ đầu; chưa coi trọng đúng mức công tác kiểm tra và xử lý VBQPPL; chưa thường xuyên gửi văn bản đến cơ quan kiểm tra cũng như chưa kịp thời xem xét, xử lý theo quy định sau khi nhận được thông báo của cơ quan kiểm tra về văn bản có dấu hiệu trái pháp luật.

– Một số đơn vị thuộc Bộ chưa đánh giá đúng việc đề xuất kế hoạch xây dựng đề án, văn bản cũng như chưa chủ động trong việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng văn bản, đề án.

– Kinh phí phục vụ cho công tác xây dựng, thẩm định, kiểm tra, rà soát VBQPPL chưa tương xứng với nhiệm vụ.

1.3. Bài học kinh nghiệm

Chủ động phối hợp với các bộ, ngành và các đơn vị liên quan để huy động trí tuệ tập thể; kịp thời xin ý kiến chỉ đạo về những vấn đề mới, phức tạp; nâng cao kiến thức kinh tế, xã hội, khắc phục chuyên môn pháp luật thuần tuý.

2. Công tác THADS

2.1. Kết quả thực hiện

Trong năm qua, công tác THADS đạt được nhiều kết quả, góp phần quan trọng bảo đảm trật tự an toàn xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển đất nước: thể chế về cơ bản được hoàn thiện; hệ thống các cơ quan THADS thực sự được tổ chức và quản lý tập trung, thống nhất theo ngành dọc từ Trung ương đến cấp huyện với một vị thế mới, tương xứng với nhiệm vụ chính trị được giao; cơ bản kiện toàn về tổ chức bộ máy và lãnh đạo chủ chốt của Tổng cục THADS và đa số các Cục, Chi cục THADS địa phương; kết quả công tác về việc và về tiền vượt chỉ tiêu Chính phủ báo cáo Quốc hội; cơ sở vật chất, điều kiện, phương tiện làm việc được nâng cao hơn trước.

Tính từ 01/10/2008 đến 30/9/2009, tổng số việc phải thi hành là 645.975/662.961 việc đã thụ lý; số việc có điều kiện thi hành là 437.375 việc, chiếm 67,71% tổng số việc phải thi hành (tăng 29.917 việc có điều kiện thi hành so với cùng kỳ năm 2008). Tổng số tiền và giá trị phải thu là 26.587 tỷ 317 triệu 264 nghìn đồng/27.790 tỷ 806 triệu 755 nghìn đồng số tiền đã thụ lý; số tiền có điều kiện thi hành là 9.387 tỷ 474 triệu 194 nghìn đồng, chiếm 35,31% số phải thu (tăng 1.571 tỷ 607 triệu 478 nghìn đồng so với năm 2008). Các cơ quan THADS đã thi hành xong 354.490 việc/437.375 việc, đạt 81,05% (tăng 65.362 việc và 2,34% về tỷ lệ so với cùng kỳ năm 2008)(3); 6.621 tỷ 735 triệu 651 nghìn đồng về tiền, đạt 70,54% số tiền có điều kiện thi hành, tăng 890 tỷ 305 triệu 724 nghìn đồng so với năm 2008 (chi tiết xem Phụ lục II).

Nhiều cơ quan THADS đã tổ chức thi hành án vượt chỉ tiêu đặt ra (được Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Uỷ ban Tư pháp của Quốc hội biểu dương), cụ thể: về việc, Hoà Bình (thi hành xong hoàn toàn/có điều kiện thi hành đạt 88,8%), Đắk Nông (88,1%), Tuyên Quang (86,5%), Lai Châu (85,5%), Vĩnh Phúc (84,7%), Hà Giang (84,6%) và về tiền, Lào Cai (thực thu/có điều kiện thi hành đạt 92,6%), Phú Yên (87,3%), Hà Giang (83,7%), Hoà Bình (81,6%), Tuyên Quang (80,2%).

Mặc dù số việc phải thi hành là 645.975 việc, tăng 23.365 việc so cùng kỳ năm 2008; số việc có điều kiện thi hành là 436.967 việc, chiếm 67,63% tổng số việc phải thi hành, tăng 12.080 việc so với cùng kỳ năm 2008, nhưng với quyết tâm nâng cao kết quả thi hành án, đạt và vượt chỉ tiêu Bộ giao, toàn Ngành THADS đã thi hành giảm được 38.544 việc so với năm 2008, đạt tỷ lệ 12,43%; rà soát tại 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc miễn thi hành án thu cho ngân sách nhà nước có giá trị không quá 500.000 theo Nghị quyết số 24/2008/QH12 ngày 14/11/2008 của Quốc hội về thi hành Luật THADS được 27.977 việc, với số tiền là 4 tỷ 857 triệu 659 nghìn 88 đồng. Nhiều địa phương, cấp uỷ Đảng, chính quyền chú trọng công tác lãnh đạo, chỉ đạo về THADS, như: thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Long An, Cà Mau…; Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh sớm ban hành Chỉ thị về tăng cường, triển khai thực hiện Luật THADS, như: Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Lai Châu, Nam Định, Hải Dương, Thái Bình, Phú Yên, Đồng Nai, Tiền Giang, Bến Tre… Nhiều Đoàn Đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân các địa phương tăng cường giám sát, kiểm sát công tác THADS, nhất là việc giám sát lượng án tồn đọng, về việc miễn thi hành án thu cho ngân sách nhà nước có giá trị không quá 500.000 theo Nghị quyết số 24/2008/QH12 ngày 14/11/2008 của Quốc hội về thi hành Luật THADS. Các cơ quan THADS thường xuyên rà soát, đôn đốc và quyết liệt hơn trong việc tổ chức thi hành án. Nhiều nơi tổ chức nhiều đợt tập trung, cao điểm về thi hành án, như: Nam Định, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Tiền Giang…

Công tác xây dựng thể chế, nhất là các văn bản hướng dẫn thi hành Luật và các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật THADS tiếp tục được hoàn thiện. Đã rà soát 102 VBQPPL liên quan đến Luật THADS và phát hiện 06 văn bản hết hiệu lực thi hành sau ngày 01/7/2009, 02 văn bản mâu thuẫn với Luật THADS, 03 văn bản chung chung, khó vận dụng, 03 văn bản hết hiệu lực một phần, 56 văn bản có một số quy định liên quan đến THADS không phù hợp, 30 văn bản có hiệu lực sau ngày 01/7/2009; tiến hành sửa đổi, bổ sung và ban hành mới các văn bản liên quan.

Ngày 28/10/2009, Bộ đã tổ chức Hội nghị giao ban trực tuyến về tổ chức thực hiện Luật THADS, Nghị định số 74/2009/NĐ-CP. Triển khai thực hiện Nghị định số 74/2009/NĐ-CP, Bộ, các cơ quan THADS đã phối hợp chặt chẽ với các cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương trong việc kiện toàn tổ chức cán bộ các Cục, Chi cục THADS (ngày 08/01/2010, Bộ Tư pháp đã tổ chức Lễ ra mắt Tổng cục THADS; tính đến ngày 07/01/2010 có 44/63 tỉnh tổ chức Lễ Công bố Quyết định thành lập Cục THADS và các Chi cục THADS).

Việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo về THADS được thực hiện quyết liệt, tăng cường đối thoại, chú trọng công tác dân vận, giải quyết dứt điểm hoặc cơ bản xong nhiều vụ việc khiếu nại phức tạp, tồn đọng kéo dài. Trong năm 2009, Bộ đã chọn Hà Nội làm nơi chỉ đạo điểm trong giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo bức xúc, kéo dài về THADS; đẩy nhanh tiến độ xây dựng các đề án về tăng cường cơ sở vật chất, kinh phí hoạt động, xây dựng trụ sở, kho vật chứng, đầu tư cơ sở vật chất, điều kiện, phương tiện làm việc cho các cơ quan THADS phù hợp với vị thế mới của ngành THADS.

Hoàn thiện thể chế và phối hợp với Thành uỷ, UBND thành phố Hồ Chí Minh, các cấp, các ngành hữu quan triển khai thí điểm chế định Thừa phát lại tại thành phố Hồ Chí Minh: ban hành Thông tư số 03/2009/TT-BTP ngày 30/9/2009 hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại; hoàn thành việc tổ chức tập huấn công tác Thừa phát lại; đang tiến hành thủ tục bổ nhiệm Thừa phát lại và thành lập Văn phòng Thừa phát lại.

2.2. Những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân

a) Những hạn chế, yếu kém

– Việc chuẩn bị và ban hành các văn bản hướng dẫn, thi hành Luật và các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật THADS còn chậm so với yêu cầu, nhất là các Thông tư liên tịch.

– Việc quản lý nghiệp vụ, quản lý nội bộ Ngành rất yếu, việc chấp hành kỷ luật báo cáo không nghiêm; một số trường hợp thiếu kiên quyết trong việc xử lý cán bộ vi phạm, thậm chí không xử lý.

– Số việc thi hành án tồn đọng chuyển sang năm sau vẫn còn rất nhiều, trong tổng số 291.485 việc còn phải thi hành thì có 82.885 việc có điều kiện thi hành nhưng chưa thi hành xong (chiếm 28,44%); một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có tỷ lệ án tồn đọng chuyển sang năm sau/tổng số việc phải thi hành cao (như Hải Phòng (57,77%), Quảng Ninh (62,67%), Ninh Thuận (52,07%)). Tỷ lệ án có điều kiện thi hành về tiền còn thấp (chiếm 35,31% số phải thu thi hành án).

– Chưa tổ chức thực hiện miễn thi hành án đối với các khoản thu cho ngân sách nhà nước có giá trị không quá 500.000 đồng mà thời gian tổ chức thi hành án đã quá 05 năm tính đến ngày 01/7/2009 nhưng không có điều kiện thi hành.

– Việc kiện toàn bộ máy quản lý chuyên ngành về THADS thiếu đồng bộ; việc bổ nhiệm Chấp hành viên ngạch sơ cấp, trung cấp, cao cấp theo quy định của Luật THADS còn chậm. Tình trạng quá tải công việc của Chấp hành viên còn tồn tại ở nhiều cơ quan THADS, nhất là ở các thành phố trực thuộc Trung ương, các tỉnh lớn và các tỉnh rộng, giao thông khó khăn. Chế độ, chính sách thu hút cán bộ THADS còn nhiều bất cập. Do đó, số lượng công chức thi hành án xin chuyển công tác hoặc nghỉ việc mặc dù đã giảm so với năm 2008 nhưng vẫn còn nhiều (năm 2009 có 62 người xin chuyển công tác, giảm 09 người so với năm 2008), 19 người xin nghỉ hưu trước tuổi, 12 người xin nghỉ thôi việc (giảm 20 người so với năm 2008).

– Cơ sở vật chất của các cơ quan THADS chưa tương xứng với nhiệm vụ được giao, chưa đáp ứng được yêu cầu của việc thực hiện cải cách tư pháp; phương tiện, trang thiết bị làm việc mặc dù đã được quan tâm trang cấp nhưng cũng chưa bảo đảm được yêu cầu hiện đại hoá công sở.

– Tình trạng khiếu nại, tố cáo về THADS vẫn còn nhiều, không ít vụ việc phức tạp tiếp tục phải giải quyết.

b) Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém

– Hoạt động quản lý, điều hành của Tổng cục THADS chưa sâu sát, chưa quyết liệt, chưa kịp thời và chưa đáp ứng được yêu cầu của địa phương; vẫn còn tình trạng chậm trả lời, hướng dẫn giải quyết những khó khăn, vướng mắc về nghiệp vụ cho các Cục THADS tỉnh.

– Công tác thanh tra, kiểm tra chưa được thực hiện thường xuyên, số lượng đơn thư khiếu nại vượt cấp, kéo dài vẫn còn; tình trạng chậm trả lời, giải quyết các đơn thư khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo còn nhiều, đặc biệt tại Tổng cục THADS.

– Công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo của các cơ quan THADS chưa được thực hiện khoa học, thường xuyên, nên việc xem xét, đề xuất bổ nhiệm lãnh đạo cơ quan THADS thay thế chưa kịp thời, cùng với sự thiếu chủ động về nguồn cán bộ lãnh đạo, dẫn đến chưa khắc phục được tình trạng thiếu thủ trưởng cơ quan THADS.

– Ở một số địa phương, Cục và các Chi cục THADS chưa phối hợp chặt chẽ với cơ quan hữu quan ở địa phương, chưa tranh thủ được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương đối với công tác THADS. Một số cấp uỷ, chính quyền địa phương chưa quan tâm sát sao trong việc phối hợp đánh giá, quy hoạch và kiện toàn đội ngũ cán bộ chủ chốt của cơ quan THADS. Hoạt động của Ban Chỉ đạo THADS, nhất là ở cấp huyện còn thụ động, hiệu quả hạn chế. Việc phối hợp giữa chính quyền cơ sở, đặc biệt là các tổ chức chính trị, chính trị – xã hội với cơ quan THADS chưa thường xuyên. Còn có trường hợp Toà án chậm hoặc chưa giải quyết yêu cầu của cơ quan THADS về một số bản án, quyết định của Toà án không rõ ràng, có sai sót hoặc vi phạm.

– Đội ngũ cán bộ tuy đã được kiện toàn một bước và có nhiều cố gắng nhưng còn thiếu về số lượng, năng lực còn hạn chế. Một số cán bộ quản lý chưa phát huy hết trách nhiệm trong quản lý, điều hành; một số Chấp hành viên, cán bộ thi hành án chưa tích cực cập nhật kiến thức nghiệp vụ, trong một số trường hợp còn tác nghiệp tuỳ tiện hoặc ỷ lại. Công tác chuẩn bị cưỡng chế thi hành án còn có nơi chưa tốt, để xảy ra một số vụ việc đáng tiếc, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự an toàn xã hội (như vụ việc ông Nguyễn Khắc Đương, người phải THADS, đã tự thiêu ở tỉnh Hưng Yên).

– Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thi hành án còn chậm, một số phần mềm quản lý, tác nghiệp chưa kịp thời hoàn thiện. Chế độ kế toán nghiệp vụ thi hành án còn bất cập, phần mềm kế toán hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý, chưa có cơ chế xử lý quyết liệt việc chậm hoặc không nộp báo cáo tài chính nghiệp vụ thi hành án…

– Việc triển khai thi hành Luật THADS đòi hỏi phải tập trung thực hiện nhiều công việc như: xây dựng văn bản hướng dẫn thi hành; bồi dưỡng nghiệp vụ; đặc biệt là ưu tiên rà soát, đánh giá kiện toàn tổ chức, cán bộ…, do đó, đã ảnh hưởng đến việc chỉ đạo, đôn đốc thi hành án.

– Nguồn tuyển dụng cán bộ THADS rất khó khăn, nhất là các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa, trong khi đó, công việc thi hành án vất vả và phức tạp, chế độ đãi ngộ chưa thực sự tạo động lực, tâm lý yên tâm công tác.

– Nhiều vụ việc phải thi hành theo định kỳ hàng tháng, quý kéo dài trong nhiều năm; không ít vụ việc không thể thi hành nhanh do phải áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án hoặc do quy định pháp luật liên quan phải kéo dài thời gian thi hành án; tài sản đã kê biên, tổ chức bán đấu giá nhiều lần, nhưng không có người mua; chưa khắc phục được tình trạng quá tải số việc thi hành án còn tồn đọng qua nhiều năm của một số cơ quan thi hành án.

– Cơ chế quản lý tài sản ở nước ta chưa thật chặt chẽ, nhiều trường hợp tạo cơ hội cho người phải thi hành án trốn tránh nghĩa vụ; ý thức tự giác tuân thủ pháp luật của một số tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc thi hành án còn yếu, nhất là của người phải thi hành án. Một số trường hợp người phải thi hành án cố tình chây ỳ, tẩu tán tài sản để trốn tránh hoặc khiếu nại vượt cấp nhằm mục đích kéo dài việc thi hành án, thậm chí chống đối quyết liệt việc cưỡng chế thi hành án; một số trường hợp đã được giải quyết hết thẩm quyền nhưng vẫn khiếu nại (như vụ bà Kiều Thị Trinh ở Lào Cai, vụ bà Hồ Thị Tha ở An Giang).

– Trình tự, thủ tục về đầu tư xây dựng cơ bản phức tạp; giá cả thị trường có lúc biến động mạnh đã ảnh hưởng lớn đến giá trị gói thầu; thủ tục cấp đất, đền bù giải phóng mặt bằng mất nhiều thời gian.

2.3. Bài học kinh nghiệm

Nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu; sâu sát, quyết liệt trong chỉ đạo; chủ động, kịp thời báo cáo, xin chỉ đạo của Ban Chỉ đạo THADS các cấp; vận dụng tốt kỹ năng dân vận; tăng cường thường xuyên kỷ luật, kỷ cương, đổi mới tác phong, lề lối làm việc theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại.

3. Công tác hành chính tư pháp và đăng ký giao dịch bảo đảm

3.1. Kết quả đạt được

Công tác hành chính tư pháp ngày càng đi vào nền nếp, cải cách về thủ tục hành chính không ngừng được tăng cường, hầu hết các địa phương đã thực hiện cơ chế một cửa” trong lĩnh vực công tác này, thực hiện tốt việc niêm yết công khai quy trình, thủ tục giải quyết từng loại việc, mức thu lệ phí, lịch làm việc, nhằm đảm bảo đáp ứng yêu cầu của người dân, góp phần giữ gìn trật tự an toàn xã hội, ổn định và phát triển kinh tế.

Năm 2009, tổng số việc chứng thực là 32.636.901, với tổng số phí thu được là 111 tỷ 454 triệu 732 nghìn đồng; cấp giấy đăng ký kết hôn cho 587.070 cặp; khai sinh cho 1.211.372 trường hợp, khai tử 293.764 trường hợp; số Phiếu lý lịch tư pháp đã cấp là 107.554 (chi tiết xem Phụ lục STP-03B); giải quyết hồ sơ xin nhập quốc tịch cho 60 trường hợp, giảm 17 trường hợp so với năm 2008; giải quyết trở lại quốc tịch Việt Nam cho 22 trường hợp, giảm 7 trường hợp so với năm 2008; giải quyết cho thôi quốc tịch Việt Nam đối với 8.535 trường hợp, tăng 1.938 trường hợp so với năm 2008, trả lời 965 trường hợp tra cứu quốc tịch cho các Sở Tư pháp các địa phương để cấp Giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam cho đương sự, trả lời 34 trường hợp xác minh quốc tịch cho Cục Lãnh sự Bộ Ngoại giao; tiếp nhận 1.200 hồ sơ xin nhận con nuôi của các nước Pháp, Italia, Tây Ban Nha, Canada, Đan Mạch và Thụy Sỹ, trong đó có 661 hồ sơ đã được giải quyết; số lượng vụ việc kết hôn giữa phụ nữ Việt Nam với đàn ông Đài Loan, Hàn Quốc giảm nhiều so với những năm trước đây, nhiều vụ việc kết hôn không lành mạnh, nhằm mục đích trục lợi, đã được phát hiện và ngăn chặn kịp thời.

Thể chế về công tác hành chính tư pháp được tiếp tục hoàn thiện, đặc biệt việc Quốc hội thông qua Luật Lý lịch tư pháp, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, cho ý kiến dự án Luật Nuôi con nuôi (dự kiến thông qua vào kỳ họp thứ 7 của Quốc hội khoá XII); đã tổ chức triển khai kịp thời Luật Quốc tịch Việt Nam và các văn bản hướng dẫn thi hành, đã tổ chức tập huấn nghiệp vụ công tác quốc tịch tại 03 miền cho Văn phòng UBND cấp tỉnh, Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ quan, đơn vị liên quan. Việc ban hành và triển khai thực hiện Luật Quốc tịch Việt Nam, Luật Lý lịch tư pháp tạo sự đồng thuận xã hội và cơ sở đoàn kết dân tộc theo chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; thống nhất quản lý công tác lý lịch tư pháp (về cơ sở dữ liệu, cấp phiếu lý lịch tư pháp, kiểm tra công tác lý lịch tư pháp…). Xây dựng và ban hành Đề án “Cải cách thủ tục hành chính trong đăng ký hộ tịch và phân cấp việc in, phát hành sổ, biểu mẫu hộ tịch”, trong đó rút gọn khoảng 54,4% tổng số sổ, biểu mẫu hộ tịch so với quy định trước đây, khắc phục cơ bản tình trạng thiếu biểu mẫu hộ tịch.

Công tác phối hợp giải quyết các việc về hộ tịch được các cơ quan Tư pháp địa phương coi trọng, nhất là việc phối hợp với cơ quan Công an trong việc tra cứu, xác minh hồ sơ xin nhập, thôi, trở lại quốc tịch Việt Nam, cấp Phiếu lý lịch tư pháp, cho nhận con nuôi, hôn nhân có yếu tố nước ngoài; công tác cải cách hành chính trong giải quyết các việc thuộc lĩnh vực hành chính tư pháp được một số địa phương quan tâm, chủ động rút ngắn thời hạn giải quyết việc cấp phiếu lý lịch tư pháp, hôn nhân có yếu tố nước ngoài, tạo điều kiện cho đương sự về thời gian và chi phí ăn, ở, đi lại; cán bộ, công chức làm công tác hành chính tư pháp đã ý thức cao trách nhiệm nghề nghiệp đối với người dân, tận tuỵ phục vụ nhân dân; hạn chế đến mức thấp nhất các trường hợp tiêu cực, gây khó dễ trong quá trình giải quyết các hoạt động trong lĩnh vực hành chính tư pháp. Nhiều địa phương đã quan tâm bố trí thêm cán bộ tại Phòng Tư pháp và UBND cấp xã để tiếp nhận, giải quyết hồ sơ chứng thực và các vấn đề hộ tịch của người dân, góp phần khắc phục tình trạng còn khó khăn về nhân lực, giải quyết tình trạng quá tải yêu cầu chứng thực bản sao từ bản chính. Nhiều địa phương cũng tích cực tiến hành kiểm tra công tác chứng thực như các tỉnh Bình Định, Hà Tĩnh, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh, Hoà Bình, Lào Cai, Long An, Quảng Nam, Quảng Ninh, Thái Nguyên…, nhằm khắc phục, hướng dẫn, giải quyết kịp thời các khó khăn, vướng mắc về chuyên môn, nghiệp vụ trong mặt công tác này. Các địa phương cũng đã tích cực mở các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ Tư pháp – Hộ tịch cấp xã và cán bộ tư pháp cấp huyện; cử cán bộ đi đào tạo nguồn tại Trường Trung cấp Luật thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

Công tác kiểm tra, giám sát tình hình giải quyết đăng ký việc nuôi con nuôi tại các địa phương và cơ sở nuôi dưỡng đã được tăng cường, giải quyết cơ bản những vấn đề tồn đọng về hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi với Hoa Kỳ, Thụy Điển và Ai-Len.

Công tác đăng ký giao dịch bảo đảm tiếp tục có những chuyển biến tích cực, thủ tục đăng ký, cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm có sự cải tiến, tạo điều kiện cho khách hàng tiết kiệm thời gian, bảo đảm được tính kịp thời của việc công khai hóa giao dịch và tra cứu thông tin, góp phần tạo an toàn pháp lý cho các giao dịch của người dân và doanh nghiệp. Thể chế về đăng ký giao dịch bảo đảm được khẩn trương hoàn thiện, Bộ đã soạn thảo dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 08/2000/NĐ-CP ngày 10/3/2000 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm, dự thảo Thông tư liên tịch thay thế Thông tư liên tịch số 05/2006/TTLT/BTP-BTNMT ngày 16/6/2005 và Thông tư liên tịch số 03/2006/TTLT-BTP-BTNMT ngày 13/6/2006 của Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường và ban hành các văn bản về hoàn thiện tổ chức bộ máy, cơ chế hoạt động của Cục Đăng ký Quốc gia Giao dịch bảo đảm và các đơn vị thuộc Cục; hướng dẫn, kiểm tra, tập huấn, tuyên truyền góp phần nâng cao năng lực, nhận thức đến mọi đối tượng; quan tâm đến chế độ chính sách và đời sống vật chất, tinh thần đối với cán bộ, công chức, viên chức; công tác tài chính, kế toán chấp hành đúng chế độ, đúng quy định.

Từ ngày 01/10/2008 đến ngày 30/9/2009, các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản trong cả nước đã giải quyết được 166.077 đơn yêu cầu, tăng 30% so với năm 2008, cấp 4.987 văn bản cung cấp thông tin, tăng 36% so với năm 2008; tổng số phí, lệ phí thu được là hơn 8 tỷ đồng, trong đó trích nộp Ngân sách nhà nước khoảng 1,6 tỷ đồng.

Tiếp tục tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý, điều hành trong lĩnh vực hành chính tư pháp. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý hoạt động chứng thực, hộ tịch tại một số địa phương đã thu được kết quả tích cực; Vụ Hành chính Tư pháp, Bộ Tư pháp đã tiến hành nghiệm thu và đưa vào ứng dụng thí điểm phần mềm quản lý hộ tịch, quốc tịch (dự kiến sẽ triển khai trên toàn quốc trong thời gian tới). Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác đăng ký, cung cấp thông tin tại các Trung tâm đăng ký giao dịch bảo đảm; luôn đảm bảo đồng bộ dữ liệu giữa các Trung tâm đăng ký giao dịch bảo đảm một cách nhanh chóng, kịp thời; chỉnh sửa phần mềm đăng ký phù hợp với việc sửa đổi, bổ sung quy định của pháp luật có liên quan; xây dựng phần mềm tạm thời để lưu giữ và tra cứu thông tin của văn bản thông báo về việc kê biên tài sản thi hành án, góp phần thực hiện có hiệu quả quy định của Thông tư số 07/2007/TT-BTP. Tiếp tục thực hiện Dự án đầu tư xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho Hệ thống đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm.

3.2. Những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân

a) Những hạn chế, yếu kém

– Công tác hành chính tư pháp tại một số địa phương còn nhiều lúng túng, chất lượng chưa cao, chưa tạo thuận lợi cho người dân, chưa phục vụ tốt cho công tác hoạch định chiến lược, quy hoạch về kinh tế – xã hội của địa phương. Tình trạng cấp giấy tờ hộ tịch, nhất là giấy khai sinh, cải chính hộ tịch vẫn còn chưa thống nhất, còn có sai sót (như các tỉnh Cà Mau, Hải Dương, Ninh Bình, Quảng Trị, Tây Ninh, Tuyên Quang); có nơi, có lúc, gây khó khăn, tiêu cực, kéo dài thời gian giải quyết một cách tuỳ tiện. Công tác chứng thực đã và đang bộc lộ yếu kém, tiềm ẩn nhiều yếu tố rủi ro gây mất ổn định xã hội, nhất là an ninh nông thôn trong các giao dịch bất động sản; còn tồn tại một số trường hợp thu lệ phí chứng thực không đúng quy định. Tình trạng chậm cung cấp biểu mẫu hộ tịch cho cơ sở ở một số địa phương vẫn còn. Việc giải quyết hồ sơ xin nhập, xin thôi, xin trở lại quốc tịch Việt Nam còn chậm.

– Nhiều Sở Tư pháp chưa quan tâm đến công tác quản lý nhà nước về hành chính tư pháp, nhất là việc hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo… Quản lý nhà nước về đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài ở nhiều địa phương còn mang tính hình thức, chất lượng chưa đảm bảo.

– Quản lý nhà nước trong lĩnh vực con nuôi, nhất là nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài còn nhiều bất cập, yếu kém; còn hiện tượng lợi dụng việc làm con nuôi đối tượng chính sách để được hưởng chính sách ưu đãi của nhà nước (như tỉnh Hà Nam, có 150/227 trường hợp đăng ký nuôi con nuôi không đúng mục đích).

– Công tác quản lý hộ tịch còn thủ công, chưa chuyên nghiệp, bài bản nên thiếu chính xác, không đảm bảo gắn kết với chỉ tiêu phát triển kinh tế – xã hội của địa phương và cả nước; việc thực hiện thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực hộ tịch chưa được đẩy mạnh, nhiều sai phạm chưa được xử lý, chấn chỉnh kịp thời.

– Một số chỉ tiêu, kế hoạch còn mang tính chủ quan, khi thực hiện chậm so với kế hoạch, chưa được hoàn thành (như dự án xây dựng Trụ sở Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm và Trung tâm đăng ký giao dịch bảo đảm Hà Nội, Dự án đầu tư xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho Hệ thống đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm). Việc tuyên truyền về công tác đăng ký giao dịch bảo đảm vẫn chưa được chú trọng. Việc thông báo kê biên tài sản thi hành án chưa nhiều; một số văn bản gửi đến Trung tâm Đăng ký bị từ chối do kê khai thông tin không hợp lệ. Một số đơn yêu cầu đăng ký khách hàng gửi cho các Trung tâm đăng ký vẫn bị sai sót nhiều.

b) Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém

– Biên chế cán bộ thuộc Phòng Tư pháp hành chính của các Sở Tư pháp còn mỏng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ còn hạn chế. Khối lượng công việc mà cán bộ Tư pháp – Hộ tịch cấp xã phải đảm nhiệm rất lớn (12 nhiệm vụ thường xuyên và các nhiệm vụ khác được giao) trong khi biên chế còn phổ biến là 01 cán bộ Tư pháp – Hộ tịch cấp xã, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ còn nhiều hạn chế và thường xuyên phải luân chuyển vị trí công tác; một số địa phương có tỷ lệ cán bộ tư pháp cấp xã chưa qua đào tạo luật khá cao.

– Sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc cấp phiếu lý lịch tư pháp, cải chính các giấy tờ hộ tịch chưa chặt chẽ, gây khó khăn cho người dân.

– Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho công tác chứng thực, hộ tịch chưa đáp ứng được yêu cầu công việc; một số UBND cấp xã chưa thật sự quan tâm đến hoạt động chứng thực; công tác thu chi, quản lý lệ phí chứng thực của nhiều xã, phường, thị trấn chưa được thực hiện thống nhất theo quy định của pháp luật. Việc ứng dụng công nghệ thông tin còn nhiều hạn chế.

– Một số quy định về phỏng vấn đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài chưa rõ ràng, cụ thể dẫn đến việc hiểu và áp dụng các quy định về điều kiện kết hôn, nhất là kết hôn với người nước ngoài có sự khác nhau giữa các địa phương, trong khi công tác chỉ đạo, hướng dẫn, giải đáp về chuyên môn, nghiệp vụ còn chưa tích cực, kịp thời; trình độ của cán bộ làm công tác phỏng vấn còn hạn chế.

– Thể chế về nuôi con nuôi còn nhiều kẽ hở, nhất là quy định liên quan đến nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài (như vấn đề xác minh nguồn gốc trẻ bị bỏ rơi, quy định về các loại bệnh hiểm nghèo với trẻ sống tại gia đình cho làm con nuôi người nước ngoài).

– Việc nắm bắt và xử lý thông tin trong đăng ký giao dịch bảo đảm còn hạn chế, chưa lường trước hết những khó khăn, vướng mắc phát sinh trên thực tế, nên một số chỉ tiêu, kế hoạch còn mang tính chủ quan, khi thực hiện chậm so với kế hoạch; việc kiểm tra, đôn đốc thực hiện kế hoạch, chương trình công tác có lúc chưa kịp thời, thường xuyên, thiếu quyết liệt; năng lực cán bộ đăng ký giao dịch bảo đảm chưa đồng đều; cơ chế tổ chức, hoạt động chưa thực sự khoa học; vẫn còn tồn tại những thủ tục chưa thuận lợi cho người dân…

3.3. Bài học kinh nghiệm

Trong lĩnh vực hành chính tư pháp, chú trọng công tác hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra; thực hiện cải cách thủ tục hành chính và ứng dụng công nghệ thông tin; quy chế hoá cơ chế phối hợp với các cơ quan tại địa phương, đặc biệt là cơ quan Công an.

4. Công tác bổ trợ tư pháp

4.1. Kết quả đạt được

Công tác bổ trợ tư pháp có những khởi sắc mới, nhất là trong hoạt động luật sư, công chứng, bán đấu giá tài sản, góp phần ổn định và tăng cường chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao chất lượng phát triển các ngành và vùng kinh tế, tạo an toàn pháp lý cho thị trường bất động sản cũng như bảo đảm đáp ứng nhu cầu của tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp.

Bộ đã xây dựng và trình Ban Bí thư ban hành Chỉ thị số 33-CT/TW ngày 30/3/2009 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của luật sư; ban hành Kế hoạch số 74/KH-BCS ngày 16/7/2009 về việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 33-CT/TW; trình Chính phủ ban hành Quyết định số 74/2009/QĐ-TTg ngày 07/5/2009 về chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp; Quyết định số 123/QĐ-TTg ngày 18/01/2010 phê duyệt Đề án phát triển đội ngũ luật sư phục vụ hội nhập kinh tế quốc tế từ năm 2010 đến năm 2020. Xây dựng và trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và ban hành các Đề án xây dựng Quy hoạch phát triển nghề công chứng Việt Nam; Đề án đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác giám định tư pháp; Nghị định thay thế Nghị định số 05/2005/NĐ-CP về bán đấu giá tài sản. Đồng thời, phối hợp với các bộ, ngành xây dựng các Thông tư hướng dẫn thực hiện các hoạt động bổ trợ tư pháp. Nhiều Sở Tư pháp đã tham mưu cho UBND cấp tỉnh ban hành Đề án phát triển nghề luật sư, Đề án phát triển các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh.

Trên cơ sở Chỉ thị số 33-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Ban Cán sự Đảng, Lãnh đạo Bộ đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, tổ chức liên quan chỉ đạo sát sao việc tổ chức thành công Đại hội đại biểu luật sư toàn quốc lần thứ nhất, thành lập Liên Đoàn Luật sư Việt Nam; chỉ đạo nghiên cứu, đề xuất việc thành lập tổ chức Đảng đoàn của Liên đoàn luật sư Việt Nam và hướng dẫn thành lập tổ chức Đảng ở các Đoàn Luật sư. Tính đến ngày 31/10/2009, cả nước có 2.687 tổ chức luật sư, trong đó có 441 công ty luật với 5.714 luật sư đang hành nghề.

Bộ tích cực hướng dẫn các địa phương tháo gỡ khó khăn trong áp dụng Luật Công chứng và xã hội hoá hoạt động công chứng; chỉ đạo quyết liệt việc chuyển giao thẩm quyền chứng thực các hợp đồng, giao dịch về bất động sản từ Ủy ban nhân dân cấp xã cho tổ chức hành nghề công chứng tại địa bàn có tổ chức hành nghề công chứng hoạt động, tính đến ngày 08/01/2009 đã có 45/63 tỉnh, thành phố thực hiện việc chuyển giao, 18 tỉnh, thành phố chưa tiến hành chuyển giao, trong đó có 10 tỉnh, thành phố đang lấy ý kiến các sở, ban, ngành để trình UBND tỉnh quyết định. Một số địa phương quán triệt và triển khai thực hiện tốt chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng, trình UBND cấp tỉnh ban hành Đề án phát triển các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh, bước đầu mang lại thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp. Tính đến ngày 31/10/2009, cả nước đã có 131 Phòng công chứng, 123 Văn phòng công chứng/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, với tổng cộng 532 công chứng viên; đã công chứng được 906.469 việc, nộp ngân sách: 82 tỷ 510 triệu 60 nghìn đồng.

Hiệu quả công tác giám định tư pháp tiếp tục được tăng cường; chế độ, chính sách cho giám định viên và sự đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất cho công tác giám định bước đầu được nâng cao, dần thu hút các giám định viên tư pháp giỏi và nâng cao chất lượng giám định tư pháp. Đến nay, cả nước đã có 33 Trung tâm pháp y và 16 Phòng Giám định pháp y trực thuộc; 11/30 tỉnh có bệnh viện tâm thần được thành lập Trung tâm giám định pháp y tâm thần; tổng số giám định viên tư pháp là 2.409 người.

Công tác quản lý nhà nước về bán đấu giá tài sản được khẳng định, tạo được sự ổn định, nâng cao hiệu quả. Bộ đã soạn thảo, trình Chính phủ xem xét, ban bành Nghị định về bán đấu giá tài sản thay thế Nghị định số 05/2005/NĐ-CP; nghiên cứu, xây dựng Đề án năng cao năng lực cho đội ngũ đấu giá viên nhằm từng bước nâng cao trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ đấu giá viên. Nhiều Sở Tư pháp đã quan tâm quản lý, tạo điều kiện hoạt động cho các Trung tâm bán đấu giá tài sản nên hoạt động bán đấu giá tài sản có nhiều khởi sắc; tại một số tỉnh, hoạt động bán đấu giá tài sản đã có đóng góp tương đối thường xuyên cho nguồn thu của địa phương, hạn chế mức thấp nhất việc thất thoát tài sản Nhà nước. Năm 2009, các Trung tâm bán đấu giá đã tiến hành bán đấu giá thành 3.580 việc với số phí thu được khoảng 87 tỷ 12 triệu 714 nghìn đồng (tăng 51 tỷ 11 triệu 415 nghìn đồng, tương đương với tăng 142% so với năm 2008).

Hoạt động tư vấn pháp luật của các tổ chức, đoàn thể tiếp tục được duy trì, phát triển; Bộ đang tiếp tục hoàn chỉnh dự thảo Thông tư hướng dẫn Nghị định số 77/2008/NĐ- CP về tư vấn pháp luật; công tác quản lý trọng tài thương mại cũng được quan tâm, củng cố một bước thông qua việc hoàn thiện thể chế về lĩnh vực này, dự án Luật Trọng tài thương mại đã trình Quốc hội cho ý kiến. Hiện nay, cả nước có 07 Trung tâm trọng tài thương mại với tổng số 207 trọng tài viên.

4.2. Những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân

a) Những hạn chế, yếu kém

– Chất lượng hoạt động của luật sư còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế; tỷ lệ án hình sự có luật sư tham gia còn rất thấp; tình trạng luật sư tham gia vụ án hình sự bắt buộc còn hình thức, nhiều trường hợp chỉ được hợp lý hoá về mặt thủ tục; một số trường hợp luật sư có biểu hiện chưa đúng đắn về lập trường chính trị, tư tưởng, thậm chí vi phạm pháp luật; công tác quản lý, kiểm tra hoạt động của luật sư, nhất là đối với luật sư nước ngoài còn chưa hiệu quả; nhiều địa phương chưa được chú trọng công tác phát triển luật sư, chưa có Đề án phát triển nghề luật sư trên địa bàn tỉnh, dẫn đến sự phát triển của luật sư thiếu cân đối giữa các vùng, miền, nhất là ở các tỉnh miền núi khó khăn. Đặc biệt chưa thu hút được giới luật sư tham gia đào tạo theo Đề án “Đào tạo chuyên gia pháp luật, luật sư phục vụ yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn 2008 – 2010”. Tỉnh Lai Châu chưa thành lập được Đoàn luật sư.

– Việc xã hội hóa hoạt động công chứng mới được triển khai còn nhiều bất cập, mang tính tự phát và thiếu đồng đều giữa các vùng miền; nhiều địa phương chưa chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cần thiết để thực hiện Luật Công chứng, đặc biệt là chủ trương xã hội hoá. Chất lượng công chứng chưa hoàn toàn đáp ứng tốt yêu cầu xã hội. Công tác chuyển giao chứng thực hợp đồng, giao dịch sang công chứng có nơi còn vội vàng, không căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh địa phương, có nơi chưa thực hiện đúng hướng dẫn của Bộ Tư pháp; hiện tượng công chứng sai quy định của pháp luật vẫn còn; việc mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công chứng viên chưa được thực hiện đầy đủ; sự phối hợp, chia sẻ thông tin giữa Phòng công chứng và Văn phòng công chứng chưa hiệu quả; quy hoạch tổ chức hành nghề công chứng ở nhiều địa phương còn lúng túng; nhiều Sở Tư pháp chưa tham mưu cho UBND tỉnh ban hành Đề án phát triển các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh, chưa có giải pháp hữu hiệu để quản lý hoạt động của các Văn phòng công chứng.

– Quản lý nhà nước về giám định tư pháp còn nhiều hạn chế, thiếu thực chất; vai trò quản lý chung của Ngành Tư pháp còn mờ nhạt; kinh phí, cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ công tác còn thiếu và bất cập; đội ngũ giám định viên tư pháp còn yếu về trình độ chuyên môn, không đồng đều và thiếu trong nhiều lĩnh vực; chưa thu hút được các cơ quan, tổ chức chuyên môn, các chuyên gia giỏi trong và ngoài khu vực nhà nước tham gia vào hoạt động giám định để thực hiện mục tiêu xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp.

– Việc quản lý nhà nước đối với công tác bán đấu giá tài sản ở nhiều địa phương còn bất cập; một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương mới tập trung quản lý Trung tâm bán đấu giá tài sản, chưa thực hiện được vai trò quản lý nhà nước thống nhất về bán đấu giá tài sản ở địa phương.

b) Nguyên nhân của hạn chế, yếu kém

– Các chiến lược tổng thể về các hoạt động bổ trợ tư pháp đang trong quá trình hoàn thiện và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, dự kiến ban hành trong năm 2010 như Đề án quy hoạch tổng thể phát triển các tổ chức hành nghề công chứng ở Việt Nam, Đề án đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp, Đề án phát triển đội ngũ luật sư phục vụ yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế đến năm 2020; các địa phương thiếu quy hoạch tổng thể và chi tiết giữa các vùng, miền trong việc thành lập các tổ chức công chứng, luật sư.

– Sở Tư pháp và Đoàn luật sư ở một số tỉnh chưa có cơ chế phối hợp nên sự quản lý còn lỏng lẻo; nhiều Sở Tư pháp thiếu cán bộ quản lý có kinh nghiệm và trình độ phù hợp; một số Đoàn luật sư mất đoàn kết nội bộ trong Ban Chủ nhiệm, hoặc các thành viên Ban Chủ nhiệm có tư tưởng gia đình trị nên không chú trọng đến việc phát triển đội ngũ luật sư; vai trò của Liên đoàn luật sư Việt Nam chưa rõ nét trong các hoạt động của luật sư (như về kiện toàn tổ chức của các Đoàn luật sư, phối hợp quản lý luật sư hành nghề, triển khai các đề án về tăng cường năng lực cho đội ngũ luật sư…).

– Một số địa phương nhận thức chưa đầy đủ, sâu sắc về chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng dẫn đến chưa có đánh giá, dự báo sát với tình hình phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương hoặc đánh giá còn hạn chế nên chưa có bước đi thích hợp trong xã hội hóa hoạt động công chứng, chưa có quy hoạch, định hướng hoặc có nhưng thiếu cơ sở, không rõ ràng. Năng lực, trình độ một số công chứng viên còn hạn chế, có trường hợp nhầm lẫn thẩm quyền công chứng và chứng thực.

– Thể chế về giám định tư pháp chưa hoàn thiện; các bộ, ngành, địa phương chưa chú trọng phát triển tổ chức đội ngũ giám định viên; chế độ đãi ngộ đối với hoạt động giám định còn bất cập nên chưa thể huy động chuyên gia giỏi tham gia vào hoạt động giám định tư pháp.

– Một số bộ, ngành hữu quan chưa tích cực phối hợp trong việc xây dựng các văn bản, đề án trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp.

4.3. Bài học kinh nghiệm

Đẩy nhanh việc hoàn thiện thể chế để tạo cơ sở pháp lý triển khai thực hiện đầy đủ các hoạt động bổ trợ tư pháp; chủ động phối hợp với các cấp, các ngành tăng cường sự quan tâm, nâng cao chất lượng các hoạt động bổ trợ tư pháp, nhất là về giám định tư pháp.

5. Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý, báo chí, xuất bản

5.1. Kết quả đạt được

Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý, báo chí, xuất bản tiếp tục được củng cố, tăng cường, đổi mới phương thức hoạt động tuyên truyền, phổ biến, cung cấp thông tin, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, đảm bảo thông tin pháp luật và thông tin chung của Đảng, Nhà nước được triển khai kịp thời, chính xác đến với nhân dân, góp phần nâng cao nhân thức pháp luật và đảm bảo quyền lợi cho người dân, duy trì trật tự, an toàn xã hội, góp phần tạo môi trường ổn định cho sự phát triển kinh tế của đất nước.

a) Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Công tác xây dựng thể chế về phổ biến, giáo dục pháp luật được chú trọng. Ngay từ đầu năm, Bộ đã ban hành các văn bản, kế hoạch hướng dẫn công tác phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2009 và một số năm tiếp theo, trong đó đề ra những nhiệm vụ trọng tâm của công tác năm 2009 (Kế hoạch số 1760/KH-ĐA thực hiện Đề án giai đoạn 2009-2010; Kế hoạch thực hiện Đề án 4 năm 2009, Kế hoạch kiểm tra công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ). Thành lập Ban soạn thảo và Tổ biên tập xây dựng dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật; trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo Quyết định về xây dựng, quản lý, khai thác tủ sách pháp luật thay thế Quyết định số 1067/QĐ-TTg; xây dựng dự thảo Thông tư liên tịch giữa Bộ Tư pháp – Bộ Tài chính hướng dẫn việc quản lý và sử dụng kinh phí bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật thay thế Thông tư số 63/2005/TT-BTC; dự thảo Quy chế Báo cáo viên pháp luật thay thế Quy chế ban hành kèm theo Quyết định số 210/1999/QĐ-BTP ngày 09/7/1999 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp; thực hiện một số hoạt động phục vụ việc chuẩn bị xây dựng dự án Luật Hoà giải… Hiện nay, Bộ đang phối hợp với Văn phòng Trung ương Đảng theo dõi, đôn đốc các bộ, ngành, địa phương thực hiện Kế hoạch tổng kết 05 năm thực hiện Chỉ thị số 32/CT-TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khoá IX về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân(4). Bộ và một số Sở Tư pháp đã ký Chương trình phối hợp với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về tăng cường thực hiện công tác hoà giải ở cơ sở; ký với Công đoàn Viên chức Việt Nam Chương trình phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2009 – 2011.

Việc thực hiện các Đề án về phổ biến, giáo dục pháp luật có bước chuyển biến tích cực, huy động nguồn lực dành cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở bộ, ngành, địa phương; Bộ và các cơ quan Tư pháp địa phương đã tích cực tổ chức phổ biến các Luật và các Nghị định hướng dẫn thi hành thuộc phạm vi quản lý của Ngành như Luật Ban hành VBQPPL, Luật THADS, Luật Quốc tịch Việt Nam. Các bộ, ngành, địa phương tiếp tục có những chuyển biến trong nhận thức và hành động về vai trò của pháp luật và công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong quản lý, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội. Một số UBND tỉnh đã phê duyệt mô hình sinh hoạt "Ngày Pháp luật", qua đó giúp cán bộ, công chức thường xuyên cập nhật các quy định của pháp luật liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của mình để giải quyết công việc một cách hiệu quả, đúng pháp luật.

Hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật được đổi mới và thực hiện có hiệu quả. Gần 20 tỉnh tổ chức Hội thi tìm hiểu pháp luật với các chủ đề phong phú: “Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn với kiến thức pháp luật và năng lực điều hành công việc”, “Cán bộ tư pháp xã giỏi”, “Tuyên truyền viên pháp luật giỏi”, “cán bộ Tư pháp – Hộ tịch giỏi”, “Tìm hiểu Pháp lệnh về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn”, “Tìm hiểu Luật Phòng – chống bạo lực gia đình”, “Đưa thông tin pháp luật về cơ sở”… (Lào Cai, Điện Biên, Quảng Ninh, Quảng Bình, TP.HCM, Hậu Giang, Đồng Tháp, An Giang, Bình Phước,…).

Công tác hoà giải được các Sở Tư pháp và chính quyền cơ sở quan tâm, thường xuyên tổ chức bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ hoà giải, tạo điều kiện cho hoà giải viên tại cơ sở hoà giải đúng pháp luật, duy trì tình làng nghĩa xóm. Kết quả hòa giải thành trên toàn quốc là 81,83%; một số địa phương đạt tỷ lệ trên 90% (như: Hải Phòng: 90,57%, Hoà Bình: 92%, Khánh Hoà: 92,42%, Lào Cai: 95,16%). Nhiều địa phương đã tổ chức thành công Hội thi Hoà giải viên giỏi như thành phố Hà Nội, tỉnh Bắc Giang.

Nhiều tỉnh chú trọng tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật và kỹ năng, nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ tư pháp cấp xã, báo cáo viên, tuyên truyền viên, hoà giải viên, cán bộ pháp chế các sở – ban – ngành, lãnh đạo Phòng Tư pháp, Văn phòng UBND các cấp, tổ viên tổ hoà giải. Việc phát hành băng, đĩa CD, DVD tuyên truyền pháp luật, giải đáp pháp luật, kể cả bằng tiếng dân tộc ít người cũng được chú trọng.

b) Công tác trợ giúp pháp lý

Tiếp tục xây dựng “Đề án tăng cường trợ giúp pháp lý (TGPL) cho các huyện nghèo” trên cơ sở ghép 02 Đề án “Tăng cường công tác TGPL và truyền thông pháp luật cho đồng bào các dân tộc vùng Tây Bắc giai đoạn 2009-2015, định hướng đến 2020” và Đề án “Tăng cường công tác TGPL tại 62 huyện nghèo”; dự thảo Chiến lược phát triển TGPL ở Việt Nam giai đoạn 2010 – 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Ban hành 12 văn bản, đang nghiên cứu, xây dựng 06 Thông tư, Quyết định, Đề án để triển khai thi hành Luật TGPL.

Tổ chức TGPL ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ngày càng được hoàn thiện. Đặc biệt, 63/63 Trung tâm TGPL đã thực hiện việc đánh giá, thẩm định chất lượng vụ việc TGPL do các cộng tác viên và Trợ giúp viên pháp lý thực hiện. Các mô hình TGPL tại cơ sở tiếp tục được mở rộng, đến nay có 117 Chi nhánh, 365 Tổ cộng tác viên ở cấp huyện và 4.005 Câu lạc bộ TGPL ở cấp xã. Đội ngũ cán bộ, cộng tác viên TGPL được tăng cường, nâng cao trình độ; trong 63 Trung tâm TGPL có 746 cán bộ trợ giúp pháp lý, trong đó có 206 Trợ giúp viên pháp lý. Một số địa phương có nhiều Trợ giúp viên pháp lý như: thành phố Hà Nội (10), tỉnh Đồng Tháp (8), tỉnh Bình Định (7). Trong toàn quốc hiện có 8.043 Cộng tác viên TGPL, trong đó có 1.022 luật sư. Số lượng các Văn phòng luật sư, Công ty luật, Trung tâm tư vấn pháp luật thuộc các tổ chức chính trị – xã hội như Mặt trận Tổ quốc, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Liên đoàn lao động và các tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp như Hội Luật gia, Hội Nhà báo, Hội Khoa học kỹ thuật,… đăng ký tham gia thực hiện trợ giúp pháp lý ngày càng tăng, đến tháng 10/2009 toàn quốc đã có trên 150 Văn phòng luật sư và 60/85 Trung tâm tư vấn pháp luật đăng ký tham gia thực hiện trợ giúp pháp lý.

Phạm vi hoạt động TGPL ngày càng mở rộng, hoạt động TGPL lưu động đến các địa bàn vùng sâu, vùng xa tiếp tục được đẩy mạnh, mang lại hiệu quả thiết thực, đi vào chiều sâu, đáp ứng nhu cầu TGPL đa dạng của các đối tượng, góp phần nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân. Nhiều Trung tâm đã có sự sáng tạo, đổi mới trong hoạt động như: tổ chức các buổi trợ giúp lưu động vào buổi tối hoặc thứ bảy, chủ nhật để tranh thủ thời gian rảnh rỗi của người dân, thu hút đông đảo người dân tham dự; một số tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên, miền Tây Nam Bộ đã tranh thủ tổ chức TGPL vào mùa khô, tránh mùa mưa, tăng cường TGPL lưu động kết hợp tổ chức sinh hoạt chuyên đề pháp luật cho đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, đi lại còn có nhiều khó khăn hoặc đi đến những địa bàn mới để cố gắng “phủ sóng” TGPL, tập trung phổ biến, trao đổi các vấn đề pháp luật mới, tăng cường giải đáp các vướng mắc pháp luật của người dân.

Đến 31/10/2009, các Trung tâm đã thực hiện trợ giúp cho 118.796 đối tượng, trong đó có 33.556 đối tượng nghèo, 17.446 đối tượng chính sách, 31.806 người dân tộc, 5.626 trẻ em, 2.542 người già, 1.171 người tàn tật, 30.417 đối tượng khác (chi tiết xem Phụ lục III). Các vụ việc được thực hiện chủ yếu tại cơ sở: 65.784 vụ việc, chiếm 75%.

Triển khai thực hiện chính sách TGPL trong Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006 – 2010 và Chương trình 135 giai đoạn II, Thông tư số 07/2008/TT-BTP hướng dẫn thực hiện chính sách trợ giúp pháp lý trong Chương trình phát triển kinh tế – xã hội tại các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi giai đoạn 2006 – 2010 và Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006 – 2010, Bộ đã chỉ đạo triển khai các hoạt động như thành lập các Câu lạc bộ TGPL; tập huấn kiến thức pháp luật; tổ chức TGPL lưu động; tăng cường công tác truyền thông… Đến nay, trong toàn quốc đã thành lập được 1.420 Câu lạc bộ TGPL theo Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo và 1.565 Câu lạc bộ TGPL theo Chương trình 135, hỗ trợ cho hàng ngàn Câu lạc bộ nông dân với pháp luật. Trong năm 2009, các Trung tâm đã thực hiện được trên 1.050 đợt TGPL lưu động đến các xã nghèo, xã thuộc vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, biên giới.

Quỹ TGPL Việt Nam sau 01 năm hoạt động theo Quyết định số 84/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Quỹ TGPL đã và đang dần đi vào nền nếp, năm 2009 đã hỗ trợ cho hoạt động TGPL ở 51 địa phương có khó khăn.

c) Công tác báo chí, xuất bản

Đổi mới về nội dung và hình thức cung cấp thông tin, chuyển tải kịp thời thông tin về hoạt động của Ngành, đáp ứng tốt hơn yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ của Ngành; bám sát tình hình thực tiễn; nâng cao chất lượng, tính thời sự và hàm lượng khoa học của các tin, bài, ấn phẩm phát hành(5).

Triển khai thực hiện Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của Báo Pháp luật Việt Nam, Đề án Báo điện tử Báo Pháp luật Việt Nam.

Triển khai Đề án kiện toàn tổ chức, đổi mới hoạt động của Nhà xuất bản Tư pháp giai đoạn 2009 – 2015, định hướng đến năm 2020; nửa cuối năm 2009 đã giải quyết dứt điểm những vướng mắc, tồn đọng trong phát hành biểu mẫu, sổ sách và các loại tài liệu do Nhà xuất bản Tư pháp chủ trì thực hiện; kịp thời tổ chức bản thảo, tuyên truyền, giới thiệu các Nghị quyết, Luật, Pháp lệnh của Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội tới mọi đối tượng bạn đọc, cung cấp tài liệu cho cán bộ, cơ quan thuộc Ngành Tư pháp.

5.2. Những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân

a) Những hạn chế, yếu kém

– Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nhiều nơi còn mang tính hình thức (như các tỉnh Ninh Thuận, Quảng Trị,…), chưa chú trọng đến các vấn đề bức xúc của người dân; việc tổ chức các biện pháp và hình thức phổ biến, tuyên truyền mới như điều tra thăm dò dư luận xã hội, ký cam kết không vi phạm pháp luật, Ngày pháp luật… chưa được tổng kết, đánh giá cụ thể để có hướng nhân rộng; việc phổ biến, giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức bộc lộ nhiều hạn chế, hiệu quả chưa cao; hoạt động của Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở một số địa phương còn mang tính hình thức và thụ động.Vai trò là cơ quan thường trực thực hiện các Chương trình PBGDPL của Chính phủ và tham mưu cho Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật các cấp chưa được Bộ và các Sở Tư pháp phát huy thường xuyên. Một số cấp xã có tỷ lệ hoà giải ở cơ sở đạt tỷ lệ thấp. Tài liệu tuyên truyền, phổ biến pháp luật bằng tiếng dân tộc vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu pháp luật của cán bộ, đồng bào dân tộc miền núi.

– Chất lượng vụ việc TGPL ở một số Trung tâm còn chưa cao; hoạt động TGPL trong tố tụng còn hạn chế. Một số vụ việc TGPL hoặc lợi dụng danh nghĩa TGPL sai chính sách dẫn đến khiếu kiện không đúng, gây khó khăn cho địa phương; một số trợ giúp viên pháp lý thiếu trách nhiệm khi tham gia trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng.

– Thông tin hoạt động tư pháp, nhất là các thông tin liên quan đến hoạt động của Đảng và Nhà nước, các thông tin về tuyên truyền, phổ biến, tìm hiểu pháp luật còn hạn chế. Hoạt động của Báo Pháp luật Hoa văn kém hiệu quả và phải tạm đình chỉ hoạt động. Các ấn phẩm của Tạp chí Dân chủ và Pháp luật thiếu tính đột phá và chưa trở thành diễn đàn khoa học, thu hút sự tham gia đông đảo, có chất lượng của các nhà khoa học trong và ngoài Ngành.

b) Nguyên nhân của hạn chế, yếu kém

– Chưa có nhiều đổi mới thực chất đối với các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý, cũng như báo chí, xuất bản, tuy rộng nhưng chưa sâu, chưa có tác động sâu sắc đối với nhận thức của cán bộ, chuyên viên Ngành Tư pháp và người dân.

– Các cấp uỷ đảng, chính quyền một số địa phương, đơn vị chưa thực sự quan tâm đẩy mạnh công tác TGPL, phổ biến, giáo dục pháp luật; thiếu sự chỉ đạo linh hoạt trong việc vận dụng ở từng địa phương có điều kiện, hoàn cảnh khác nhau; đội ngũ cán bộ làm công tác TGPL, PBGDPL, hòa giải ở cơ sở còn hạn chế về trình độ chuyên môn; chất lượng đội ngũ trợ giúp viên pháp lý, báo cáo viên còn thấp; sự phối hợp công tác giữa các bộ, ngành, chính quyền địa phương chưa thường xuyên.

– Một số địa phương chưa quan tâm đầu tư nguồn lực (biên chế, cơ sở vật chất và kinh phí) cho công tác TGPL, PBGDPL; công tác quản lý chất lượng vụ việc ở một số Trung tâm TGPL còn chưa chặt chẽ; việc phát triển nhân lực cho công tác TGPL, PBGDPL chưa được quan tâm.

6. Công tác xây dựng Ngành, đào tạo và nghiên cứu khoa học

6.1. Công tác xây dựng Ngành

a) Kết quả đạt được

Cùng với năm 2008, công tác tổ chức, cán bộ tiếp tục được xác định là “Năm tổ chức cán bộ” – một trong những nhiệm vụ trọng tâm năm 2009 của Ngành. Toàn Ngành đã chú trọng công tác hoàn thiện thể chế, quy hoạch, hướng dẫn, đào tạo, sắp xếp bổ nhiệm, luân chuyển cán bộ, trong đó đã quan tâm đến cán bộ trẻ, nữ. Qua một năm thực hiện, công tác cán bộ của Bộ, Ngành nhận được sự đồng tình ủng hộ của cán bộ, công chức, viên chức trong và ngoài Ngành.

Đã ban hành Quy chế làm việc của Bộ; các Quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của 25/27 đơn vị giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước và một số đơn vị sự nghiệp thuộc Bộ; đã thành lập Trường Trung cấp Luật Buôn Ma Thuột; tổ chức Lễ ra mắt đối với các đơn vị mới được thành lập là Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật, Cơ quan đại diện của Bộ tại thành phố Hồ Chí Minh (theo Nghị định số 93/2008/NĐ-CP) và Tổng cục THADS (theo Nghị định số 74/2009/NĐ-CP); triển khai hoàn thiện thể chế và chuẩn bị thành lập các đơn vị mới là Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Cơ quan quản lý bồi thường nhà nước (theo Luật Lý lịch tư pháp, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước). Đây là lần đầu tiên trong gần 65 năm xây dựng và phát triển, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các đơn vị thuộc Bộ được kiện toàn đồng bộ, đảm bảo phân định cụ thể, rõ ràng, không chồng chéo hoặc bỏ sót các lĩnh vực, nhiệm vụ công tác được giao.

Thực hiện Nghị quyết số 42-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trên cơ sở các văn bản hướng dẫn thi hành, Ban Cán sự Đảng Bộ Tư pháp đã có Nghị quyết số 72-NQ/BCS ngày 15 tháng 7 năm 2009 phê duyệt quy hoạch chức danh Vụ trưởng, Phó Vụ trưởng và tương đương đến năm 2015 đối với các đơn vị thuộc Bộ; hướng dẫn các đơn vị thuộc Bộ tiến hành, rà soát và hoàn thiện quy hoạch lãnh đạo cấp Phòng. Đặc biệt, củng cố một bước quan trọng đội ngũ cán bộ lãnh đạo của hệ thống cơ quan THADS từ Trung ương tới các địa phương. Cho đến nay, về cơ bản, cán bộ lãnh đạo chủ chốt của các đơn vị thuộc Bộ, Cục và các Chi Cục THADS trên toàn quốc đã được kiện toàn; thực hiện việc sắp xếp, kiện toàn cơ bản cán bộ lãnh đạo cấp Vụ, cấp Phòng các đơn vị thuộc Bộ; tính đến ngày 31/12/2009, đã bổ nhiệm lãnh đạo 24 cấp Vụ và 02 cán bộ kiêm nhiệm lãnh đạo cấp Vụ, bổ nhiệm 91 lãnh đạo cấp Phòng, bổ nhiệm lại 03 lãnh đạo cấp phòng.

Các đơn vị trong ngành đã bố trí, sử dụng công chức, viên chức nữ phù hợp với đặc tính về giới, điều kiện, hoàn cảnh của công chức, viên chức nữ. Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ của các đơn vị trong ngành phối hợp với cấp uỷ, chính quyền và các tổ chức, đoàn thể phát hiện, giới thiệu công chức, viên chức nữ đủ tiêu chuẩn để xem xét, bổ nhiệm vào chức vụ lãnh đạo (từ cấp Phòng trở lên), chức danh chuyên môn chủ chốt và thực hiện kịp thời, đúng pháp luật các chế độ, chính sách đối với công chức, viên chức nữ.

Thực hiện chính sách luân chuyển cán bộ, cử cán bộ trẻ, có triển vọng về địa phương để hỗ trợ cho các địa bàn vùng sâu, vùng xa, nhằm tạo nguồn lãnh đạo kế cận cho Bộ, Ngành(6). Công tác tổ chức cán bộ đã có sự linh hoạt hơn, tạo được sự ổn định cho một số đơn vị thuộc Bộ, nhất là Trường Đại học Luật Hà Nội.

Công tác bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, cập nhật kiến thức mới cho đội ngũ cán bộ, công chức của Ngành tiếp tục được quan tâm, nhất là với đội ngũ cán bộ tư pháp cấp huyện và xã, tạo điều kiện để cán bộ được cập nhật kiến thức, nhằm nâng cao trình độ về chính trị và chuyên môn nghiệp vụ, phục vụ công tác tốt hơn.

Để kiện toàn tổ chức cơ quan Tư pháp và tăng cường đội ngũ cán bộ tư pháp địa phương theo yêu cầu nhiệm vụ mới, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT-BTP-BNV hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Phòng Tư pháp thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện và công tác tư pháp của Uỷ ban nhân dân cấp xã (Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT-BTP-BNV); đồng thời hướng dẫn, chỉ đạo các Sở Tư pháp tham mưu cho UBND tỉnh kiện toàn tổ chức cán bộ Tư pháp địa phương. Qua đó, tổ chức của các cơ quan tư pháp địa phương được kiện toàn một bước.

Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã tích cực, chủ động triển khai thực hiện Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT-BTP-BNV, Công văn số 972/BTP-TCCB ngày 01/4/2009 của Bộ Tư pháp về việc tổ chức thực hiện kết luận của Thủ tướng Chính phủ, Công văn số 60-CV/BCS ngày 10/6/2009 của Ban Cán sự đảng Bộ Tư pháp về việc đề nghị quan tâm kiện toàn, củng cố cơ quan tư pháp địa phương. Tính đến ngày 31/12/2009, 55 tỉnh đã ban hành Quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp. Nhìn chung chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các Sở Tư pháp được ban hành là phù hợp và thống thất với Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT-BTP-BNV, trong đó cơ cấu tổ chức đã tăng từ 01 đến 02 đơn vị; có 45 Sở Tư pháp đã thành lập Phòng Bổ trợ tư pháp; 31 tỉnh đã có văn bản hướng dẫn UBND cấp huyện quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Phòng Tư pháp.

Nhiều bộ, ngành đã ban hành quy định về quản lý, tổ chức và phạm vi hoạt động của cán bộ pháp chế; tổ chức Hội nghị tập huấn nghiệp vụ pháp chế để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ pháp chế các cơ quan, đơn vị (như Bộ Quốc phòng; Bộ Lao động, thương binh và xã hội; Bộ Văn hoá, thể thao và du lịch; Bộ Ngoại giao, Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và Môi trường…).

b) Những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân

– Việc kiện toàn tổ chức cán bộ tư pháp địa phương còn chậm; mặc dù đã có Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT-BTP-BNV nhưng nhiều đia phương vẫn chưa quy định cụ thể chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của phòng tư pháp cấp huyện và tư pháp cấp xã ,việc kiện toàn tổ chức pháp chế còn chậm nhất là cán bộ pháp chế cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, còn nhiều cán bộ kiêm nhiệm, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ này còn hạn chế. Nhìn chung trong toàn Ngành mới chỉ kiện toàn về chức năng nhiệm vụ mà chưa tăng biên chế bổ sung cán bộ nên tình trạng quá tải công việc vẫn còn xảy ra phổ biến.

– Số lượng và chất lượng đội ngũ công chức trong Ngành Tư pháp nhìn chung chưa ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ; đội ngũ cán bộ tư pháp cấp huyện và cấp xã nhiều nơi còn mỏng, chuyên môn, nghiệp vụ còn nhiều hạn chế; chưa kiện toàn được về mặt thể chế đối với cán bộ Tư pháp – Hộ tịch cấp xã; cơ cấu cán bộ chưa hợp lý, nguồn tuyển dụng cán bộ vào Ngành Tư pháp chưa đa dạng về chuyên ngành đào tạo, trình độ đào tạo; tình trạng quá tải công việc tư pháp vẫn còn xảy ra ở một số lĩnh vực, địa phương; chế độ, chính sách cán bộ của Ngành chưa đáp ứng được yêu cầu thu hút người tài; đời sống vật chất của cán bộ, công chức, viên chức trong Ngành còn nhiều khó khăn. Hiện tượng cán bộ xin ra khỏi Ngành vẫn còn nhiều.

– Chủ trương luân chuyển, điều chuyển cán bộ, tăng cường cán bộ trẻ đi cơ sở chưa được thực hiện thường xuyên, hiệu quả chưa cao; công tác đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ trong Ngành tuy đã được tăng cường nhưng vẫn chưa có quy hoạch, kế hoạch mang tính chiến lược lâu dài; việc bồi dưỡng, cập nhật kiến thức bổ trợ cho cán bộ chưa được thực hiện thường xuyên.

– Nhiều địa phương chưa quan tâm đến việc kiện toàn biên chế cho Ngành Tư pháp, nhất là tư pháp cấp huyện và cấp xã và Tổ chức pháp chế các sở, ngành; nguồn bổ sung cán bộ Tư pháp còn thiếu, chưa đa dạng về chuyên ngành đào tạo, trình độ đào tạo, nhất là các vùng đồng bào dân tộc, miền núi, vùng sâu, vùng xa. Một số Sở Tư pháp chưa thật chủ động tích cực trong việc tham mưu cho cấp uỷ, UBND cấp tỉnh cũng như phối hợp với các sở, ban, ngành, UBND cấp huyện trong việc kiện toàn củng cố tổ chức cán bộ và nâng cao năng lực hoạt động các cơ quan tư pháp địa phương, pháp chế Sở, ngành.

– Một số đơn vị thuộc Bộ, Sở Tư pháp, cơ quan THADS chưa quan tâm: kiện toàn Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ của đơn vị mặc dù số lượng cán bộ, công chức là nữ từ đủ 10 người trở lên; nâng cao trình độ cán bộ nữ; tạo điều kiện bố trí kinh phí hoạt động Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ của đơn vị theo đúng hướng dẫn của Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp.

– Một số bộ, ngành chưa quy định rõ chức năng, nhiệm vụ của Tổ chức pháp chế bộ, ngành hoặc vị thế chưa tương xứng với nhiệm vụ được giao nên việc triển khai thực hiện công việc còn gặp nhiều khó khăn.

– Công tác thi đua, khen thưởng chưa được đổi mới căn bản; việc lựa chọn, giới thiệu các mô hình điểm, cách làm hay và các tấm gương điển hình về thi đua trong Ngành còn chưa được quan tâm đúng mức; chưa ban hành các bảng chấm điểm thi đua trong từng lĩnh vực.

6.2. Công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học

a) Kết quả đạt được

Hoàn thiện các Đề án xây dựng các cơ sở đào tạo (Trường Đại học Luật Hà Nội, Học viện Tư pháp) trình Thủ tướng Chính phủ. Hiện nay, Bộ đang xây dựng Đề án tổng thể xây dựng các cơ sở đào tạo pháp lý. Hoàn thành việc xây dựng Kế hoạch đào tạo năm 2010 và 5 năm 2011 – 2015 của Bộ Tư pháp, tập trung vào công tác đào tạo Cử nhân luật và Trung cấp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội và Trường Trung cấp Luật Buôn Ma Thuột).

Trường Đại học Luật Hà Nội có nhiều cố gắng trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ, giáo viên đạt chuẩn; đổi mới mạnh mẽ phương pháp đào tạo (năm học 2009 – 2010 thực hiện việc chuyển đổi từ hệ thống đào tạo theo niên chế sang hệ thống tín chỉ và được áp dụng chính thức đối với sinh viên đại học hệ chính quy khóa 34 và lớp Cao học khóa XVII); tổ chức thực hiện tốt các hoạt động đào tạo pháp luật cơ bản ở các trình độ trung cấp, cử nhân, thạc sỹ và tiến sỹ luật theo chỉ tiêu, chương trình và kế hoạch đã được duyệt(7); mở rộng hợp tác quốc tế về đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ Luật với các trường Đại học tổng hợp: Tây Anh quốc – Vương quốc Anh, Nagoya – Nhật Bản, Lun – Thụy Điển,… Trường Đại học Luật Hà Nội đã hoàn thành công tác đánh giá ngoài, kết quả Trường đã được Đoàn đánh giá chất lượng của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Đoàn đánh giá ngoài) khảo sát, đánh giá xếp ở mức độ 2, mức cao nhất trong các mức đánh giá.

Học viện Tư pháp tổ chức các lớp đào tạo nghiệp vụ xét xử với 532 học viên, nghiệp vụ luật sư với 1.734 học viên, nghiệp vụ THADS với 386 học viên, nghiệp vụ công chứng với 291 học viên; đã đào tạo thành công 01 lớp nghiệp vụ công chứng cho học viên CHDCND Lào trong thời gian 3 tháng; chú trọng đẩy mạnh hoạt động thực hành nghề luật, góp phần thiết thực nâng cao chất lượng đào tạo(8); áp dụng rộng rãi công nghệ thông tin vào phục vụ nghiên cứu, giảng dạy và học tập.

Triển khai thực hiện Đề án thành lập Trường trung cấp Luật Buôn Ma Thuột ở tỉnh Đắk Lắk: chuẩn bị cơ sở vật chất, tài liệu học và tổ chức tuyển sinh khoá học đầu tiên trong tháng 01/2010; phối hợp với tỉnh Hậu Giang chuẩn bị thành lập Trường trung cấp Luật số 2 để đào tạo cán bộ có trình độ trung cấp luật cho tỉnh Hậu Giang và các tỉnh miền Tây Nam Bộ.

Công tác nghiên cứu khoa học tiếp tục bám sát yêu cầu, mục đích, nhiệm vụ trọng tâm của Ngành, gắn kết nghiên cứu khoa học, tổ chức các hội thảo, toạ đàm với xây dựng VBQPPL, thực hiện các nhiệm vụ quan trọng của Ngành, tạo cơ sở lý luận pháp lý và cơ sở thực tiễn cho hoạt động xây dựng đề án, văn bản của Bộ(9), các hoạt động của Ngành và chiến lược phát triển Ngành Tư pháp(10); góp ý nhiều luận điểm khoa học và thực tiễn vào các văn kiện phục vụ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI; nghiên cứu, xây dựng chuyên đề về Nhà nước pháp quyền.

b) Những hạn chế, yếu kém

– Một số chương trình công tác của Học viện Tư pháp đặt ra không được hoàn thành hoặc không đúng tiến độ: Công tác nghiên cứu khoa học; Xây dựng các Đề án, Quy chế; Biên soạn giáo trình. Sự phối hợp giữa các đơn vị trong Học viện thiếu chặt chẽ; kỷ luật lao động có nơi, có lúc còn bị buông lỏng; công tác đào tạo còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của xã hội và Chiến lược cải cách tư pháp, cải cách hành chính trong lĩnh vực tư pháp. Tình trạng buông lỏng quản lý của Ban Giám đốc Học viện Tư pháp dẫn đến những sai phạm nghiêm trọng trong lĩnh vực tài chính và đầu tư xây dựng cơ bản.

– Công tác đào tạo sản phẩm đầu ra của Trường Đại học Luật Hà Nội vẫn còn bất cập, tình trạng thiếu tự tin trong giao tiếp và làm việc của bộ phận lớn sinh viên luật tốt nghiệp vẫn còn; trình độ ngoại ngữ chưa đáp ứng được yêu cầu công việc; việc thích nghi với môi trường làm việc chưa cao. Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý thiếu tinh thần hợp tác, xây dựng trong việc thúc đẩy sự phát triển của Trường.

– Nghiên cứu khoa học pháp lý còn thiếu những luận điểm khoa học có tính chiến lược và tầm khái quát làm cơ sở cho việc xây dựng các Chiến lược của Ngành; nhiều giải pháp đề xuất còn chung chung, thiếu cụ thể và chưa khả thi; nhiều kết quả nghiên cứu khoa học không được ứng dụng vào thực tiễn quản lý, xây dựng văn bản, đề án; một số kết quả nghiên cứu còn chậm so với yêu cầu nhiệm vụ đặt ra.

c) Nguyên nhân của hạn chế, yếu kém

– Chậm đổi mới phương pháp và nội dung đào tạo; sự phối hợp giữa các bộ, ngành trong đào tạo một số chức danh tư pháp chưa cao, đặc biệt không có nguồn đào tạo Kiểm sát viên 02 năm vừa qua.

– Việc tổ chức cho sinh viên luật đi thực tập để làm quen môi trường làm việc chưa được coi trọng, vẫn nặng về hình thức, đôi khi buông lỏng; chưa có chương trình đào tạo bài bản nhằm nâng cao trình độ ngoại ngữ giao tiếp và chuyên ngành luật cho sinh viên luật.

– Công tác khảo sát, nghiên cứu thực tiễn, mở rộng kinh nghiệm nghiên cứu của nước ngoài liên quan đến nhiệm vụ khoa học còn hạn chế; nguồn tài chính còn ít đã ảnh hưởng đến công tác khảo sát, nghiên cứu thực tiễn; lực lượng cán bộ làm công tác nghiên cứu khoa học còn mỏng.

– Một bộ phận giảng viên còn chậm đổi mới trong việc cập nhật đầy đủ các kiến thức thực tiễn, chưa đổi mới phương pháp giảng dạy.

– Sự phối kết hợp giữa các cơ sở nghiên cứu khoa học và các cơ sở đào tạo, giữa các cộng đồng doanh nghiệp, các hiệp hội, các tổ chức tư vấn, dịch vụ pháp lý trong việc triển khai nghiên cứu còn ít; việc huy động sự tham gia của các chuyên gia đầu ngành và xã hội vào nghiên cứu khoa học pháp lý còn hạn chế; chưa có cơ chế khai thác các kết quả nghiên cứu một cách hiệu quả; kinh phí đầu tư cho nghiên cứu khoa học còn ít.

6.3. Bài học kinh nghiệm

– Đối với công tác xây dựng Ngành: Cần coi trọng công tác tổ chức, cán bộ, nhất là việc kiện toàn người đứng đầu đủ năng lực, trình độ, gương mẫu về phẩm chất đạo đức, tinh thần trách nhiệm và hoàn thành công tác; chú trọng triển khai các kế hoạch đào tạo cán bộ Tư pháp, nhất là các địa phương vùng sâu, vùng xa, có trình độ cán bộ thấp.

– Đối với công tác nghiên cứu khoa học: Tăng cường tính thực tiễn, khả năng vận dụng vào hoàn cảnh Việt Nam; tập trung vào những vấn đề trọng tâm, trọng điểm của Bộ, Ngành.

– Đối với công tác đào tạo: Tăng mạnh thời lượng học ngoại ngữ, nhất là chuyên ngành luật; tổ chức nhiều khoá thực tập để sinh viên làm quen với thực tiễn; nâng cao kỹ năng thuyết trình.

7. Công tác hợp tác quốc tế về tư pháp và pháp luật

7.1. Kết quả đạt được

Với phương châm mở rộng hợp tác với các nước có tiềm năng; chú trọng tăng cường hợp tác với các đối tác truyền thống, các nước láng giềng, các nước trong khu vực; đẩy mạnh thực hiện Luật Tương trợ tư pháp, đàm phán và tiến tới ký kết Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự và thương mại với một số quốc gia, công tác hợp tác quốc tế về tư pháp và pháp luật năm 2009 đã đạt được kết quả khả quan hơn những năm gần đây, nhiều lĩnh vực tư pháp và pháp luật được mở rộng hợp tác quốc tế, tranh thủ tối đa các nguồn tài trợ quốc tế, phục vụ đắc lực cho công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế, tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác tư pháp.

Trong năm 2009, đã đàm phán, ký kết một số dự án: Chương trình Đối tác Tư pháp do Uỷ ban Châu Âu, Đan Mạch và Thụy Điển đồng tài trợ; Dự án về tăng cường tiếp cận công lý và bảo vệ quyền tại Việt Nam với Chương trình phát triển của Liên hợp quốc; Chương trình hậu gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) của Chính phủ nhằm đảm bảo thực thi các cam kết của Việt Nam với WTO…; xây dựng Kế hoạch thực hiện Chương trình hợp tác 3 năm triển khai Tuyên bố chung về hợp tác pháp luật và tư pháp Việt Nam – CHLB Đức; củng cố và phát triển quan hệ hợp tác truyền thống với các nước Đông Âu cũ (Bun-ga-ri, Hungary, Ca-dac-xtan); tham gia tích cực vào việc đàm phán, ký kết các điều ước quốc tế, triển khai các nội dung nhằm thực hiện Hiến chương ASEAN; chỉ đạo tổ chức thành công Đại hội lần thứ 17 Hội Luật gia dân chủ quốc tế.

Chú trọng hợp tác quốc tế với các nước láng giềng như Lào và Cam-pu-chia. Đặc biệt, việc lần đầu tiên Bộ trưởng Tư pháp nước ta thăm và ký kết Biên bản Ghi nhớ về hợp tác tư pháp và pháp luật với Cam-pu-chia, mở ra triển vọng quan hệ hợp tác giữa hai Bộ, góp phần tích cực vào sự hợp tác toàn diện giữa hai Nhà nước trong thời gian tới.

Trực tiếp hoặc phối hợp với các bộ, ngành tham gia việc giải quyết nhiều tranh chấp quốc tế mà Việt Nam là một bên có liên quan. Thực hiện Luật Tương trợ tư pháp, từ ngày 16/04 đến 30/11/2009, Bộ đã giải quyết 1743 hồ sơ ủy thác tư pháp; đề xuất đàm phán và tiến tới ký kết Hiệp định về tương trợ tư pháp về dân sự và thương mại với một số quốc gia như Vương quốc Anh, An-giê-ri, Trung Quốc (Đài Loan),…

7.2. Những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân

Chương trình đối ngoại năm 2009 của Bộ còn thiếu tính chiến lược, thụ động, chưa gắn kết với chủ trương đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Quy chế về hoạt động đối ngoại của Bộ còn chưa được thực hiện nghiêm chỉnh, một số đơn vị thực hiện dự án hợp tác chưa báo cáo thường xuyên cho đơn vị quản lý hợp tác của Bộ; tình trạng nguồn lực chưa tập trung cho công việc trọng tâm của Bộ, Ngành vẫn còn; quá trình đàm phán và xây dựng Văn kiện về Chương trình Đối tác Tư pháp do Uỷ ban Châu Âu, Đan Mạch và Thụy Điển tài trợ còn một số sơ xuất về quy trình, kỹ thuật từ phía nhà tài trợ, gây hiểu nhầm không đáng có cho một số cơ quan cấp trên; một số hoạt động hợp tác quốc tế khó đảm bảo tính khả thi vì phía đối tác không sẵn sàng; quy trình hợp tác chưa được thống nhất giữa Việt Nam và một số nước.

Những hạn chế nêu trên chủ yếu là do thể chế vẫn chưa được hoàn thiện; số lượng cán bộ đáp ứng tốt yêu cầu về năng lực, trình độ trong lĩnh vực hợp tác quốc tế về pháp luật và tư pháp còn thiếu; tính chuyên sâu về chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ, công chức trong lĩnh vực hợp tác quốc tế còn hạn chế; nước ta chưa có Hiệp định tương trợ tư pháp với nhiều nước. Mặt khác, kinh phí phục vụ các hoạt động hợp tác quốc tế còn eo hẹp, chưa tương xứng với nhiệm vụ được giao.

7.3. Bài học kinh nghiệm

Xác định được định hướng chiến lược trong hoạt động hợp tác quốc tế về tư pháp và pháp luật; phát huy vai trò đầu mối của đơn vị quản lý chung để đảm bảo sự thống nhất hợp tác quốc tế trong toàn Ngành.

8. Công tác thống kê, kế hoạch, tài chính

8.1. Kết quả thực hiện

Cơ bản hoàn thành việc cấp kinh phí hoạt động cho các đơn vị dự toán thuộc Bộ và các cơ quan THADS địa phương; tiếp tục trang cấp trang thiết bị làm việc cho cho Ngành để đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ quản lý nhà nước của Ngành; bước đầu kiện toàn tổ chức, triển khai hướng dẫn và đánh giá công tác thống kê trong Ngành Tư pháp.

Kiện toàn tổ chức bộ máy thống kê cấp Bộ, bước đầu ở quy mô Phòng trực thuộc Vụ; thực hiện việc đánh giá thực trạng công tác thống kê, hướng dẫn tạm thời và triển khai thực hiện thống kê trong Ngành Tư pháp năm 2009; xây dựng và ban hành Đề án về công tác thống kê Ngành, Đề án đổi mới công tác kế hoạch Ngành và các văn bản của Ngành có liên quan như Báo cáo Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2011 – 2015 của Ngành Tư pháp.

Kịp thời giao dự toán thu, chi ngân sách năm 2009 cho 762 đơn vị dự toán; giao dự toán kinh phí tăng tiền lương tối thiểu năm 2009 cho các đơn vị trong toàn Ngành; phối hợp với Bộ Tài chính khảo sát, nghiên cứu xây dựng định mức đổi mới về phân bổ ngân sách cho Bộ Tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Thực hiện kiểm tra, xét duyệt quyết toán ngân sách năm 2008 của các đơn vị dự toán trong Ngành; tổng hợp và lập quyết toán ngân sách toàn Ngành năm 2008 trình Lãnh đạo Bộ ký gửi Bộ Tài chính, Kiểm toán Nhà nước theo quy định; thông báo duyệt quyết toán ngân sách năm 2008 cho các đơn vị dự toán.

Hoàn thành đề cương chi tiết và đang triển khai phần đánh giá thực trạng của Đề án đảm bảo trang bị phương tiện làm việc cho các cơ quan, đơn vị thuộc Ngành Tư pháp giai đoạn 2011-2015. Triển khai mua sắm trang thiết bị cho các đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ, trong năm 2009 đã mua 1.490 bộ máy tính, 117 xe máy, 298 máy photocopy và 38 ô tô các loại.

Triển khai xây dựng 56 trụ sở làm việc và 34 kho vật chứng, quyết toán được 78 dự án hoàn thành, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản năm 2009 ước đạt trên 90%. Tiếp tục tổng hợp phương án sắp xếp, xử lý nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước theo Quyết định số 09/2007/QĐ-TTg ngày 19/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ.

8.2. Những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân

a) Những hạn chế, yếu kém

– Việc triển khai xây dựng một số Đề án về công tác thống kê, kế hoạch và tài chính của Ngành còn chậm so với kế hoạch đặt ra từ đầu năm; công tác thống kê về cơ bản chưa phục vụ hiệu quả hoạt động chỉ đạo, điều hành của Lãnh đạo Bộ. Công tác kế hoạch chưa sát với thực tế, chưa xây dựng được kế hoạch chiến lược và kế hoạch cụ thể từng năm

– Việc xét cấp bổ sung kinh phí chi thường xuyên ngoài định mức như: kinh phí sửa chữa phương tiện, kinh phí thuê trụ sở, kho vật chứng, kinh phí mua sắm cho các đơn vị xây dựng xong trụ sở làm việc… còn chậm, chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu của địa phương. Chưa tổ chức được việc kiểm tra thường xuyên, đột xuất công tác tài chính đối với các đơn vị dự toán. Công tác tổng hợp quyết toán năm 2008 chậm so với các năm trước; tiến độ lập dự án và giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản đối với một số công trình còn chậm; ngân sách Bộ giao cho các đơn vị còn dàn trải, chưa sát với yêu cầu, nhiệm vụ công tác.

– Tình trạng chưa quyết toán dự án hoàn thành còn nhiều, chưa tham mưu cho Bộ thành lập các đoàn kiểm tra, thanh tra về công tác đầu tư xây dựng cơ bản; không kịp thời kiểm tra, giám sát các đơn vị dự toán thuộc Bộ.

– Việc sắp xếp, xử lý nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước theo Quyết định số 09/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ còn chậm.

– Chế độ báo cáo định kỳ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đầu tư chưa được các chủ đầu tư thực hiện nghiêm túc, nhất là một số chủ đầu tư là Cục THADS và các đơn vị thuộc Bộ.

b) Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém

– Nhiệm vụ quản lý thống nhất công tác kế hoạch và thống kê của Ngành là những nhiệm vụ mới và khó, mang tính chất nghiên cứu – triển khai; đơn vị được giao quản lý chưa tập trung đầu tư thời gian và nguồn lực cho công tác này; lực lượng cán bộ làm công tác kế hoạch và thống kê còn mỏng, không được đào tạo đúng chuyên ngành, năng lực, trình độ còn hạn chế; một số đơn vị thuộc Bộ chưa tích cực phối hợp trong công tác này nên việc triển khai xây dựng Đề án về thống kê, kế hoạch còn chậm; trình trạng buông lỏng quản lý vẫn còn, vụ việc xảy ra tại Học viện Tư pháp là bài học kinh nghiệm quý giá.

– Việc triển khai Đề án xây dựng Quy hoạch Ngành đang khó khăn do thiếu cơ sở lý luận và thực tiễn là Chiến lược phát triển Ngành Tư pháp đến năm 2020 vẫn còn đang trong giai đoạn triển khai nghiên cứu(11); việc chuyển nhiệm vụ xây dựng Chiến lược phát triển Ngành Tư pháp cũng như xây dựng Quy hoạch Ngành sang đơn vị mới được củng cố chức năng này là một thách thức, thiếu tính khả thi; một số hoạt động điều tra cơ bản, điều tra xã hội để làm căn cứ thực tiễn phục vụ xây dựng Chiến lược và Quy hoạch Ngành đang chỉ ở giai đoạn bắt đầu triển khai(12).

– Việc phân bổ kinh phí tự chủ cho các đơn vị dự toán chưa được điều chỉnh kịp thời, hợp lý giữa các năm theo đúng khả năng sử dụng ngân sách của các đơn vị.

– Công tác phối hợp với Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong việc sắp xếp, xử lý nhà, đất theo Quyết định số 09/2007/QĐ-TTg chưa chặt chẽ, hiệu quả, ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện.

– Các chủ đầu tư chưa tích cực, chủ động trong việc xin cấp đất, đền bù giải phóng mặt bằng hoặc chưa có sự đôn đốc, kiểm tra, phối hợp để hoàn thành sớm các thủ tục đầu tư trình Bộ thẩm định phê duyệt; một số chủ đầu tư chưa chủ động hoàn thiện hồ sơ trong công tác quyết toán dự án hoàn thành.

8.3. Bài học kinh nghiệm

Chủ động tham mưu cho Lãnh đạo Bộ trong công tác xây dựng dự toán, phân bổ ngân sách; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra.

9. Công tác thanh tra, kiểm tra, tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng

9.1. Kết quả thực hiện

Thanh tra Bộ đã tiến hành xong 13/13 cuộc thanh tra theo kế hoạch, đạt 100% Kế hoạch công tác năm 2009 và tăng 30% so với năm 2008 trên các lĩnh vực THADS và trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo; công tác kết hôn có yếu tố nước ngoài và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài; công tác luật sư; xây dựng cơ bản; công tác bán đấu giá tài sản; tiến hành thanh tra và xác minh, giải quyết 16 vụ khiếu nại, tố cáo. Qua thanh tra đã kiến nghị thu hồi 639 triệu 76 nghìn 40 đồng và xử lý kỷ luật một số cán bộ, công chức có liên quan do sai phạm trong quản lý tài chính, kế toán tại Học viện Tư pháp.

Thanh tra các Sở Tư pháp đã tổ chức thực hiện các cuộc thanh tra, kiểm tra chuyên ngành, tập trung vào một số lĩnh vực quản lý của ngành như: công chứng, hộ tịch, luật sư. Một số địa phương đã triển khai thực hiện tốt kế hoạch đã đề ra như Sở Tư pháp các tỉnh Khánh Hoà, Cần Thơ, Hải Dương, Bến Tre, Ninh Thuận.

Trong năm 2009, tình hình khiếu nại, tố cáo của Bộ Tư pháp tiếp tục diễn biến phức tạp, mặc dù số lượng công dân đến khiếu nại, tố cáo có xu hướng giảm, giảm 22,7% so với năm 2008, nhưng số lượng đơn thư khiếu nại, tố cáo gửi đến Bộ Tư pháp lại có xu hướng tăng, khoảng 48,6% so với năm 2008. Việc tiếp công dân thực hiện theo đúng Quy chế tiếp công dân của cơ quan Bộ Tư pháp. Lãnh đạo Bộ thường xuyên bố trí lịch để nghe Thanh tra Bộ báo cáo về công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo; tiếp tục chỉ đạo các đơn vị chức năng tiến hành các thủ tục để xây dựng Phòng tiếp công dân mới của Bộ cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn của công tác tiếp công dân.

Để nâng cao công tác phòng, chống tham nhũng, Bộ tiếp tục tuyên truyền, phổ biến, quán triệt, rà soát các VBQPPL về phòng, chống tham nhũng; ban hành và bước đầu triển khai thực hiện Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức Ngành Tư pháp và Kế hoạch thực hiện chiến lược quốc gia về phòng, chống tham nhũng giai đoạn 1 từ 2009 đến 2011 của Bộ.

9.2. Những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân

Công tác thanh tra chuyên ngành vẫn chỉ tập trung vào một số lĩnh vực; công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo chưa đảm bảo thời gian theo quy định; công tác phòng, chống tham nhũng chưa phát huy hiệu quả tích cực.

Việc phối hợp với Tổng cục THADS chưa chặt chẽ, đầy đủ dẫn đến một số khiếu kiện về THADS chưa được giải quyết dứt điểm, gây bức xúc cho người khiếu kiện.

Những hạn chế này một phần do nguyên nhân chủ yếu sau: đội ngũ cán bộ làm công tác thanh tra còn thiếu; năng lực, trình độ chuyên môn của một số cán bộ thanh tra ở các địa phương chưa ngang tầm với yêu cầu công tác; các vụ việc khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ trưởng là những vụ việc rất phức tạp. Một số quy định pháp luật về khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo còn bất cập, chưa được sửa đổi, bổ sung.

10. Cải cách hành chính, cải cách tư pháp và ứng dụng công nghệ thông tin

10.1. Kết quả đạt được

Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW và Nghị quyết số 49-NQ/TW. Ban hành và triển khai thực hiện Chương trình công tác trọng tâm công tác tư pháp năm 2009 của Bộ Tư pháp thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW và Chương trình trọng tâm năm 2009 – 2010 của Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương. Xây dựng và trình Quốc hội thông qua Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước, Luật Lý lịch tư pháp, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, trong đó chứa đựng nhiều nội dung mới tiến bộ, phù hợp với tinh thần của cải cách tư pháp (bỏ hình phạt tử hình đối với 8 tội danh).

Hoàn thành đúng tiến độ giai đoạn 1 Đề án đơn giản hóa thủ tục hành chính giai đoạn 2007 – 2010(13); công bố Bộ thủ tục hành chính và cơ sở dữ liệu về thủ tục hành chính, mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp để người dân và doanh nghiệp biết, thực hiện và tham gia góp ý kiến. Tổng số 327 thủ tục hành chính, gồm 112 ở cấp trung ương, 125 ở cấp tỉnh, 38 ở cấp huyện, 52 ở cấp xã, đồng thời tạo điều kiện cho nhân dân, doanh nghiệp có thể rút ngắn thời gian khi làm thủ tục hành chính, đồng thời góp phần ngăn ngừa các tiêu cực, đòi hỏi thêm các loại giấy tờ, tự đặt thêm yêu cầu của một số cán bộ, công chức khi làm thủ tục cho nhân dân, doanh nghiệp. Tiếp tục hoàn chỉnh các biểu mẫu thủ tục hành chính chưa được công bố trong lĩnh vực THADS, quốc tịch; hoàn thành việc rà soát nhanh 13 thủ tục hành chính ưu tiên về lĩnh vực đăng ký giao dịch bảo đảm và bổ trợ tư pháp; phối hợp với các đơn vị liên quan rà soát các thủ tục hành chính khác.

Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin: ban hành và triển khai thực hiện Chỉ thị số 01/CT-BTP ngày 10/6/2009 về việc tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong Ngành Tư pháp giai đoạn 2009-2010; triển khai thực hiện thành công các dự án theo mô hình điểm về ứng dụng công nghệ thông tin được phân công tại Quyết định số 43/2008/QĐ-TTg ngày 24 ngày 3 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ. Triển khai Phần mềm Quản lý văn bản và điều hành đã triển khai đến 26 đơn vị thuộc Bộ. Tổ chức thành công 2 Hội nghị giao ban trực tuyến trên phạm vi toàn quốc qua hệ thống giao ban trực tuyến đa phương tiện. Hoàn thiện việc cấp hộp thư điện tử cho các cơ quan THADS và cán bộ, công chức THADS địa phương; triển khai việc cấp hộp thư điện tử cho Sở Tư pháp.

Đã xây dựng 52/88 quy trình quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000 và áp dụng vào một số quy trình giải quyết công việc của Bộ Tư pháp.

10.2. Những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân

a) Những hạn chế, yếu kém

– Thiếu kế hoạch cải cách hành chính chung của Bộ và hàng năm. Việc thống kê, rà soát thủ tục hành chính tuy cơ bản đảm bảo đúng tiến độ, nhưng chất lượng chưa cao; thủ tục được thống kê chưa bao quát hết các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ; báo cáo cải cách hành chính gửi Chính phủ có lúc còn chậm.

– Chưa tạo được sự gắn kết chặt chẽ giữa rà soát, thống kê thủ tục hành chính với xây dựng các đề án, văn bản có liên quan.

– Việc ban hành một số văn bản hướng dẫn thực hiện các luật, pháp lệnh, nghị định, thông tư về thể chế của Ngành còn chậm, bởi vậy nhiều vướng mắc về thể chế, chính sách chưa được tháo gỡ kịp thời.

– Việc triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động nghiệp vụ, quản lý, điều hành còn chậm; một số phần mềm ứng dụng khi triển khai còn lỗi (như phần mềm Master trong lĩnh vực công chứng).

b) Nguyên nhân của hạn chế, yếu kém

– Khối lượng công việc liên quan đến cải cách hành chính, nhất là thống kê, rà soát thủ tục hành chính nhiều, trong khi lực lượng cán bộ chuyên trách làm công tác này còn mỏng; một số đơn vị chưa kịp thời phối hợp chặt chẽ với Tổ công tác Đề án 30 trong việc thống kê, rà soát các thủ tục hành chính. Chưa có kinh phí thoả đáng cho hoạt động của Đề án.

– Nguồn nhân lực thực hiện cải cách tư pháp còn thiếu, chất lượng chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ; chế độ đãi ngộ trong việc sử dụng cán bộ pháp luật trong Ngành kém hấp dẫn so với các ngành khác; nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất phục vụ hoạt động của các cơ quan Tư pháp còn nhiều khó khăn.

– Việc bổ sung, hoàn chỉnh dữ liệu thống kê thủ tục hành chính là công việc thường xuyên, gắn với công tác xây dựng pháp luật của Bộ Tư pháp.

– Thủ trưởng một số đơn vị, địa phương còn ít quan tâm, ngại đổi mới tư duy và phương thức làm việc.

10.3. Bài học kinh nghiệm

Đầu tư nhân lực có chất lượng cao, kinh phí thoả đáng để nghiên cứu, đề xuất cải cách hành chính, cải cách tư pháp, ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động chung, góp phần nâng cao vị thế của Ngành Tư pháp; giải quyết các vấn đề khó khăn, vướng mắc phát sinh từ thể chế của Ngành.

11. Công tác văn phòng

11.1. Kết quả thực hiện

Công tác văn phòng trong năm qua có nhiều chuyển biến tích cực, nhất là công tác tổng hợp, tham mưu cho lãnh đạo Bộ, lãnh đạo các Sở và Cục THADS cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong hoạt động chỉ đạo, điều hành, xây dựng, theo dõi và đôn đốc thực hiện chương trình, kế hoạch công tác của Bộ và các cơ quan Tư pháp, THADS địa phương, góp phần quan trọng vào việc hiện thực hoá các chủ trương, chính sách của Bộ, Ngành, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, cải cách tư pháp, cải cách pháp luật và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.

Tham gia tích cực và có kết quả vào hoạt động xây dựng văn bản, đề án, nhất là các dự án luật, pháp lệnh; chủ động xây dựng lịch công tác năm, tháng, tuần của Lãnh đạo Bộ, bảo đảm tính khoa học, hợp lý; truyền đạt kịp thời, đầy đủ, chính xác ý kiến chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ tới các đơn vị, đồng thời chủ động đôn đốc các đơn vị thực hiện các ý kiến chỉ đạo đó. Trình Bộ trưởng ban hành Quyết định số 988/QĐ-BTP ngày 11/5/2009 phê duyệt Đề án kiện toàn tổ chức và đổi mới hoạt động của Văn phòng Bộ Tư pháp giai đoạn 2009 – 2011 và triển khai thực hiện; tổ chức tập huấn công tác văn phòng trong toàn Ngành trong năm 2009.

Việc tổ chức các cuộc họp, Hội nghị, Toạ đàm của Ngành được nâng cao cả về chất và lượng, đáp ứng yêu cầu chuyên nghiệp hoá công tác văn phòng trong tình hình mới. Sự phối hợp giữa Văn phòng Bộ và Văn phòng các Sở Tư pháp, Cục THADS các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ngày càng chặt chẽ, đảm bảo kịp thời hơn công tác phục vụ hoạt động chỉ đạo, điều hành của Lãnh đạo Bộ. Việc thành lập Phòng Tổng hợp của các đơn vị thuộc Bộ, Văn phòng Cục THADS tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương góp phần củng cố tổ chức và hoạt động của hệ thống tổ chức văn phòng trong Ngành, nâng cao hoạt động, chỉ đạo điều hành của Lãnh đạo Bộ, Lãnh đạo Tổng cục và Lãnh đạo Cục THADS đối với hoạt động THADS.

Giúp Lãnh đạo Bộ tăng cường thiết lập, duy trì và củng cố các mối quan hệ phối hợp với Ban Cán sự Đảng, Lãnh đạo các bộ, ngành, các Đoàn Đại biểu Quốc hội, Tập đoàn Kinh tế. Thông qua các buổi gặp gỡ, làm việc để tăng cường sự hiểu biết, gắn kết chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau trong công việc, đồng thời nhằm củng cố vai trò của Tổ chức pháp chế các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp trong công tác xây dựng, góp ý, thẩm định các VBQPPL. Trên cơ sở các buổi làm việc, tiến tới ký kết Thoả thuận hợp tác với một số cơ quan, đơn vị như Bộ Công thương, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam…

Tổ chức tốt các buổi làm việc, kế hoạch làm việc của Lãnh đạo Bộ, các đơn vị thuộc Bộ, Lãnh đạo các Sở Tư pháp, Cục THADS với các cơ quan, tổ chức có liên quan; đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kỷ cương hành chính, kỷ luật lao động; phát huy tinh thần trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong việc duy trì kỷ cương, kỷ luật, đảm bảo chất lượng và tiến độ công việc.

11.2. Những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân

a) Những hạn chế, yếu kém

– Sự phối hợp của Văn phòng Sở Tư pháp một số tỉnh, thành phố với Văn phòng Bộ chưa được nhuần nhuyễn; vai trò, vị trí của Cơ quan đại diện của Bộ tại thành phố Hồ Chí Minh chưa thật sự rõ rệt trong việc khâu nối các sự kiện, tổ chức các chương trình với một số cơ quan Tư pháp phía Nam.

– Chất lượng báo cáo của các đơn vị thuộc Bộ chưa cao, chưa đánh giá một cách toàn diện các kết quả công tác đơn vị đạt được, hiện mới chỉ ở mức độ liệt kê đầu việc, gây khó khăn cho Văn phòng trong việc nhận định, đánh giá. Công tác thống kê, chế độ báo cáo, cơ chế thông tin hai chiều còn nhiều hạn chế; số liệu báo cáo không đầy đủ, nhiều trường hợp thiếu chính xác; nội dung báo cáo chưa phân tích, đánh giá sâu tình hình thực hiện nhiệm vụ, ít đề xuất được các giải pháp xác đáng.

– Các Sở Tư pháp và Cục THADS cấp tỉnh không hoàn thiện Phụ lục thống kê theo yêu cầu, gây cản trở cho việc đánh giá kết quả công tác của toàn Ngành.

– Công tác tham mưu chưa hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu chỉ đạo, điều hành của Lãnh đạo Bộ, Lãnh đạo các Sở Tư pháp và Cục THADS cấp tỉnh.

b) Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém

– Đội ngũ cán bộ làm công tác tham mưu, tổng hợp còn hạn chế về chuyên môn, kỹ năng thực hiện nhiệm vụ và hiểu biết sâu rộng về công tác tư pháp; chưa được đào tạo bài bản và bồi dưỡng nghiệp vụ thường xuyên; nguồn tuyển dụng đầu vào chưa được đa dạng hoá các ngành nghề khác như báo chí, kinh tế. Đôi khi báo cáo chỉ đơn thuần về các mặt công tác tư pháp mà không có đánh giá, nhận định về đóng góp cho sự phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm an sinh, củng cố, giữ vững quốc phòng, an ninh tại địa phương.

– Việc phân định chức năng chưa rõ giữa Văn phòng Bộ và Cơ quan đại diện của Bộ tại thành phố Hồ Chí Minh cũng làm ảnh hướng không nhỏ đến công tác văn phòng, điều phối các hoạt động chung của Bộ, Ngành.

– Nhiều Văn phòng các Sở Tư pháp phải đảm nhiệm quá nhiều nhiệm vụ, có Văn phòng phải làm thay cho các bộ phận chuyên môn (như về kiểm tra VBQPPL, bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, thanh tra), nên không có thời gian đầu tư cho công tác tham mưu, tổng hợp.

– Các Phòng Tổng hợp, Văn phòng Cục THADS cấp tỉnh mới được thành lập nên chưa được đầu tư về cơ sở vật chất, nguồn nhân lực, một số lãnh đạo cấp Vụ, Sở chưa quan tâm đến công tác văn phòng.

11.3. Bài học kinh nghiệm

Phải sâu sát thực tế, chỉ đạo và hành động quyết liệt, dám chịu trách nhiệm, đương đầu và vượt qua khó khăn.

12. Công tác chỉ đạo, điều hành

12.1. Kết quả thực hiện

Hoạt động chỉ đạo, điều hành công tác tư pháp năm 2009 có nhiều điểm mới và chuyển biến tích cực, cụ thể như sau:

Ban hành Chương trình công tác trọng tâm của Ngành Tư pháp năm 2009 sớm hơn so với năm 2008, trong đó xác định rõ 7 nhóm nhiệm vụ trọng tâm cần thực hiện trong năm 2009 và các năm tiếp theo. Căn cứ các nhiệm vụ trọng tâm của Bộ, Ngành và địa phương, các tổ chức, đơn vị thuộc Bộ, Tổ chức pháp chế bộ, ngành, cơ quan Tư pháp và cơ quan THADS các địa phương đã chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch công tác cụ thể của mình. Các chương trình, kế hoạch công tác đã xác định rõ mục đích, yêu cầu, nội dung thực hiện và cách thức tổ chức thực hiện, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động chỉ đạo, điều hành các mặt công tác của toàn Ngành và từng đơn vị.

Bộ cũng đã ban hành các Quyết định phân công công tác giữa Bộ trưởng và các Thứ trưởng; ban hành Quy chế làm việc của Bộ Tư pháp; Quy chế làm việc mẫu của các đơn vị thuộc Bộ. Hoạt động quản lý, chỉ đạo, điều hành tiếp tục được cải tiến, bám sát kế hoạch công tác, đồng thời mềm dẻo, linh hoạt trong từng việc cụ thể, bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ; lịch làm việc tuần, tháng, năm của Lãnh đạo Bộ được xây dựng cơ bản tốt, tạo cơ sở cho các đơn vị triển khai kế hoạch công tác của mình.

Lãnh đạo Bộ chỉ đạo quyết liệt, giải quyết các Chương trình, kế hoạch công tác của Ngành năm 2009, đặc biệt chú trọng tập trung hoàn thành nhiệm vụ trọng tâm của Ngành trong năm 2009 như hoạt động: xây dựng pháp luật; hoàn thiện tổ chức cán bộ các đơn vị thuộc Bộ, các cơ quan Tư pháp, THADS địa phương; chuyển giao công chứng, chứng thực… Đặc biệt, Ban Cán sự Đảng, Lãnh đạo Bộ đã tập trung cao cho việc phối hợp công tác với các bộ, ngành và địa phương để tăng cường sự phối hợp công tác, giải quyết những vấn đề khó khăn, vướng mắc trong công tác tư pháp nói chung và ở địa phương nói riêng (như vấn đề kiện toàn tổ chức luật sư, vấn đề chuyển giao chứng thực – công chứng, kiện toàn tổ chức, cán bộ Tư pháp và THADS địa phương), tạo chuyển biến tích cực trong nhận thức về vị trí, vai trò của công tác tư pháp ở địa phương, từng bước nâng cao vị thế Ngành Tư pháp(14) và tạo thuận lợi cho công tác Tư pháp.

Chỉ đạo giải quyết kịp thời những vấn đề phát sinh trong các lĩnh vực quản lý công tác của Bộ, Ngành và các thông tin được các phương tiện thông tin đại chúng phản ánh có liên quan đến các lĩnh vực quản lý nhà nước của Ngành; từng bước gắn kết công tác tư pháp vào các giải pháp thúc đẩy kinh tế – xã hội trong năm 2009 và các năm tiếp theo. Việc giải đáp kiến nghị địa phương, hướng dẫn nghiệp vụ được các đơn vị thuộc Bộ chú trọng, giải quyết khá triệt để, tạo điều kiện thuận lợi cho địa phương triển khai nhiệm vụ.

Việc ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành được Bộ quan tâm, đạt được những kết quả cụ thể; cải cách hành chính trong hoạt động chỉ đạo, điều hành tiếp tục được đẩy mạnh. Tiếp tục thực hiện đúng Quy chế dân chủ trong các hoạt động chỉ đạo, điều hành thực hiện các nhiệm vụ chính trị, công tác tổ chức cán bộ và tiếp công dân.

12.2. Những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân

Hoạt động chỉ đạo, điều hành công tác Tư pháp trong năm qua còn một số khó khăn, vướng mắc. Việc xây dựng, ban hành Chương trình, Kế hoạch công tác hàng năm của các Sở Tư pháp còn chưa thống nhất; các đơn vị chưa đánh giá đầy đủ yêu cầu nhiệm vụ và khả năng thực hiện nên xây dựng Kế hoạch vượt quá khả năng thực tế, dẫn đến phải điều chỉnh nhiều lần, xin lùi sang năm 2010; vẫn còn tình trạng thụ động trong triển khai thực hiện nhiệm vụ và nghiên cứu tình huống quản lý; tình trạng trông chờ, ỷ lại vào sự hướng dẫn cụ thể của Trung ương, của cấp trên vẫn còn; quan hệ phối hợp công tác, tuy đã được cải thiện, nhưng chưa đồng đều ở các đơn vị, địa phương, vẫn chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Việc hướng dẫn, chỉ đạo chuyên môn, nghiệp vụ cho địa phương và trả lời kiến nghị địa phương, người dân, doanh nghiệp của một số đơn vị chức năng thuộc Bộ chưa kịp thời; một số chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ chưa được triển khai rộng khắp xuống tận cơ sở; vai trò chỉ đạo, hướng dẫn của Sở Tư pháp đối với cấp huyện và cấp xã nhìn chung còn hạn chế. Một số cơ quan Tư pháp địa phương còn chưa thực sự chủ động trong việc giải quyết các công việc thuộc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

Việc bố trí chương trình đi công tác của Lãnh đạo Bộ còn thiếu hợp lý; chưa tham mưu được cho Lãnh đạo Bộ việc kết hợp giải quyết đồng thời các công việc tư pháp ở địa phương, kế hoạch đôi lúc quá gấp ảnh hưởng đến công tác chuẩn bị nội dung, tạo sự bị động cho các đơn vị và địa phương trong việc sắp đặt, tổ chức làm việc.

12.3. Bài học kinh nghiệm

– Tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo, sự quan tâm, ủng hộ của các cấp ủy đảng, chính quyền các cấp, nhất là sự lãnh đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, sự chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; cần kịp thời báo cáo, xin ý kiến chỉ đạo về những khó khăn, vướng mắc hoặc những vấn đề mới. Chủ động thiết lập, thường xuyên duy trì, sử dụng hiệu quả quan hệ phối hợp công tác trong và ngoài Ngành;

– Xác định đúng công việc trọng tâm, trọng điểm, chủ động bám sát kế hoạch, nhiệm vụ chính trị của Chính phủ, Bộ, Ngành và địa phương để có biện pháp tập trung chỉ đạo.

– Cần sâu sát, quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành; dám chịu trách nhiệm hướng mạnh các hoạt động về cơ sở, lắng nghe ý kiến phản ánh từ cơ sở, từ xã hội.

ĐÁNH GIÁ CHUNG:

Công tác tư pháp năm 2009 được toàn Ngành triển khai có trọng tâm, trọng điểm, bám sát các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị triển khai công tác tư pháp năm 2009 và nhiệm vụ chính trị của từng địa phương. Công tác hoàn thiện thể chế cơ bản hoàn thành trên các lĩnh vực chủ chốt của Ngành đảm bảo thực hiện trong năm 2010 một cách toàn diện các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ, Ngành theo Nghị định số 93/2008/NĐ-CP. Kết quả ở nhiều lĩnh vực công tác tiếp tục cao hơn so với năm 2008, đóng góp tích cực vào những thành tựu chung của đất nước về phát triển kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng – an ninh, trật tự an toàn xã hội, đáp ứng yêu cầu của người dân và doanh nghiệp, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế.

Những kết quả nổi bật của Ngành Tư pháp năm 2009 có thể kể đến là: triển khai quyết liệt, đồng bộ Luật THADS với việc thành lập hệ thống 3 cấp Tổng cục, Cục và các Chi cục THADS trên toàn quốc, đồng thời triển khai Đề án thí điểm Thừa phát lại tại TP.Hồ Chí Minh; chỉ đạo tổ chức thành công Đại hội đại biểu luật sư toàn quốc lần thứ nhất, thành lập Liên đoàn Luật sư Việt Nam sau hơn 60 năm phát triển của nghề này tạo nên thời cơ mới cho sự đóng góp tích cực của luật sư toàn quốc vào sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, hội nhập quốc tế; có bước đột phá trong việc đẩy mạnh thực hiện chủ trương xã hội hoá các hoạt động công chứng, bán đấu giá tài sản…, nhằm tháo gỡ, giải toả những “nút thắt” trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và Nhà nước; kiện toàn tổ chức các cơ quan Tư pháp 4 cấp, Tổ chức pháp chế các bộ, ngành nhằm đáp ứng các nhiệm vụ mới được giao cho Ngành Tư pháp đồng thời tập trung chỉ đạo nâng cao chất lượng đào tạo luật và đào tạo nghề tư pháp, xúc tiến việc mở các trường Trung cấp luật tại các khu vực phục vụ nhu cầu về đào tạo cán bộ pháp luật và cán bộ Tư pháp cơ sở, ưu tiên các khu vực khó khăn như Tây Nguyên, Tây Nam bộ, Tây Bắc…

Đặc biệt công tác xây dựng pháp luật và theo dõi thi hành pháp luật của Ngành Tư pháp đã có những chuyển biến về chất. Đây là năm đầu tiên thực hiện Luật Ban hành VBQPPL 2008 với những yêu cầu mới và nghiêm ngặt về lập Chương trình xây dựng pháp luật của Quốc hội, Chính phủ, về quy trình, tiến độ, chất lượng soạn thảo, thẩm định, thẩm tra đánh giá tác động của dự thảo văn bản. Phối hợp chặt chẽ với Văn phòng Chính phủ và các bộ, ngành, Bộ Tư pháp đã triển khai việc lập dự kiến Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội năm 2010 sớm hơn 6 tháng và theo quy trình mới, nên Chương trình có tính khả thi cao hơn, đồng thời cũng linh hoạt hơn để phúc đáp các đòi hỏi của tình hình kinh tế – xã hội diễn biến phức tạp dưới sự tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Ý thức được trách nhiệm của mình, ngoài việc kiểm tra, đôn đốc các bộ, ngành thực hiện đúng Chương trình, Bộ Tư pháp đã cố gắng hoàn thành ở mức cao nhất kế hoạch soạn thảo trình Chính phủ ban hành các nghị định thuộc phạm vi quản lý của Ngành hướng dẫn thi hành các đạo luật có hiệu lực trong năm 2009 và từ 01/01/2010 như Luật Ban hành VBQPPL, Luật Quốc tịch Việt Nam, Luật THADS, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước… Quy trình và chất lượng thẩm định các dự thảo văn bản pháp luật có bước chuyển tích cực theo yêu cầu của Luật 2008, ý kiến thẩm định không chỉ còn quá thiên về các khía cạnh pháp lý đơn thuần nên đã góp phần nâng cao tính phù hợp, khả thi và hiệu quả của các dự thảo văn bản. Ở nhiều địa phương, các Sở Tư pháp cũng ngày càng trở thành chỗ dựa tin cậy, không thể thiếu của HĐND và UBND cấp tỉnh trong việc ban hành VBQPPL của địa phương đảm bảo tính thống nhất, hợp hiến, hợp pháp. Bên cạnh đó, công tác kiểm tra VBQPPL, kể cả văn bản quy phạm nội bộ của các tổ chức xã hội cũng đạt kết quả tốt.

Nhiệm vụ mới theo dõi chung về thi hành pháp luật bắt đầu được Ngành Tư pháp triển khai trong năm 2009 theo phương châm vừa học, vừa nghiên cứu, vừa làm. Trên cơ sở phối hợp cùng các bộ, ngành, địa phương chọn các điểm “nóng”, trong thực tiễn thi hành pháp luật cần có sự theo dõi và tháo gỡ chung, Bộ Tư pháp đã soạn thảo và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án về theo dõi thi hành pháp luật làm cơ sở cho việc triển khai có tính thí điểm nhiệm vụ này ở một số ngành, lĩnh vực và địa phương trong 2 năm tới, trên cơ sở đó xây dựng khuôn khổ pháp lý đầy đủ cho việc quản lý nhà nước về thi hành pháp luật của Chính phủ. Ngoài ra, công tác tổ chức, bộ máy, cán bộ của Ngành tiếp tục được củng cố, kiện toàn mạnh mẽ; công tác chỉ đạo, điều hành từ Bộ đến địa phương tiếp tục được đổi mới, tập trung cao cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Ngành. Những kết quả này đã góp phần tích cực vào quá trình hoàn thiện pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành, thực thi pháp luật của bộ máy nhà nước và nhân dân, từng bước khẳng định được vị trí, vai trò của Ngành trong đời sống xã hội.

Tóm lại, công tác của Ngành Tư pháp đã có nhiều chuyển biến tích cực, đóng góp thiết thực vào thành tựu chung của đất nước trong việc ngăn chặn suy giảm, từng bước phục hồi nền kinh tế; bảo đảm sự ổn định kinh tế vĩ mô và tăng cường an sinh xã hội. Sở dĩ có thể đạt được những kết quả đó, ngoài sự nỗ lực của toàn thể cán bộ, công chức của Ngành, trước hết phải nhờ có sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, sát sao của Bộ Chính trị, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, tiếp đó là sự phối hợp chặt chẽ và có hiệu quả của các bộ, ngành hữu quan, đặc biệt là của Văn phòng Chính phủ, Văn phòng Quốc hội, các cấp uỷ đảng và chính quyền địa phương trong quá trình Ngành Tư pháp thực hiện nhiệm vụ được giao. Nhờ đó, vai trò của công tác Tư pháp trong đời sống chính trị, kinh tế – xã hội ngày càng được khẳng định; vị trí của Ngành từ Trung ương đến địa phương ngày càng được củng cố, tăng cường.

Bên cạnh đó, công tác tư pháp năm 2009 vẫn còn một số hạn chế, yếu kém lớn cần khắc phục như: một số hoạt động tư pháp chưa gắn kết đầy đủ với các chỉ tiêu kinh tế – xã hội; công tác xây dựng, thẩm định, kiểm tra VBQPPL còn chưa bảo đảm tốt yêu cầu thực tiễn xã hội; quản lý nhà nước về hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp còn nhiều bất cập, chưa phát huy tốt hiệu quả; hoạt động trợ giúp pháp lý, phổ biến, giáo dục pháp luật, báo chí, xuất bản còn mang nặng tính hình thức; việc kiện toàn đội ngũ cán bộ Tư pháp, THADS còn chậm, chất lượng cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; kết quả thi hành án chưa có nhiều chuyển biến tích cực tương xứng với việc kiện toàn tổ chức cán bộ; khiếu nại, tố cáo liên quan đến lĩnh vực tư pháp có xu hướng gia tăng và một số vụ việc chưa được giải quyết dứt điểm…, cần nghiêm túc kiểm điểm, đánh giá đúng nguyên nhân, nhất là nguyên nhân chủ quan, rút kinh nghiệm và kịp thời chấn chỉnh, khắc phục để công tác tư pháp năm 2010 được triển khai đúng phương hướng, có trọng tâm, trọng điểm với những chuyển biến mạnh mẽ hơn.

Phần thứ hai:

PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU CỦA CÔNG TÁC TƯ PHÁP NĂM 2010

Năm 2010 được Chính phủ xác định là năm cần tập trung mọi nỗ lực phấn đấu phục hồi tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao chất lượng tăng trưởng; tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô và ngăn chặn lạm phát cao trở lại; bảo đảm tốt hơn an sinh xã hội và phúc lợi xã hội; tạo bước tiến mới về chất lượng giáo dục – đào tạo; tổ chức tốt các hoạt động kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội; bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động đối ngoại; tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tích cực đấu tranh phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm chống lãng phí; phấn đấu hoàn thành cao nhất các chỉ tiêu của Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2006 – 2010.

Đối với Ngành Tư pháp, năm 2010 cũng là năm triển khai sâu rộng các VBQPPL mới được ban hành liên quan đến tổ chức và hoạt động của Ngành; hoàn thiện cơ bản thể chế, chiến lược, đề án phát triển Ngành; đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp trong phạm vi quản lý của Ngành và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin. Tập trung triển khai mọi nguồn lực, khắc phục khó khăn, lập thành tích cao nhất trên tất cả các mặt công tác để chào mừng kỷ niệm 65 năm Ngày truyền thống Ngành Tư pháp (28/8/1945 – 28/8/2010), Đại hội Thi đua yêu nước Ngành Tư pháp lần thứ 3 và các sự kiện lớn khác của đất nước; góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2010, Nghị quyết của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2010.

Ngành Tư pháp đề ra phương hướng, nhiệm vụ và các giải pháp chủ yếu thực hiện công tác tư pháp năm 2010 như sau:

I. PHƯƠNG HƯỚNG

1. Bám sát kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2010 của đất nước, Nghị quyết của Chính phủ về chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2010 để kịp thời tham mưu cho Chính phủ, các bộ, ngành, HĐND, UBND các cấp xây dựng, hoàn thiện cơ sở pháp lý phục vụ đắc lực cho việc thực hiện nhiệm vụ của Ngành và đất nước; đưa công tác tư pháp gắn kết sâu rộng vào tiến trình phát triển kinh tế – xã hội, giải quyết những vấn đề quan trọng của đất nước và những vấn đề nhạy cảm, bức xúc của xã hội.

2. Tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác xây dựng, thẩm định, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa VBQPPL, theo dõi thi hành pháp luật, trong đó tập trung vào các giải pháp, chính sách kinh tế, xã hội, góp phần cải thiện môi trường đầu tư, phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, thúc đẩy phục hồi tốc độ tăng trưởng kinh tế, đưa pháp luật thực sự trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội; bảo đảm tính đồng bộ và kịp thời trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật; giải quyết một bước cơ bản tình trạng nợ Nghị định và các văn bản hướng dẫn thi hành luật thuộc thẩm quyền của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ. Hoàn thành kế hoạch xây dựng các dự án luật, pháp lệnh của Ngành, đặc biệt là việc xây dựng Pháp lệnh về pháp điển quy phạm pháp luật và Pháp lệnh hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật nhằm tạo khuôn khổ pháp lý cho việc tăng cường tính minh bạch, làm cho hệ thống pháp luật dễ tiếp cận, dễ sử dụng với mọi cá nhân, tổ chức. Triển khai đến các bộ, ngành, địa phương việc sơ kết 5 năm thực hiện Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2010 và định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật đến 2020 theo chỉ đạo của Chính phủ.

3. Tăng cường xã hội hoá các hoạt động tư pháp gắn kết với dân sinh như: hoạt động bổ trợ tư pháp, phổ biến giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý, nghiên cứu khoa học, báo chí, xuất bản; nâng cao chất lượng công tác hộ tịch, chứng thực; tăng cường hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nhằm nâng cao hiểu biết pháp luật và ý thức chấp hành pháp luật của các tầng lớp xã hội. Thu hút, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ Tư pháp, nhất là ở cấp cơ sở; tiếp tục kiện toàn tổ chức hệ thống cơ quan Tư pháp cấp huyện và cấp xã.

4. Tập trung cao độ cho việc triển khai các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến thể chế của ngành, đặc biệt là Luật Lý lịch tư pháp, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Luật Quốc tịch Việt Nam.

5. Đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp trong phạm vi quản lý của Ngành và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện nhiệm vụ chuyên môn.

6. Tiếp tục hướng mạnh công tác chỉ đạo, điều hành của Lãnh đạo Bộ, Lãnh đạo các đơn vị thuộc Bộ, Sở Tư pháp, Cục THADS cấp tỉnh về cơ sở để tổ chức thực hiện nhiệm vụ bám sát thực tiễn, nhất là công tác cán bộ và triển khai thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của Ngành trong năm 2010; tăng cường hơn nữa sự phối hợp với các bộ, ngành ở Trung ương, các cấp ủy, chính quyền địa phương trong quá trình triển khai các hoạt động của Ngành.

II. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

1. Nâng cao chất lượng công tác xây dựng, thẩm định, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa VBQPPL; tập trung giải quyết một bước cơ bản tình trạng nợ Nghị định và các văn bản hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh thuộc thẩm quyền của Chính Phủ và Thủ tướng Chính phủ, các văn bản hướng dẫn luật, nghị định (trong quý I/2010 giải quyết xong 95% văn bản, đề án); ban hành và triển khai hiệu quả Thông tư của của Bộ Tư pháp ban hành Quy chế thẩm định dự án, dự thảo VBQPPL và các quy định thẩm định của các cơ quan tư pháp, pháp chế bộ, ngành để tạo cơ chế phản biện mạnh mẽ đối với các dự thảo văn bản, đề án. Theo dõi, đôn đốc quá trình xử lý văn bản trái pháp luật đã được phát hiện, đảm bảo sự thống nhất của hệ thống pháp luật và phù hợp với các cam kết quốc tế. Tăng cường sự tham gia của các Tổ chức pháp chế bộ, ngành, địa phương trong công tác xây dựng, thẩm định VBQPPL.

Các giải pháp chủ yếu:

– Tiến hành đồng bộ các công việc để triển khai thực hiện Luật ban hành VBQPPL năm 2008, Chỉ thị 636/CT-TTg ngày 20/5/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thực hiện Luật Ban hành VBQPPL và các biện pháp thi hành Luật, như: chủ động ban hành hoặc phối hợp với các bộ, ngành liên quan ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh; tham mưu cho Chính phủ, phối hợp với các bộ, ngành tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc trong khi thi hành pháp luật.

– Xây dựng, ban hành các văn bản hướng dẫn về xây dựng, thẩm định VBQPPL, nhất là vấn đề liên quan đến kinh phí; Quy chế thẩm định VBQPPL của Bộ. Chỉ đạo và hướng dẫn các địa phương xây dựng Quy chế thẩm định VBQPPL; tăng cường cơ sở vật chất và nhân sự cho các đơn vị trực tiếp triển khai thi hành Luật.

– Hoàn thiện thể chế về công tác kiểm tra VBQPPL; kiện toàn tổ chức, hoạt động của hệ thống kiểm tra văn bản trên toàn quốc; bổ sung cán bộ làm công tác văn bản ở các địa phương; chú trọng hướng dẫn nghiệp vụ, tập huấn cho cán bộ trực tiếp làm công tác văn bản; tích cực, chủ động trong việc phối hợp với các bộ, ngành, địa phương xây dựng, thẩm định, kiểm tra, rà soát hệ thống VBQPPL; tham gia ngay từ khâu đầu tiên của quy trình soạn thảo VBQPPL ở tất cả các bộ, ngành.

– Sử dụng tốt hơn nữa cơ chế phản biện xã hội trong thẩm định các dự án, đề án xây dựng luật; khai thác tốt các kênh thông tin báo chí và ý kiến phản hồi của người dân và doanh nghiệp về những bất cập của pháp luật để kịp thời kiểm tra, rà soát hệ thống VBQPPL.

2. Tập trung cao độ cho việc hoàn thiện văn bản hướng dẫn thi hành Luật THADS; kiện toàn tổ chức và quy hoạch đội ngũ cán bộ các cơ quan THADS; phấn đấu thi hành xong đạt 80% về việc và 60% về tiền trên số có điều kiện thi hành; giảm từ 5 đến 10% số vụ việc thi hành án tồn đọng; giải quyết triệt để và hạn chế đến mức thấp nhất khiếu nại, tố cáo trong THADS; tăng cường chỉ đạo, điều hành của Bộ Tư pháp, Tổng cục THADS, đảm bảo nghiêm chế độ kỷ luật, kỷ cương công vụ; Sở Tư pháp tiếp tục thực hiện vai trò tham mưu, giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh quản lý nhà nước về công tác THADS, phối hợp và tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan THADS hoàn thành nhiệm vụ. Tiến hành bổ nhiệm xong Thừa hành viên và phối hợp với các cơ quan hữu quan của thành phố Hồ Chí Minh triển khai thí điểm chế định thừa phát lại tại thành phố Hồ Chí Minh.

Các giải pháp chủ yếu:

– Chủ động phối hợp với các bộ, ngành ban hành đầy đủ các VBQPPL hướng dẫn thi hành Luật THADS và các Nghị định hướng dẫn Luật THADS, tạo cơ sở pháp lý đồng bộ, thống nhất cho hoạt động THADS.

– Đổi mới công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành công tác tổ chức, cán bộ và công tác thi hành án trên cơ sở tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin.

– Tiếp tục kiện toàn tổ chức, bộ máy cơ quan quản lý THADS và cơ quan THADS theo Luật THADS và Nghị định về tổ chức cơ quan THADS; bổ nhiệm các chức danh thẩm tra viên, thẩm tra viên chính, thẩm tra viên cao cấp tại các cơ quan THADS; chấn chỉnh kỷ cương, kỷ luật trong hoạt động thi hành án, tăng cường hơn nữa công tác thanh tra, kiểm tra nội bộ ngành để kịp thời chấn chỉnh các sai phạm, giáo dục, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức của đội ngũ cán bộ; tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.

– Tăng cường công tác phối hợp với Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Thành uỷ và Uỷ ban nhân dân các cấp trong công tác cán bộ và quản lý, chỉ đạo THADS; tăng cường phối hợp giữa cơ quan THADS với cơ quan Tư pháp các cấp nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong THADS và giải quyết tốt các khiếu nại, tố cáo về THADS. Phối hợp với Toà án nhân dân tối cao tổng rà soát các bản án, quyết định của Toà án tuyên không rõ, có sai sót, có căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm và án tuyên khó thi hành để chỉ đạo giải quyết.

– Tiếp tục tăng cường kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện hoạt động cho công tác THADS. Phối hợp, đề xuất với Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiếp tục tạo điều kiện về đất đai, giải phóng mặt bằng để xây dựng trụ sở và kho vật chứng cho cơ quan THADS, phấn đấu đến năm 2015 phải xây dựng xong kho vật chứng của các cơ quan THADS.

– Tăng cường hợp tác quốc tế về THADS để tranh thủ sự hỗ trợ về kỹ thuật cho công tác hoàn thiện thể chế, tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức THADS.

3. Triển khai hiệu quả Đề án "Triển khai thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật": tổ chức có trọng tâm, trọng điểm tại một số bộ, ngành, địa phương công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong lĩnh vực an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường. Củng cố, kiện toàn tổ chức thực hiện công tác theo dõi thi hành pháp luật tại Bộ Tư pháp và các Bộ: Tài chính, Tài nguyên và Môi trường, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Công Thương, Khoa học và Công nghệ và Y tế; Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, thành phố Hồ Chí Minh và Nghệ An. Đánh giá, rút kinh nghiệm để xây dựng Nghị định của Chính phủ về theo dõi thi hành pháp luật (trong đó quy định các tiêu chí đánh giá hiệu quả thi hành pháp luật).

Các giải pháp chủ yếu:

– Sớm ban hành Thông tư hướng dẫn nghiệp vụ công tác theo dõi thi hành pháp luật.

– Hướng dẫn, tập huấn cho Sở Tư pháp, các Tổ chức pháp chế bộ, ngành trong việc triển khai thực hiện Đề án "Triển khai thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật".

– Phối hợp với các cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương và các bộ, ngành liên quan đảm bảo đủ cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ có năng lực, được tập huấn tham gia thực hiện nhiệm vụ này.

4. Xây dựng, ban hành các văn bản hướng dẫn và triển khai thực hiện có hiệu quả Luật Lý lịch tư pháp, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và Luật Quốc tịch Việt Nam; tăng cường quản lý nhà nước và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực hành chính tư pháp và đăng ký giao dịch bảo đảm; phối hợp với Uỷ ban Pháp luật của Quốc hội hoàn thiện và trình Quốc hội thông qua dự án Luật Nuôi con nuôi; nâng cao hiệu quả việc quản lý nuôi con nuôi ở Việt Nam.

Tổ chức kiểm tra công tác đăng ký giao dịch bảo đảm trên toàn quốc, kịp thời giải quyết các vấn đề phát sinh đảm bảo nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đăng ký giao dịch bảo đảm. Tiếp tục củng cố, kiện toàn mạnh mẽ thiết chế đăng ký giao dịch, bảo đảm; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong công tác đăng ký, cung cấp thông tin về giao dịch, tài sản; triển khai Dự án xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho Hệ thống đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm.

Các giải pháp chủ yếu:

– Tổ chức việc phổ biến, quán triệt Luật Lý lịch tư pháp, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành tới các cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ Tư pháp và cơ quan THADS các cấp, Lãnh đạo Sở và các phòng trực thuộc Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; tập huấn, bồi dưỡng về pháp luật và kỹ năng, nghiệp vụ giải quyết bồi thường, lý lịch tư pháp cho các cán bộ, công chức trong và ngoài Ngành Tư pháp được giao thực hiện việc giải quyết yêu cầu bồi thường và lý lịch tư pháp.

– Xây dựng Đề án thành lập Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia thuộc Bộ Tư pháp và các tổ chức quản lý cở sở dữ liệu lý lịch tư pháp tại các Sở Tư pháp; xây dựng đội ngũ công chức có năng lực làm công tác lý lịch tư pháp, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp, xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và cấp Phiếu Lý lịch tư pháp; bố trí kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện làm việc cho công tác quản lý lý lịch tư pháp và xây dựng cở sở dữ liệu lý lịch tư pháp tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và các tổ chức quản lý cở sở dữ liệu lý lịch tư pháp của các Sở Tư pháp.

– Kiện toàn về tổ chức bộ máy, nhân lực để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác bồi thường; thành lập cơ quan quản lý nhà nước về bồi thường; hoàn thiện, trình ban hành các văn bản hướng dẫn Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong quý I/2010, nhất là các Thông tư hướng dẫn việc bồi thường nhà nước trong lĩnh vực tư pháp, THADS.

– Đẩy mạnh công tác kiểm tra nghiệp vụ chuyên môn, phát hiện những thiếu sót của địa phương để có uốn nắn kịp thời; kiểm tra, hướng dẫn các Sở Tư pháp và các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài trong việc thực hiện các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Quốc tịch Việt Nam, triển khai các việc về hộ tịch.

– Hoàn tất các kết quả tổng kết tình hình thực hiện Luật Công chứng và Nghị định số 79/2007/NĐ-CP để đề xuất các giải pháp tích cực nhằm tăng cường hiệu quả công tác chứng thực trong thời gian tới và đề xuất những nội dung cần sửa đổi, bổ sung pháp luật về chứng thực cho phù hợp với thực tiễn và tiến trình cải cách hành chính, cải cách tư pháp.

– Chủ động xây dựng các kế hoạch cụ thể trong việc phối hợp với các đơn vị chức năng trong và ngoài Bộ để tăng cường hơn nữa công tác xây dựng thể chế; đôn đốc, kiểm tra công tác đăng ký giao dịch bảo đảm tại các địa phương. Khuyến khích cán bộ, công chức, viên chức chủ động nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm thực hiện tốt công việc được giao. Tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo, điều hành của Lãnh đạo Cục trên cơ sở phân cấp hợp lý cho Thủ trưởng các đơn vị thuộc Cục và tăng tính chủ động của cán bộ, công chức, viên chức trực tiếp thực hiện nhiệm vụ.

5. Tiếp tục hoàn thiện thể chế, xây dựng các chương trình, chính sách phát triển hoạt động bổ trợ tư pháp, nhất là các chiến lược, quy hoạch phát triển lĩnh vực này; tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về bổ trợ tư pháp theo định hướng xã hội hoá; nâng cao năng lực cho đội ngũ luật sư phục vụ yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và nâng cao vai trò của tổ chức Đảng trong các tổ chức hành nghề luật sư; tăng cường trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương trong quản lý và đảm bảo điều kiện vật chất, nhân lực phát triển hoạt động công chứng, giám định tư pháp.

Các giải pháp chủ yếu:

– Phối hợp chặt chẽ với Chính phủ và các bộ, ngành trong việc xây dựng các chiến lược, quy hoạch phát triển và các đề án, văn bản liên quan, bảo đảm tính đồng bộ và kịp thời. Chuẩn bị trước kế hoạch triển khai thực hiện các văn bản, đề án đã trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ như Nghị định thay thế Nghị định số 05/2005/NĐ-CP về bán đấu giá tài sản, Đề án quy hoạch phát triển các tổ chức hành nghề công chứng ở Việt Nam, Đề án về đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác giám định tư pháp.

– Phối hợp chặt chẽ với Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Hội Luật gia Việt Nam và các địa phương để triển khai hiệu quả Chỉ thị số 33-CT/TW ngày 30/3/2009 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của luật sư. Triển khai thực hiện Đề án phát triển đội ngũ luật sư phục vụ hội nhập kinh tế quốc tế từ năm 2010 đến năm 2020 và Đề án đào tạo chuyên gia pháp luật, luật sư phục vụ yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế; nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, kết hợp thực hiện tốt vai trò tự quản của các tổ chức luật sư; sớm phát hiện và kịp thời chấn chỉnh các biểu hiện lệch lạc, tiêu cực trong hoạt động luật sư, tư vấn pháp luật.

– Xây dựng và triển khai thực hiện Lộ trình bước 2 cho việc chuyển giao việc chứng thực các hợp đồng, giao dịch từ Ủy ban nhân dân cấp huyện, xã sang tổ chức hành nghề công chứng. Hoàn thành việc quy hoạch trên phạm vi toàn quốc và tổ chức thực hiện đầy đủ Đề án quy hoạch phát triển các tổ chức hành nghề công chứng ở Việt Nam.

– Triển khai việc bán đấu giá quyền sử dụng đất ở tất cả các tỉnh, trong đó Sở Tư pháp quản lý nhà nước về tất cả các loại hình bán đấu giá, đặc biệt là bán đấu giá tài sản công.

– Phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành và địa phương hoàn thiện các thể chế; tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về chế độ, chính sách và các vấn đề phát sinh trong hoạt động bổ trợ tư pháp.

6. Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý, báo chí, xuất bản; xác định trọng tâm nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của đội ngũ cán bộ, công chức, hỗ trợ đắc lực cho việc thực hiện các nhiệm vụ của Ngành. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Tiếp tục xây dựng dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (dự kiến trình Chính phủ tháng 8/2010); trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho thanh thiếu niên”; nghiên cứu, rà soát, đánh giá về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở phục vụ xây dựng Luật Hòa giải; tổng kết 05 năm thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Chương trình hành động quốc gia về PBGDPL; đề xuất “Ngày Hiến pháp” hoặc “Ngày Pháp luật” trong toàn quốc.

Nghiên cứu và triển khai thực hiện các chiến lược, đề án phát triển lĩnh vực TGPL; xây dựng và trình Chiến lược phát triển TGPL ở Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030; Đề án tăng cường công tác trợ giúp pháp lý tại 62 huyện nghèo; Thông tư liên tịch số 10/2007/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định về TGPL trong hoạt động tố tụng; tham gia xây dựng Chiến lược xoá đói giảm nghèo đến năm 2020, tầm nhìn 2030, các chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo và tổ chức thực hiện, kiểm tra các chương trình mục tiêu đảm bảo Chương trình được thể chế hoá và đi vào cuộc sống.

Chuyển tải kịp thời thông tin về hoạt động của Ngành; nâng cao chất lượng, tính thời sự và hàm lượng khoa học của các tin, bài, ấn phẩm phát hành; nâng cao uy tín của Ngành Tư pháp trên các phương tiện thông tin, đại chúng. Thực hiện có hiệu quả cao Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của Báo Pháp luật Việt Nam, Đề án Báo điện tử Báo Pháp luật Việt Nam; Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của Nhà xuất bản Tư pháp.

Các giải pháp chủ yếu:

– Tiếp tục củng cố, phát huy vai trò của Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL các cấp; tăng cường năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác PBGDPL, nhất là ở cấp huyện và xã. Nghiên cứu, đổi mới các phương thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; các hình thức tủ sách pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác này. Xây dựng kế hoạch và tổ chức tập huấn, phổ biến, giáo dục pháp luật để nâng cao trình độ cán bộ Tư pháp ở cơ sở. Thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, đánh giá kịp thời kết quả phổ biến, giáo dục pháp luật tại các địa phương, đánh giá và nhân rộng những gương điển hình, những cách làm mới, hiệu quả trong hoạt động PBGDPL.

– Tiếp tục củng cố, kiện toàn tổ chức, bộ máy của các Trung tâm TGPL; phát triển mạng lưới Chi nhánh, Tổ cộng tác viên TGPL ở cấp huyện và Câu lạc bộ TGPL ở cấp xã; tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ và cộng tác viên TGPL; mở rộng mạng lưới cộng tác viên trợ giúp pháp lý ở cấp huyện và cấp xã. Tăng cường và đẩy mạnh hoạt động của Hội đồng phối hợp liên ngành về TGPL trong tố tụng; nâng cao chất lượng tham gia TGPL trong hoạt động tố tụng. Ban hành và áp dụng các quy trình ISO vào hoạt động quản lý của Cục TGPL, Bộ Tư pháp; chỉ đạo thực hiện tốt Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL, Quy tắc nghề nghiệp TGPL. Triển khai hiệu quả hoạt động của Quỹ TGPL. Đẩy mạnh hoạt động TGPL lưu động ở vùng sâu, vùng xa và hoạt động TGPL cho các đối tượng là người dân tộc, đối tượng chính sách. Thường xuyên chỉ đạo, hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện Luật TGPL và các văn bản hướng dẫn thi hành, kịp thời hướng dẫn các địa phương tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện.

– Có cơ chế khuyến khích cán bộ, công chức, viên chức tham gia viết bài, đưa tin cho các báo, tạp chí, ấn phẩm của Ngành. Nâng cao ý thức chính trị, bản lĩnh nghề nghiệp, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ báo chí cho đội ngũ phóng viên, cộng tác viên và những người làm công tác báo chí, xuất bản. Đa dạng hóa các kênh phát hành báo, tạp chí và các ấn phẩm pháp lý, chú trọng công tác quảng cáo, quan hệ công chúng để xây dựng hình ảnh, thương hiệu cho các báo, tạp chí, chuyên san, Nhà xuất bản của Ngành.

7. Tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Luật Tương trợ tư pháp; ban hành Quy chế quản lý hoạt động đối ngoại của Bộ, xây dựng Chương trình đối ngoại năm 2010 của Bộ thật khoa học, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh hợp tác quốc tế về pháp luật và tư pháp; triển khai thực hiện Chương trình Đối tác Tư pháp do Uỷ ban Châu Âu, Đan Mạch và Thụy Điển đồng tài trợ (giai đoạn 2010- 2015) và các dự án trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, trợ giúp pháp lý; tiếp tục thực hiện các hoạt động theo Chương trình hậu gia nhập WTO của Chính phủ nhằm đảm bảo thực thi các cam kết của Việt Nam với WTO. Củng cố quan hệ hợp tác quốc tế về pháp luật và tư pháp với các nước, tổ chức quốc tế; mở rộng hợp tác với các nước có tiềm năng; chú trọng tăng cường hợp tác với các đối tác truyền thống, các nước láng giềng các nước trong khu vực; đàm phán và tiến tới ký kết Hiệp định Tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự và thương mại với một số quốc gia.

Các giải pháp chủ yếu:

– Rà soát, đánh giá tình hình triển khai hiệu quả Luật Tương trợ tư pháp và tham mưu cho Chính phủ, các bộ, ngành liên quan có các biện pháp tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn thi hành Luật.

– Tham mưu với các cơ quan cấp trên việc ký kết, gia nhập các điều ước, diễn đàn quốc tế về pháp luật và tư pháp (kết thúc đàm phán Hiệp định Tương trợ tư pháp với Vương quốc Anh, An-giê-ri; chuẩn bị phương án đàm phán với Campuchia, Ấn Độ, Trung Quốc (Đài Loan)…; nghiên cứu tham gia một số công ước quốc tế La Hay về tư pháp quốc tế).

– Tiếp tục huy động các nguồn hỗ trợ quốc tế, điều phối hài hoà, có trọng tâm, trọng điểm các nguồn tài trợ quốc tế phục vụ công tác của Bộ, Ngành; tham khảo kinh nghiệm các nước phục vụ các mục tiêu cải cách pháp luật, cải cách tư pháp và Chương trình công tác năm 2010 của Ngành.

– Chủ động hơn nữa trong việc xây dựng Đề án tăng cường hợp tác quốc tế của Bộ, Ngành.

8. Xây dựng dự thảo Quy hoạch tổng thể phát triển Ngành Tư pháp đến năm 2020; tập trung cao cho việc kiện toàn công tác tổ chức – cán bộ của Ngành, nhất là ở cơ sở và các đơn vị mới thành lập, xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong sạch, vững mạnh; tạo chuyển biến thực sự về chất lượng đào tạo cán bộ pháp luật ở các tỉnh vùng sâu, vùng xa có điều kiện khó khăn về trình độ cán bộ tư pháp. Tăng cường năng lực cho các Tổ chức pháp chế bộ, ngành. Xây dựng và triển khai thực hiện Đề án tổng thể “Xây dựng và nâng cao chất lượng các cơ sở đào tạo trường Đại học Luật Hà Nội, trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh và Học viện Tư pháp”, nhằm tạo chuyển biến mạnh về chất lượng trong hoạt động đào tạo luật, đào tạo các chức danh tư pháp, tập trung đột phá vào khâu đào tạo nguồn cán bộ có trình độ trung cấp luật phục vụ cho các tỉnh còn khó khăn về nhân lực.

Các giải pháp chủ yếu:

– Khẩn trương hoàn thiện kết quả nghiên cứu khoa học về Chiến lược phát triển Ngành; triển khai và tổng hợp kịp thời các kết quả điều tra cơ bản phục vụ xây dựng chiến lược, quy hoạch Ngành để làm căn cứ khoa học và thực tiễn phục vụ việc xây dựng Quy hoạch tổng thể phát triển Ngành Tư pháp.

– Làm tốt công tác quy hoạch cán bộ, điều chỉnh quy hoạch cán bộ theo định kỳ, chú trọng phát triển của công chức trẻ, nữ; tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác đào tạo cán bộ có trình độ phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước khi hội nhập kinh tế quốc tế; tiếp tục kiện toàn đội ngũ cán bộ, đặc biệt chú trọng đến các đơn vị mới thành lập và đơn vị chuyển giao hoặc được bổ sung nhiệm vụ, các đơn vị xây dựng pháp luật. Bộ tiếp tục hỗ trợ các địa phương trong công tác chuẩn hóa đội ngũ công chức tư pháp, tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho tư pháp cấp huyện, cấp xã.

– Tiếp tục đổi mới cơ chế tuyển dụng cán bộ, tạo môi trường làm việc công bằng, bình đẳng, công khai, dân chủ, đoàn kết, quan tâm tốt hơn đến đời sống của cán bộ; thực hiện việc điều động, luân chuyển cán bộ, đặc biệt là việc luân chuyển cán bộ từ Trung ương về địa phương và luân chuyển cán bộ trẻ đi địa phương để nâng cao hiểu biết thực tế về tư pháp địa phương.

– Phối hợp chặt chẽ với Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai thực hiện Đề án đưa pháp luật các nước ASEAN vào giảng dạy trong các cơ sở đào tạo luật.

– Xây dựng và thực hiện hiệu quả cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức hữu quan (như Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Liên đoàn Luật sư Việt Nam) trong hoạt động đào tạo nguồn bổ nhiệm các chức danh tư pháp nhằm tháo gỡ các khó khăn trước mắt, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo các chức danh tư pháp.

– Xây dựng và trình Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế Nghị định số 122/2004/NĐ-CP ngày 18/5/2004 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức pháp chế các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và doanh nghiệp nhà nước phù hợp với giai đoạn mới.

– Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ của các cơ sở đào tạo cán bộ pháp luật; đào tạo thành công khoá 1 tại Trường Trung cấp Luật thành phố Buôn Ma Thuột và tiếp tục tuyển sinh các khoá tiếp theo, đáp ứng yêu cầu của các tỉnh Tây Nguyên. Thành lập một số trường trung cấp luật tại một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và triển khai kế hoạch đào tạo trong năm 2010.

9. Tập trung nghiên cứu các vấn đề thực tiễn quản lý nhà nước về công tác tư pháp đặt ra trong năm 2010, đặc biệt là các nhiệm vụ trọng tâm của Ngành và các dự án luật, pháp lệnh đang soạn thảo; hoàn thiện hệ thống pháp luật và cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 48/NQ-TW, Nghị quyết số 49/NQ-TW; nghiên cứu bổ sung, phát triển Cương lĩnh, Chiến lược phát triển kinh tế xã hội năm 2011-2015, bổ sung các định hướng và giải pháp cho Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, các nhiệm vụ trọng tâm thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp, xây dựng Chiến lược và Quy hoạch phát triển Ngành Tư pháp trong bối cảnh công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, đặc biệt là vai trò của Bộ Tư pháp trong việc đại diện Chính phủ thực hiện các cam kết, giải quyết các tranh chấp quốc tế trong bối cảnh hội nhập quốc tế và xu thế toàn cầu hoá.

Các giải pháp chủ yếu:

– Đổi mới quy trình tổ chức nghiên cứu, nghiệm thu kết quả nghiên cứu khoa học và triển khai ứng dụng trong hoạt động của lý nhà nước của Ngành.

– Tăng cường đầu tư một cách tập trung kinh phí cho công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, Ngành; tăng cường hợp tác quốc tế để tranh thủ kinh nghiệm pháp lý và các nguồn lực bên ngoài cho công tác nghiên cứu khoa học pháp lý; đa dạng hóa hình thức tổ chức nghiên cứu khoa học theo phương châm thiết thực, hiệu quả.

– Có cơ chế thỏa đáng khuyến khích cán bộ, công chức, viên chức Ngành Tư pháp tích cực tham gia nghiên cứu khoa học; phát huy trí tuệ của đội ngũ chuyên gia trong và ngoài Ngành.

10. Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác thống kê, công tác kế hoạch, tài chính của Ngành. Xây dựng hệ thống chỉ tiêu của Ngành phù hợp với hệ thống chỉ tiêu quốc gia có liên quan và đảm bảo gắn kết với các chỉ số phát triển kinh tế – xã hội. Tạo chuyển biến cơ bản về quản lý ngân sách, tài sản và xây dựng cơ bản của Ngành trên cơ sở triển khai hiệu quả các Đề án đổi mới xây dựng hệ thống trụ sở và kho vật chứng cơ quan THADS địa phương đến năm 2015, tầm nhìn 2020, Đề án nâng cao chất lượng các công trình xây dựng cơ bản của Bộ Tư pháp.

Các giải pháp chủ yếu:

– Khẩn trương triển khai có hiệu quả Đề án đổi mới công tác kế hoạch của Ngành Tư pháp, trong đó tập trung xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê của Ngành; hoàn thiện thể chế về thống kê của Ngành (xây dựng và ban hành các Thông tư về thống kê của Ngành).

– Chủ động nắm bắt kế hoạch hoạt trong năm của các đơn vị và chương trình hành động trọng tâm của Ngành để đưa ra định hướng phân bổ ngân sách cho phù hợp, ưu tiên cao nhất cho việc hoàn thành các nhiệm vụ của Bộ, Ngành.

– Thông báo vốn đầu tư kịp thời ngay từ đầu năm, bảo đảm đủ định mức cho các đơn vị dự toán, các dự án. Theo dõi sát sao việc thực hiện kế hoạch ngân sách của các đơn vị để có những bổ sung, điều chỉnh kịp thời. Kiên quyết xử lý những đơn vị, cá nhân không thực hiện đúng kế hoạch ngân sách đã được phê duyệt theo đúng quy định của pháp luật, kể cả yêu cầu phải xuất toán.

– Chủ động tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác thống kê, kế hoạch, tài chính tại cơ quan tư pháp địa phương.

11. Thực hiện công tác thanh tra, thường trực tiếp công dân, tiếp nhận, xử lý và giải quyết kịp thời, đúng pháp luật đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân, góp phần giữ vững ổn định chính trị – xã hội, nhằm phục vụ tốt nhất và kịp thời cho Đại hội Đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XI. Tiếp tục chỉ đạo kiểm tra, đôn đốc giải quyết dứt điểm các vụ việc khiếu nại, tố cáo tồn đọng, bức xúc, kéo dài về THADS; chỉ đạo chủ động giải quyết ngay các vụ việc mới phát sinh tại cơ sở, hạn chế tối đa khiếu kiện vượt cấp.

Các giải pháp chủ yếu:

– Đẩy mạnh hoạt động thanh tra việc thực hiện chính sách pháp luật đối với hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản và thanh tra chuyên ngành trên một số lĩnh vực quản lý nhà nước của Ngành; thành lập các đoàn thanh tra, xác minh giải quyết khiếu nại, tố cáo khi có yêu cầu thực tế; tổ chức các Đoàn kiểm tra việc thực hiện kết luận thanh tra và quyết định giải quyết khiếu nại tại các địa phương.

– Tăng cường năng lực và đề cao trách nhiệm giải quyết dứt điểm khiếu nại, tố cáo ngay từ cấp cơ sở, các địa phương.

– Thực hiện đúng quy trình thanh tra, giải quyết khiếu nại tố cáo và thanh tra chuyên ngành.

– Thường xuyên tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ thanh tra cho đội ngũ cán bộ làm công tác này, cập nhật những kiến thức mới, nhất là kiến thức về những lĩnh vực chưa chuyên sâu như: xây dựng, tài chính…

12. Đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong các lĩnh vực hoạt động của Ngành.

Các giải pháp chủ yếu:

– Tổ chức sơ kết 05 năm thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, để xác định phương hướng cải cách tư pháp trong những năm tiếp theo.

– Hoàn thành nhiệm vụ rà soát và kiến nghị đơn giản hoá các thủ tục hành chính trong lĩnh vực tư pháp, đảm bảo giảm tối thiểu chung là 30%; công khai các thủ tục hành chính ngay sau khi được ban hành.

– Tiếp tục triển khai thực hiện Chỉ thị số 01/CT-BTP ngày 10/6/2009 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Ban hành các Quy chế và sử dụng và quản lý hệ thống thư điện tử của Bộ; quản lý và sử dụng Cổng thông tin điện tử của Bộ; nhất là tập trung đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, chỉ đạo, điều hành và hoạt động chuyên môn nghiệp vụ trên các lĩnh vực thi hành án dân sự, hộ tịch, lý lịch tư pháp, công chứng.

13. Duy trì tốt sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành trong công tác tư pháp, bám sát thực tiễn công việc, phát hiện, tháo gỡ và giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc, bất cập, yếu kém trong hoạt động của Bộ, Ngành, đặc biệt là của các cơ quan Tư pháp và THADS địa phương; đảm bảo giải quyết đúng tiến độ và không ngừng nâng cao chất lượng công việc. Đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong toàn Ngành một cách thực chất, hiệu quả, đặc biệt là trong khối cơ quan THADS. Xây dựng hệ tiêu chí đánh giá, xếp loại các đơn vị thuộc Bộ, cơ quan Tư pháp, THADS địa phương.

Các giải pháp chủ yếu:

– Xây dựng chương trình công tác cụ thể, sát với chương trình trọng tâm của địa phương và của Ngành.

– Lãnh đạo Bộ, Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị trong Ngành tiếp tục chỉ đạo sát sao, kịp thời việc thực hiện nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị; khắc phục tình trạng thụ động, ỷ lại sự chỉ đạo của cấp trên trong triển khai thực hiện nhiệm vụ.

– Tranh thủ hiệu quả sự lãnh đạo, chỉ đạo, quan tâm, giúp đỡ của cấp ủy, chính quyền địa phương trong công tác tư pháp; tiếp tục chú trọng công tác phối hợp, tăng cường mối quan hệ trong công tác; hướng mạnh về cơ sở; thực hiện việc phân cấp mạnh cho các đơn vị, các cá nhân nhằm xác định cụ thể nhiệm vụ, nâng cao tinh thần trách nhiệm.

– Tăng cường vai trò đầu mối tham mưu, tổng hợp, điều phối hoạt động của cơ quan, đơn vị, phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của Lãnh đạo Bộ, lãnh đạo cơ quan, đơn vị; ban hành và triển khai hiệu quả Quy chế tiếp nhận, xử lý, giải đáp các kiến nghị của địa phương.

– Tăng cường kỷ cương hành chính, kỷ luật lao động; phát huy tinh thần trách nhiệm của lãnh đạo các đơn vị trong việc duy trì kỷ cương, kỷ luật, đảm bảo chất lượng và tiến độ công việc.

– Duy trì nghiêm chế độ giao ban công tác của Lãnh đạo Bộ, Lãnh đạo các đơn vị trong Ngành.

14. Phát động phong trào thi đua sâu rộng trong toàn Ngành; phấn đấu hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ của Ngành để hướng tới kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước trong năm 2010, Đại hội Đảng bộ các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Tổ chức thành công Kế hoạch kỷ niệm 65 Ngày thành lập Ngành Tư pháp và Đại hội Thi đua yêu nước Ngành Tư pháp lần thứ III.

Để tiếp tục khẳng định vị thế của Ngành Tư pháp gắn chặt với sự chỉ đạo, điều hành của Quốc hội, Chính phủ và sự phát triển kinh tế – xã hội, toàn thể cán bộ, công chức, viên chức Ngành Tư pháp cần đồng lòng, quyết tâm chung sức vì nhân dân hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ chính trị được giao, nâng cao tinh thần trách nhiệm, làm việc chủ động, sáng tạo, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, cùng các ngành, các cấp và cả nước thực hiện thắng lợi kế hoạch công tác năm mà Quốc hội và Chính phủ đã đề ra./.

Nơi nhận:
– Bộ Chính trị;
– Ban Bí thư;
– Ban chỉ đạo Cải cách tư pháp TW;
– Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
– Thủ tướng Chính phủ;
– Phó TTg Trương Vĩnh Trọng;
– Văn phòng TW Đảng;
– Văn phòng Quốc hội;
– Văn phòng Chủ tịch nước;
– Văn phòng Chính phủ;
– Các Thứ trưởng;
– Các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp;
– Sở Tư pháp, Cục THADS cấp tỉnh;
– Cục Thi hành án Bộ Quốc phòng;
– Các Tổ chức pháp chế bộ, ngành;
– Lưu: VT, TH.

BỘ TRƯỞNG



Hà Hùng Cường

FILE ĐƯỢC ĐÍNH KÈM THEO VĂN BẢN

clip_image002clip_image004clip_image006clip_image008

(1) Trình Quốc hội khoá XII thông qua tại kỳ họp thứ 5 các dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Luật Lý lịch tư pháp; Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2010 và bổ sung Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XII (2007 – 2011); cho ý kiến tại kỳ họp thứ 6 dự án Luật Nuôi con nuôi; tiếp tục phối hợp với Văn phòng Chính phủ chỉnh lý dự án Luật Tiếp cận thông tin.

(2) Năm 2008, đã ban hành 38 văn bản, đề án thuộc thẩm quyền ban hành của Bộ hoặc liên tịch ban hành, đạt 60,31% kế hoạch.

(3) Cụ thể: thi hành xong hoàn toàn: 315.477 việc, thi hành đều: 16.578 việc, đình chỉ: 21.885 việc.

(4) Đến nay đã có 51/63 tỉnh, thành phố và 22 bộ, ngành có báo cáo tổng kết.

(5) Phát hành 13 số tạp chí định kỳ, 13 số chuyên đề hàng tháng với các chủ đề: “Con nuôi quốc tế”, “Trợ giúp pháp lý”, “THADS”, "Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp”, "Hợp tác quốc tế về pháp luật”, "Giám định tư pháp”, "Hoà giải ở cơ sở”, "Luật Quốc tịch”, "Thi hành pháp luật”, "Tư pháp Lâm Đồng”; xuất bản 07 ấn phẩm về các chuyên đề : “Khiếu kiện hành chính và tài phán hành chính”, “Pháp luật xử lý vi phạm hành chính”, “Kiểm tra và rà soát VBQPPL”, “THADS và công tác xã hội hoá”, “Pháp luật về con nuôi”, “Đăng ký giao dịch bảo đảm”, “Pháp luật và doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập”

(6) Luân chuyển, bổ nhiệm đồng chí Phó Cục trưởng Cục Trợ giúp pháp lý tăng cường cho tỉnh Điện Biên với chức danh Phó Giám đốc Sở Tư pháp; đồng chí Nguyên Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Cao Bằng, đồng chí cán bộ nữ, trẻ, về công tác tại Bộ, với chức danh Phó Vụ trưởng Vụ Phổ biến giáo dục pháp luật, nhằm tăng cường cán bộ có kinh nghiệm, kiến thức thực tiễn cho các đơn vị quản lý của Bộ; đồng chí nguyên Giám đốc Sở Tư pháp Bắc Giang về công tác tại Bộ với chức danh Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục THADS.

(7) Hiện nay, Trường có trên 17.000 sinh viên, trong đó có 6.100 sinh viên đại học hệ chính quy, 283 học viên cao học, 42 nghiên cứu sinh tiến sĩ luật học. Năm 2009, Trường đã tổ chức tốt nghiệp cho gần 3.000 cử nhân luật ở các hệ đào tạo, 39 thạc sỹ luật và 15 tiến sỹ luật.

(8) Tổ chức cho học viên đi dự 25 phiên tòa trên địa bàn thành phố Hà nội; 29 buổi tham quan tại các văn phòng Luật sư; phối hợp tổ chức 04 phiên tòa xét xử lưu động tại Học viện Tư pháp…

(9) Nghiên cứu Đề tài cấp Bộ: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin; Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng Luật Nuôi con nuôi; Cơ chế đảm bảo thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính…

(10) Triển khai nghiên cứu các đề tài cấp nhà nước như: đề tài Văn hoá pháp luật, đề tài Thể chế xã hội; đề tài Thực thi pháp luật và Hội thảo quốc gia "1000 năm Thăng Long – Hà Nội với những sự kiện chính trị – pháp lý quan trọng trong lịch sử phát triển của nhà nước và Pháp luật Việt Nam"; tổ chức hội thảo khoa học, tọa đàm về "Mô hình tổ chức hoạt động của Ngành Tư pháp trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá", "Phương pháp sơ kết Nghị quyết số 48/NQ-TW và đánh giá nhu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam giai đoạn 2010- quy phạm pháp luật", "Đánh giá tác động kinh tế – xã hội đối với một đạo luật sau khi ban hành", "Nhận diện các đặc trưng của VBQPPL"…

(11) Đề tài cấp Bộ về xây dựng Chiến lược phát triển Ngành Tư pháp trong giai đoạn hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước đang trong giai đoạn xây dựng báo cáo phúc trình.

(12) Đề án điều tra cơ bản phục vụ xây dựng chiến lược và quy hoạch Ngành mới bắt đầu triển khai.

(13) Bộ Tư pháp là 01 trong 03 Bộ đầu tiên hoàn thành việc thống kê và trình Tổ công tác chuyên trách cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ Bộ thủ tục hành chính của Ngành Tư pháp.

(14) Trong năm 2009, Ban Cán sự Đảng, Lãnh đạo Bộ đã làm việc với Ban Cán sự Đảng, Lãnh đạo các cơ quan: TAND tối cao, VKSND tối cao, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng, Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam… và khoảng 60 địa phương về công tác Tư pháp, THADS.

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: