Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

QUYỀN TƯ PHÁP TRONG CÁC CHÍNH THỂ HIỆN ĐẠI

BÙI NGỌC SƠN – Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

Trong khoa học từ trước đến nay, sự phân biệt cụ thể các mô hình chính thể chủ yếu dựa vào quan hệ giữa quyền lập pháp và quyền hành pháp mà ít thấy vai trò của quyền tư pháp. Người ta nhận thức rằng, dưới góc độ chính thể, không thấy sự khác nhau giữa tư pháp của hình thức nhà nước này với tư pháp của hình thức nhà nước khác. Điều này được lý giải là: dù nhà nước được tổ chức theo hình thức này hay hình thức khác, thì tư pháp với đặc tính của nó vẫn tồn tại độc lập 1 .

Theo truyền thống, đối tượng tác động của quyền tư pháp là các tranh chấp trong nhân dân và tranh chấp giữa nhân dân với nhà nước. Nhưng cùng với xu hướng phát triển của dân chủ, toà án còn xem xét cả hành vi của các quan chức hành pháp, thậm chí là cả tổng thống trong chính thể cộng hoà tổng thống. Như vậy, tương quan quyền lực trong mô hình chính thể có sự quan hệ giữa tư pháp và hành pháp. Hơn nữa, quyền tư pháp còn xem xét cả hành vi của Quốc hội lập pháp. Cùng với việc mở rộng đối tượng xét xử của toà án đối với các hoạt động của Chính phủ và Quốc hội, quyền tư pháp không còn thuần tuý mang tính chất tố tụng mà thực tế trên phương diện nào đó trở thành một cành quyền lực ngày càng quan trọng, là một yếu tố không thể bỏ qua trong việc xem xét toàn diện mô hình chính thể ở các quốc gia hiện đại.

Như vậy, việc xác định một mô hình chính thể không chỉ dựa vào quan hệ giữa lập pháp và hành pháp mà còn phải dựa vào quan hệ giữa tư pháp với các cành quyền lực đó. Trong mỗi một mô hình chính thể, quan hệ giữa tư pháp với lập pháp và hành pháp là khác nhau. Để làm sáng tỏ vấn đề này, dưới đây chúng tôi sẽ phân tích sự khác nhau của quyền tư pháp trong các chính thể hiện đại.

Quyền tư pháp trong chính thể cộng hoà tổng thống

Chính thể cộng hoà tổng thống, mà điển hình ở Mỹ, là một mô hình chính thể áp dụng nguyên tắc phân quyền một cách cứng rắn. Biểu hiện của nguyên tắc này trong quan hệ lập pháp và hành pháp đã được nói đến nhiều trong các ấn phẩm viết về Hiến pháp. Tuy nhiên, trong quan hệ giữa tư pháp với lập pháp và hành pháp, nó ít được đề cập đến. Sự kìm chế và đối trọng không chỉ được thể hiện trong quan hệ lập pháp và hành pháp mà còn trong quan hệ giữa tư pháp với lập pháp và hành pháp.

Hiến pháp của Mỹ quy định: "Quyền tư pháp Hợp chủng quốc được trao cho một Toà án tối cao, và cho những toà án ở cấp thấp hơn mà Quốc hội có thể đôi khi quyết định và thiết lập" 2 . Toà án Mỹ là một thể chế độc lập hành xử quyền tư pháp theo đúng mô hình tam quyền phân lập mà Montesquieu đã đưa ra. Các chánh án do Tổng thống bổ nhiệm, Quốc hội phê chuẩn và có nhiệm kỳ suốt đời. Hiến pháp trực tiếp thành lập và phân định thẩm quyền của Toà án tối cao Mỹ. Quốc hội không thể thay đổi các quyền của Toà án tối cao được ấn định trong Hiến pháp. Hoạt động tài phán của Toà án không chịu sự can thiệp của lập pháp và hành pháp.

Tuy nhiên, quan hệ giữa tư pháp với lập pháp và hành pháp cũng tạo nên một cơ chế kìm chế và đối trọng quyền lực.

Một mặt, Toà án tối cao Mỹ tự kìm chế mình trong phạm vi quyền tư pháp theo ranh giới của sự phân bố quyền lực để độc lập và không lẫn lộn sang địa hạt của quyền lập pháp và quyền hành pháp. Theo nguyên tắc tự kìm chế, Toà án không có quyền huỷ bỏ một đạo luật bất hợp hiến, cũng không xem xét tính hợp hiến của quá trình lập pháp của Quốc hội theo cách tham gia, góp ý kiến vào quá trình đó mà chỉ giải quyết những trường hợp cụ thể. Toà án không cụ thể hoá một đạo luật thành những chi tiết rộng quá phạm vi mà đạo luật đó có thể áp dụng. Nếu có một sự nghi ngờ nào đó về tính hợp hiến của một đạo luật, Toà án sẽ cố gắng làm sáng tỏ nó để tránh việc phải tuyên bố rằng đạo luật đó bất hợp hiến 3 . Đây là đặc điểm quan trọng của quan hệ tư pháp với lập pháp trong chính thể cộng hoà tổng thống.

Mặt khác, Toà án cũng là một sự đối trọng đối với các cành quyền lực khác , tham gia một cách sống động chứ không phải như một quan sát viên thụ động của đời sống chính trị.

Diễn biến của vụ Marbury và Madison:

Vào năm 1803, trước khi người kế nhiệm là Thomas Jefferson nhậm chức, Tổng thống Jon Adams bổ nhiệm Marbury vào ghế thẩm phán liên bang. Nhưng quyết định bổ nhiệm vẫn không được Ngoại trưởng mới dưới thời Jefferson là Medison gửi cho Marbury. Marbury thỉnh cầu lên Toà án tối cao, đề nghị Toà chỉ thị cho Medison gửi quyết định trên. Luật thông qua năm 1789 (Luật về hệ thống toà án) cho phép Toà trong những trường hợp như vậy đưa ra những chỉ thị cần thiết.

Nhưng Chánh án Toà án tối cao John Marshall tuyên bố: Toà án tối cao không có thẩm quyền đưa ra những chỉ thị như vậy. Ông giải thích: Hiến pháp Hoa Kỳ quy định rằng Toà án tối cao chỉ là cấp tòa phúc thẩm, trừ những trường hợp riêng biệt. Do đó, trong trường hợp này, Luật về hệ thống toà án 1789 cho phép thỉnh cầu thẳng lên Toà án tối cao là mâu thuẫn với quy định của Hiến pháp. Bởi vậy, Toà án tối cao không thể công nhận điều khoản đó của Luật có hiệu lực.

(Nguồn: Réne David, Những hệ thống pháp luật chính trong thế giới đương đại, Moskva, 1999- BBT)

Đối với Quốc hội

Hiến pháp Mỹ không quy định về thẩm quyền bảo hiến của Toà án tối cao. Nhưng Toà án tối cao Mỹ đã tự nhận cho mình vai trò bảo hiến với một số suy luận xuất hiện lần đầu tiên trong vụ Marbury và Madison: "Trong một vụ tranh chấp mà Toà án phải xem xét, nếu một bên đương sự đưa ra sự bất hợp hiến của đạo luật mà người ta muốn đem thi hành đối với y, thì Toà án phải kiểm tra xem sự bất hợp hiến đó thật hay không, và nếu có thật, Toà án phải từ chối áp dụng đạo luật bất hợp hiến" 4 . Lập luận của Toà án tối cao có giá trị đối với tất cả những nước theo mô hình bảo hiến của Mỹ. Như vậy thẩm quyền bảo hiến của Toà án Mỹ xuất phát từ nguyên tắc phân quyền trong việc tổ chức quyền lực Nhà nước. Theo nguyên tắc này, quyền tư pháp phải được hoàn toàn tự do để giải thích Hiến pháp và sự giải thích đó có tính chất bắt buộc. Nếu không, nguyên tắc phân quyền sẽ bị vi phạm. Đó là cơ sở lý luận cho việc độc lập hành xử quyền bảo hiến của Toà án.

Mặc dù về nguyên tắc, Toà án không có quyền huỷ bỏ một đạo luật bất hợp hiến, nhưng việc toà án từ chối áp dụng đạo luật như vậy trong một trường hợp cụ thể trên thực tế đã làm vô hiệu hoá đạo luật đó. Vì trong những trường hợp tương tự, nếu đương sự nại ra đạo luật đã bị toà án tuyên bố bất hợp hiến thì toà án thụ lý sẽ từ chối áp dụng.

Toà án tối cao Mỹ sau khi tự nhận cho mình vai trò bảo hiến trong vụ Marbury và Madison, đã không những tuyên bố vi hiến những điều khoản của đạo luật trực tiếp vi phạm Hiến pháp, mà cả những điều khoản trái với "tinh thần" Hiến pháp . Việc xác định một điều khoản của luật trái với tinh thần Hiến pháp đôi khi mang tính chủ quan của các thẩm phán. GS. Lê Đình Chân nhận định: "Những cái gì mà thẩm phán Mỹ tưởng là được thấy ở chính văn, hay ở tinh thần Hiến pháp, thực ra chỉ là những cái nằm trong đầu óc, trong thành kiến hay thâm tâm họ" 5 . Với quyền bảo hiến, Toà án tối cao Mỹ đã giải thích Hiến pháp theo ý chí của riêng mình, dần dần lấn át quyền lực của Quốc hội và Chính phủ. Hệ quả là, Toà án tối cao Mỹ, một cơ quan tư pháp với chức năng truyền thống là xét xử những vi phạm pháp luật đã trở thành "Chính phủ của ông Toà" . Khi Toà án thực thi quyền bảo hiến, đã lấn át sang lĩnh vực thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Chính phủ, rất có thể mục đích của chế độ bảo hiến bị biến dạng. Chế độ bảo hiến được sinh ra để bảo vệ những quyền lợi của công dân nhưng tính chủ quan, thành kiến không thể tránh khỏi của các thẩm phán có thể đưa chế độ bảo hiến đến chỗ vi phạm chính quyền công dân. Lịch sử bảo hiến của Mỹ đã chứng minh điều này: Tin tưởng rằng cách đây một thế kỷ, những cha đẻ của Hiến pháp Mỹ chủ trương kinh tế tự do, các thẩm phán Toà án tối cao Mỹ đã lên án các đạo luật tiến bộ như đạo luật cấm làm việc đêm tại các lò nướng bánh, cấm làm việc quá giờ luật định… vào thời thịnh hành của chính sách "Tân kinh tế" của Tổng thống F. B. Roosevelt. Sau năm 1932, Toà án tối cao Mỹ đã tuyên bố vi hiến những đạo luật về kinh tế xã hội mà chính các đạo luật này lại có ý nghĩa cứu vãn nền kinh tế Mỹ khỏi cơn khủng hoảng và đình trệ.

Ngày nay, " Chính phủ của ông Toà " ở Mỹ không còn nữa. Toà án tối cao Mỹ đã trở lại chức năng vốn có của nó là bảo vệ chính văn Hiến pháp và tinh thần của Hiến pháp, chứ không tìm cách thay thế chúng bằng những quan điểm cá nhân của mình. Do đó, Toà án tối cao đã dần dần trở thành một định chế đóng vai trò tích cực trong đời sống chính trị của Mỹ.

Toà án tối cao đã đóng vai trò tiên phong trong cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc ở Mỹ. Toà án đã cố gắng giúp cho người da đen có thể hưởng thụ không những quyền công dân lý thuyết của mình mà còn có thể sử dụng quyền đó trong thực tế. Toà án tối cao đã tận dụng quyền hành của mình để cho người da đen có thể tham dự vào các cuộc hội họp của chính đảng để chọn ứng cử viên ra tranh cử trong các cuộc bầu cử.

Năm 1954, Toà án tối cao (TATC) đã huỷ bỏ sự phân biệt chủng tộc tại các trường đại học vì cho rằng sự phân biệt này đã đưa đến một sự bất bình đẳng trong thực tế: những trường dành cho người da trắng thường tốt hơn các trường dành cho người da đen 6 .

Như vậy, toà án Mỹ đã xích lại gần công chúng hơn. Chính những ý tưởng tiến bộ của toà án về dân chủ, bình đẳng và công lý sẽ đóng vai trò như những yếu tố bảo đảm cho ngành lập pháp có thể ban hành những đạo luật dân chủ và công bằng phù hợp với nội dung và tinh thần của Hiến pháp. Thẩm quyền bảo hiến của Toà án Mỹ đã có ý nghĩa làm cho Quốc hội thận trong hơn trong việc thực thi quyền lập pháp của mình.

Đối với Tổng thống

Toà án không những có thể vô hiệu hoá những quyết định của Quốc hội mà cả những quyết định của Tổng thống vi phạm Hiến pháp.

Theo cơ chế đối trọng, Tổng thống cũng phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình trước vành móng ngựa của toà án. Về nguyên tắc, quyền luận tội và bãi chức Tổng thống thuộc về Quốc hội. Sau khi đã bãi chức theo thủ tục đó thì Tổng thống có thể bị xét xử bởi Toà án theo thủ tục tố tụng. Trong phiên xem xét và cách chức Tổng thống của Thượng viện, Chánh án Toà án tối cao liên bang lại là người điều khiển. Trên thực tế, Toà án có quyền phán xét những hành vi vi phạm pháp luật của Tổng thống, các quan chức hành pháp cũng như các cơ quan cụ thể của ngành hành pháp.

Năm 1952, Toà án tối cao Mỹ đã quyết định rằng: việc Tổng thống Truman ra lệnh trưng dụng ngành công nghiệp thép là vượt quá thẩm quyền của Tổng thống. Hay trường hợp TATC Mỹ đã cho rằng Tổng thống Nixon đã hành động trái Hiến pháp khi quyết định sử dụng trái mục đích những khoản tiền mà Quốc hội đã phân bổ để chi dùng cho việc ban hành những đạo luật đặc biệt. Vai trò của ngành tư pháp thể hiện rõ nét hơn khi TATC Mỹ ra quyết định trong vụ án " Nước Mỹ và Tổng thống Nixon " năm 1974. Mặc dù thời điểm đó có tới 4 trong số 9 người do chính Nixon bổ nhiệm, TATC Mỹ vẫn quyết định với đa số phiếu áp đảo buộc Nixon phải nộp các tài liệu có liên quan tới vụ Watergate. Chính những quyết định này thường châm ngòi cho những sự tranh luận và những mối quan tâm sâu sắc từ những thiết chế khác trong hệ thống chính trị và toàn xã hội, thậm chí còn châm ngòi cho Quốc hội xem xét, cách chức Tổng thống.

Đối với các cơ quan hành pháp

Toà án cũng có thẩm quyền ban hành các bản án, quyết định chống lại các cơ quan cụ thể của ngành hành pháp vi phạm pháp luật. Năm 1971, TATC Mỹ đã xác nhận quyền của tờ "Thời báo New york" được quyền xuất bản các "bản báo cáo của Lầu Năm Góc" của Daniel Ellsburg, nhân viên của Bộ Quốc phòng, bất chấp sự phản đối của Tổng thống và Bộ Trưởng Bộ Tư pháp 7 .

Quyền tư pháp trong các chính thể đại nghị

Các nhà nước theo chính thể đại nghị (kể cả cộng hoà lẫn quân chủ) đều áp dụng nguyên tắc phân quyền một cách mềm dẻo. Theo đó, dù phân lập với nhau nhưng các cành quyền lực vẫn có quan hệ với nhau. Trong khoa học, người ta đã thấy rằng, biểu hiện rõ nét tính chất mềm dẻo của nguyên tắc phân quyền, quan hệ giữa các cành quyền lực là chế độ bất tín nhiệm Chính phủ và sự lật đổ Quốc hội. Tuy nhiên, biểu hiện của điều đó trong quan hệ của quyền tư pháp với quyền lập pháp, quyền hành pháp thì ít được đề cập đến. Trong các chính thể đại nghị, quyền tư pháp cũng độc lập, nhưng sự phân quyền không cứng rắn như trong chính thể cộng hoà tổng thống mà mềm dẻo hơn.

Nếu như trong chính thể cộng hoà tổng thống, do sự phân quyền cứng rắn, Toà án độc lập hành xử quyền tư pháp, phán quyết của Toà án tối cao là phán quyết cuối cùng, thì trong chính thể quân chủ đại nghị điều này lại không hẳn như vậy. Trong chính thể quân chủ đại nghị ở Anh, quyền tư pháp không chỉ thuộc về Toà án mà còn thuộc về Nghị viện. Thượng nghị viện là cấp xét xử cao nhất. Ở Anh, Thượng nghị viện là cấp thượng thẩm tối cao nhưng chỉ phúc thẩm nếu có sự chấp thuận của Toà hay Toà thượng thẩm. Tuy nhiên, không phải là toàn viện xét xử mà chỉ có các thẩm phán quý tộc xét xử thay viện. Từ năm 1948, một Uỷ ban phúc thẩm thuộc Thượng nghị viện được thành lập để đảm nhiệm chức năng này 8 . Do đó, Toà án không có toàn quyền tư pháp. Nguyên do của nó là sự phân quyền ở chính thể quân chủ đại nghị này là tương đối, mềm dẻo.

Trong các chính thể cộng hoà đại nghị, Toà án có quyền huỷ bỏ một đạo luật vi phạm Hiến pháp. Ở các nước theo chính thể này thường tồn tại Toà án Hiến pháp hay một cơ quan tương tự với tư cách là cơ quan tư pháp chuyên trách có thẩm quyền tài phán về hành vi lập pháp của Quốc hội, phán xét về tính hợp hiến của các văn bản pháp luật mà Quốc hội ban hành. Sau chiến tranh thế giới thứ I, nhiều nước Châu Âu đã tổ chức Toà án bảo hiến như Tiệp Khắc (theo Hiến pháp 1920), áo (theo Hiến pháp 1920), Tây Ban Nha (theo Hiến pháp 1931). Sau chiến tranh thế giới thứ II, có hai quốc gia đã tổ chức Toà án bảo hiến là Tây Đức và Ý 9 . Hiện nay, việc tổ chức Toà án Hiến pháp phổ biến ở các nước Châu Âu.

Khác với chính thể cộng hoà tổng thống, ở chính thể cộng hoà đại nghị, nếu đạo luật được xác nhận là bất hợp hiến, Toà án Hiến pháp tuyên bố huỷ bỏ, không còn giá trị pháp lý. Ở đây, công dân nào cũng có quyền đệ đơn lên Toà án Hiến pháp yêu cầu xem xét tính chất bất hợp hiến của một đạo luật nào đó. Mục đích duy nhất của đơn khởi tố là xin tiêu huỷ đạo luật bất hợp hiến.

Toà án Hiến pháp không có quyền kết tội Tổng thống, nhưng có quyền xem xét về tính hợp hiến của việc buộc tội Tổng thống. Nó cũng có quyền giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền giữa lập pháp và hành pháp. Ngoài ra, trong chính thể cộng hoà đại nghị, có một loại Toà án chuyên trách khác có thẩm quyền xét xử hành vi của các nhân viên Chính phủ là Toà án hành chính.

Những điều nói trên cho thấy rằng, sự phân quyền giữa tư pháp với lập pháp và hành pháp trong chính thể cộng hoà đại nghị là tương đối.

Quyền tư pháp trong chính thể cộng hoà lưỡng tính

Điển hình là ở Pháp vừa có đặc điểm của chính thể cộng hoà tổng thống, vừa có đặc điểm của chính thể cộng hoà đại nghị.

Tư pháp trong chính thể cộng hoà lưỡng tính của Pháp giống với chính thể cộng hoà tổng thống và khác với chính thể cộng hoà đi nghị ở chỗ cơ quan tư pháp không thể huỷ bỏ đạo luật do cơ quan lập pháp ban hành; nhưng nó khác với chính thể cộng hoà tổng thống và giống chính thể cộng hoà đại nghị ở chỗ tồn tại một cơ quan bảo vệ Hiến pháp chuyên biệt là Hội đồng bảo hiến. Hội đồng bảo hiến không hoàn toàn như Toà án hiến pháp. Trong khoa học, người ta vẫn chưa thống nhất về bản chất của mô hình này. Có ý kiến cho rằng, đó là một cơ quan " bán tư pháp " vì rằng thủ tục tố tụng của nó thiếu tính tranh tụng và tính công khai. Nhưng trong các công trình nghiên cứu của mình, họ lại đặt nó cùng loại với các Toà án hiến pháp. Các nhà khoa học khác không phân biệt sự khác nhau giữa Hội đồng hiến pháp và Toà án hiến pháp. Favureu cho rằng, Hội đồng bảo hiến Pháp " không khác với những Toà án hiến pháp về thành phần, về thẩm quyền lẫn hoạt động của mình " 10 . Mô hình Hội đồng bảo hiến cho thấy nét đặc thù trong mối quan hệ giữ tư pháp với lập pháp và hành pháp của chính thể cộng hoà lưỡng tính ở Pháp.

Quyền tư pháp trong chính thể của các nhà nước xã hội chủ nghĩa

Đặc điểm nổi bật của chính thể của các nhà nước xã hội chủ nghĩa là không áp dụng nguyên tắc phân quyền mà thay vào đó là nguyên tắc thống nhất quyền lực. Theo đó, tất cả quyền lực trong nước thuộc về nhân dân, quyền lực nhà nước tập trung, thống nhất vào Quốc hội- cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Đặc điểm này thể hiện trong quan hệ giữa lập pháp và hành pháp đã được nói đến nhiều. Ở đây sẽ nói đến sự thể hiện của nguyên tắc thống nhất quyền lực của chính thể của các nhà nước xã hội chủ nghĩa trong quan hệ giữa tư pháp với lập pháp và hành pháp.

Do Quốc hội là cơ quan tập trung thống nhất quyền lực nhà nước, nên trong chính thể của các nhà nước xã hội chủ nghĩa, Quốc hội thành lập nên toà án, phân nhiệm cho toà án thực hiện quyền tư pháp và thực hiện quyền giám sát tối cao đối với Toà án. Ở đây không có Toà án tài phán về hành vi của Quốc hội. Trong thời gian gần đây, ở nước ta đã có những ý kiến đề nghị thành lập Toà án Hiến pháp ở Việt Nam để thực hiện chức năng xem xét tính hợp hiến của các đạo luật của Quốc hội 11 . Cần thấy rằng, việc Toà án tài phán về hành vi của Quốc hội dù là theo cách Toà án thường ở chính thể cộng hoà tổng thống hay theo cách Toà án Hiến pháp trong chính thể cộng hoà đại nghị thì cũng chỉ tồn tại trong các chính thể áp dụng nguyên tắc phân quyền. Theo đó, cấu trúc quyền lực là sự ngang bằng của các cành quyền lực. Toà án ở một vị thế ngang bằng với Quốc hội thì mi có thể tài phán về hành vi của Quốc hội. ở nước ta, quyền lực nhà nước được cấu trúc theo hình chóp mà đỉnh trên cùng là Quốc hội. Toà án ở một vị thế thấp hơn Quốc hội nên không thể tài phán về hành vi của Quốc hội. Theo nguyên tắc thống nhất quyền lực, Quốc hội là đại diện tối cao của chủ quyền nhân dân nên không thể có một cơ quan nào có thể đứng trên Quốc hội để phân xử hành vi của Quốc hội.

Xuất phát từ nguyên tắc thống nhất quyền lực, Nguyên thủ quốc gia và Thủ tướng Chính phủ chỉ chịu trách nhiệm trước Quốc hội chứ không phải trước Toà án. Toà án không có quyền xét xử hành vi chính trị của Nguyên thủ quốc gia và Thủ tướng Chính phủ. Tuy nhiên, Toà án có thể xét xử hành vi, quyết định của một số cơ quan, quan chức của Chính phủ.

Qua những điều trình bày trên, có thể thấy rằng, quyền tư pháp là một cành quyền lực nhà nước không chỉ mang tính chất tố tụng mà còn mang yếu tố chính trị. Trong các chính thể khác nhau có sự khác nhau trong quan hệ giữa quyền tư pháp với quyền lập pháp và quyền hành pháp. Quyền tư pháp cần phải được xem xét đến trong việc xác định mô hình chính thể./.

Chú thích:

1. Nguyễn Đăng Dung- Một số vấn đề về Hiến pháp và bộ máy nhà nước. NXB Giao thông vận tải, H, 2001, tr.432.

2. The federalist- Appendix V The constitution of the United States, P.594.

3. Viện khoa học chính trị- Tập bài giảng chính trị học, NXB Chính trị Quốc gia, H,

2000, tr.353.

4. Lê Đình Chân- Luật Hiến pháp – Khuôn mẫu dân chủ, cuốn II, Sài Gòn 1974, tr.80.

5. Lê Đình Chân-Sđd, tr.85

6. Lê Đình Chân- Luật Hiến pháp và các định chế chính trị, cuốn I. Sài Gòn 1974, tr.309.

7. Trung tâm nghiên cứu Bắc Mỹ- Hệ thống chính trị Mỹ. NXB Khoa học xã hội, H, 2001, tr.185-186.

8. Những đại chính thể ở Châu Âu- Trung tâm nghiên cứu Việt Nam, Sài Gòn, 1964, tr.145.

9. Lê Đình Chân. Luật Hiến pháp – Khuôn mẫu dân chủ, cuốn II, Sài Gòn 1975, tr.78.

10. Favoreu L.- Toà án bảo hiến. Dẫn theo Nguyễn Đức Lam- Cơ quan bảo vệ Hiến pháp ở các nước, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 7, 2001, tr.27.

11. Ngô Huy Cương- Nhà nước pháp quyền với việc xây dựng chính quyền, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 10, 2001.

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 4 NĂM 2002

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: