Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

HÀNH VI CHỈ DẪN GÂY NHẦM LẪN: ĐIỀUCHỈNH THEO PHÁP LUẬT CẠNH TRANH HIỆN HÀNH

THS. LÊ ANH TUẤN – Văn phòng Quốc hội

Theo pháp luật Việt Nam, hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn (CDGNL) về tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn địa lý… làm sai lệch nhận thức của khách hàng về hàng hoá, dịch vụ lần đầu tiên được điều chỉnh bởi Nghị định 54/2000/NĐ-CP[1] và đã được pháp điển hoá trong Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (Luật SHTT 2005). Hiện nay, điều chỉnh pháp luật đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh (CTKLM) dưới dạng CDGNL được quy định tại Luật Cạnh tranh năm 2004, (Luật CT 2004) và Luật SHTT 2005.

1. Điều chỉnh hành vi CDGNL theo pháp luật hiện hành

1.1. Điều chỉnh theo Luật CT 2004

Theo Điều 40 Luật CT 2004: “Cấm doanh nghiệp sử dụng chỉ dẫn chứa đựng thông tin gây nhầm lẫn về tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn địa lý và các yếu tố khác theo quy định của Chính phủ để làm sai lệch nhận thức của khách hàng về hàng hoá, dịch vụ nhằm mục đích cạnh tranh; cấm kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có sử dụng CDGNL này”. Quy định này có một số đặc điểm sau:

Thứ nhất: Chủ thể thực hiện hành vi phải là "doanh nghiệp". Tuy nhiên, không đồng nghĩa hoàn toàn với khái niệm "doanh nghiệp" được quy định trong Luật Doanh nghiệp năm 2005 (Luật DN 2005), doanh nghiệp, hiểu theo nghĩa của Luật CT 2004, rộng hơn so với Luật DN 2005. Theo đó, doanh nghiệp trong Luật CT 2004 không chỉ bao gồm các tổ chức kinh doanh như quy định của Luật DN 2005, mà còn bao gồm cả cá nhân kinh doanh, trong đó gồm cá nhân có đăng ký kinh doanh và cá nhân không có đăng ký kinh doanh[2].

Thứ hai: Phương thức thực hiện hành vi là xâm hại đến tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn địa lý… có trên sản phẩm hàng hoá, dịch vụ của đối thủ cạnh tranh.

Với việc thiết kế dưới dạng các quy phạm cấm đoán, Luật CT 2004 không đưa ra các dấu hiệu để nhận dạng các đối tượng bị xâm phạm này, do đó, phải sử dụng phối hợp các quy phạm định nghĩa trong các văn bản pháp luật hiện hành khác có liên quan để từ đó có cách hiểu thống nhất trong quá trình áp dụng. Hiện nay, Luật SHTT 2005 và Quy chế ghi nhãn hàng hoá lưu thông trong nước và hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu (được ban hành kèm theo Quyết định số 178/1999/QĐ-TTg ngày 30/8/1999 của Thủ tướng Chính phủ) mới có quy định các dấu hiệu nhận dạng đối với một số chỉ dẫn về tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bao bì. Còn các chỉ dẫn khác trong Luật CT 2004, Luật SHTT 2005 như: biểu tượng kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh đều không được giải thích ở bất cứ văn bản nào trong hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam.

– Tên thương mại: có thể được hiểu là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh[3]. Tên thương mại thông thường đều được thể hiện cụ thể, rõ ràng có thể là tập hợp các chữ cái, có thể kèm theo chữ số, phát âm được; có khả năng phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với các chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực kinh doanh. Tên thương mại được sử dụng vào mục đích kinh doanh bằng cách dùng nó để xưng danh trong các hoạt động kinh doanh, thể hiện trong các giấy tờ giao dịch, biển hiệu, hàng hoá sản phẩm, bao bì hàng hoá và quảng cáo.

Tên thương mại có thể trùng hoàn toàn hoặc trùng một phần với nhãn hiệu hàng hoá (ví dụ IBM, BMW, VW), song cần phân biệt nó với nhãn hiệu hàng hoá (ví dụ Bia Hà Nội, Bia Sài Gòn…) hay xuất xứ hàng hoá (lụa Hà Đông, bánh đậu xanh Hải Dương…). Tên thương mại, biển hiệu khác với nhãn hiệu sản phẩm. Thông thường, nhãn hiệu sản phẩm là công cụ để đánh dấu từng sản phẩm riêng lẻ được gắn liền với sản phẩm đó, chỉ cho người tiêu dùng biết người sản xuất, ngày sản xuất, tính năng công dụng của sản phẩm. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, những nội dung sau phải có trên nhãn hiệu sản phẩm: tên hàng, tên và địa chỉ cơ sở sản xuất, định lượng sản phẩm, thành phần cấu tạo, chỉ tiêu chất lượng chủ yếu, hướng dẫn bảo quản, sử dụng, ngày sản xuất, thời hạn sử dụng[4]. Tên thương mại sau khi được đăng ký theo quy định sẽ trở thành sản nghiệp thương mại hoặc sẽ được bảo hộ theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ. Là một bộ phận của sản nghiệp thương mại và là đối tượng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, tuy nhiên, khác với quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý… được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ; quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại được thiết lập trên cơ sở sử dụng hợp pháp tên thương mại đó.

Như vậy, có thể thấy hành vi sử dụng CDGNL về tên thương mại là những hành vi sử dụng bất kỳ chỉ dẫn thương mại nào trùng hoặc tương tự với tên thương mại của người khác cho cùng loại sản phẩm, dịch vụ hoặc cho sản phẩm, dịch vụ tương tự, gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, cơ sở kinh doanh, hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đó.

– Chỉ dẫn địa lý: (hay còn được gọi là tên gọi xuất xứ hàng hoá) là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể[5]. Như vậy, chỉ dẫn địa lý là thông tin về nguồn gốc địa lý của hàng hoá, theo đó, mặt hàng này có tính chất, chất lượng đặc thù dựa trên các điều kiện địa lý độc đáo, ưu việt, bao gồm cả yếu tố tự nhiên, con người hoặc cả hai yếu tố đó.

Cần khẳng định, chỉ dẫn địa lý không phải là nhãn hiệu và tên thương mại. Chỉ dẫn địa lý là tên địa lý (địa danh) của một nước, hoặc một địa phương, hoặc một khu vực (ví dụ Nha Trang, Phú Quốc, Đoan Hùng, v.v..). Chỉ dẫn địa lý thường được gắn với những mặt hàng có tính chất hoặc chất lượng đặc thù mà tính chất và chất lượng đặc thù này do các yếu tố độc đáo về địa lý, về con người của địa phương đó tạo nên. Xuất phát từ thực tế là tại một địa phương có thể có nhiều người cùng được hưởng những yếu tố độc đáo về tự nhiên và con người của địa phương mình để sản xuất những sản phẩm có tính chất, chất lượng đặc thù, nên bất kỳ cá nhân, pháp nhân nào sản xuất kinh doanh sản phẩm đặc biệt tại địa phương có yếu tố đặc trưng đều có quyền nộp đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ chỉ dẫn địa lý. Tên gọi xuất xứ (chỉ dẫn địa lý) là quyền sở hữu công nghiệp tập thể và không thể được chuyển nhượng[6]. Mục đích của việc bảo vệ chỉ dẫn địa lý trước hết là để bảo vệ lợi ích của các doanh nghiệp có quyền sử dụng hợp pháp tên gọi xuất xứ và nhằm bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng. Chỉ dẫn địa lý được gắn với hàng hoá, và uy tín của chỉ dẫn địa lý đó thực chất không xuất phát từ năng lực của từng doanh nghiệp mà là tài sản phi vật chất chung của từng địa phương. Cá nhân, tổ chức kinh doanh khai thác lợi ích kinh tế từ chỉ dẫn địa lý có trên sản phẩm của mình nên chỉ có quyền sử dụng, không có quyền cấm người khác sử dụng[7].

Qua phân tích trên, có thể khái quát hành vi sử dụng CDGNL về chỉ dẫn địa lý là việc sử dụng chỉ dẫn thương mại trùng hoặc tương tự với: (i) chỉ dẫn thương mại đang được bảo hộ của đối thủ cạnh tranh gây ấn tượng sai lệch về xuất xứ địa lý của hàng hoá; (ii) chỉ dẫn thương mại đang được bảo hộ cho những hàng hoá trùng, tương tự hoặc có liên quan mà không bảo đảm uy tín, danh tiếng của hàng hoá mang chỉ dẫn địa lý đó, kể cả trường hợp sử dụng dưới hình thức dịch sang ngôn ngữ khác hoặc sử dụng kèm theo các từ ngữ như "phương pháp", "kiểu", "loại", "dạng", "phỏng theo", hoặc các từ ngữ tương tự. Mặc dù điều luật này không quy định, nhưng chúng tôi cho rằng, những chỉ dẫn thương mại của hàng hoá, dịch vụ thông thường phải là những chỉ dẫn của những hàng hoá đang có uy tín danh tiếng trên thị trường được khách hàng ưa chuộng.

– Bao bì: là vỏ bọc bao ngoài hàng hoá được gắn trực tiếp vào hàng hoá và được bán cùng với hàng hoá. Bao bì gồm bao bì chứa đựng và bao bì ngoài. Theo đó, bao bì chứa đựng là bao bì trực tiếp chứa dựng hàng hoá, tạo ra hình, khối cho hàng hoá, hoặc bọc kín theo hình, khối của hàng hoá. Bao bì ngoài là bao bì dùng chứa đựng một hoặc một số bao bì chứa đựng hàng hoá[8].

Thứ ba: Mục đích của hành vi là gây nên sự nhầm lẫn của khách hàng giữa hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh với hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp mình. Như vậy, hàng hoá, dịch vụ có sử dụng CDGNL phải cùng trong một thị trường với hàng hoá, dịch vụ của đối thủ cạnh tranh hoặc cùng trên thị trường liên quan. Có thể lý giải triết lý của vấn đề này qua việc xem xét quan điểm của các nhà lập pháp Anh, Mỹ, Úc, theo đó, các hành vi xâm hại người tiêu dùng không chỉ làm tổn hại đến lợi ích kinh tế của người tiêu dùng mà còn ảnh hưởng đến các đối thủ cạnh tranh. Chúng có thể buộc đối thủ cạnh tranh rơi vào tình huống phải lựa chọn hoặc là chấp nhận những thủ đoạn tương tự, hoặc là mất chỗ đứng trên thương trường[9]. Và như vậy, trong cạnh tranh, việc xâm phạm đến quyền lợi của khách hàng cũng đồng nghĩa với việc xâm phạm quyền và lợi ích của đối thủ cạnh tranh.

Phương pháp để xác định hành vi vi phạm là so sánh giữa các dấu hiệu để nhận biết hàng hoá của doanh nghiệp bị xâm phạm với đặc tính để nhận biết hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp đang sử dụng bị coi là đã có hành vi sử dụng những thông tin gây nhầm lẫn cho khách hàng. Kết quả so sánh cho thấy có việc doanh nghiệp lợi dụng các đặc tính để nhận biết về hàng hoá, dịch vụ có uy tín đang có trên thị trường của doanh nghiệp khác, sử dụng trên sản phẩm hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp mình sẽ là căn cứ quan trọng để kết luận việc có hay không hành vi vi phạm xảy ra trên thực tế. Dấu hiệu này phản ánh bản chất không lành mạnh của hành vi sử dụng các CDGNL; đồng thời, cũng đặt ra cho luật pháp cũng như các cơ quan, cán bộ hữu trách nhiều vấn đề cần giải quyết khi xác định hành vi và các đặc tính để nhận biết hàng hoá.

Bên cạnh đó, mặc dù Luật CT 2004 chỉ quy định việc cấm sử dụng và kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có CDGNL cho khách hàng, song cần hiểu "CDGNL" còn bao gồm cả hành vi giả mạo hàng hoá, dịch vụ gây nhầm lẫn cho khách hàng[10].

Có một vấn đề nữa là, trường hợp các chỉ dẫn thương mại nếu chưa được đăng ký bảo hộ mà bị vi phạm có thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật CT 2004 hay không? Theo tác giả, những chỉ dẫn thương mại bị xâm phạm tạo ra sự nhầm lẫn phải là những chỉ dẫn thuộc sở hữu hợp pháp của doanh nghiệp (hoặc đã được đăng ký bảo hộ) và được Luật CT 2004 quy định. Các trường hợp ghi không đúng về nguồn xuất xứ, tên thương mại không thuộc sở hữu hợp pháp của doanh nghiệp hoặc chưa được đăng ký bảo hộ sẽ được coi là không trái pháp luật. Kinh nghiệm cho thấy, nhiều nước đều chỉ cấm việc sử dụng những chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn khi nguồn gốc của sản phẩm chính hiệu là có thật, đã được đăng ký bảo hộ theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ và hành vi phải nhằm tìm cách thay thế hoặc gây nhầm lẫn với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh.

1.2. Điều chỉnh theo pháp luật về sở hữu trí tuệ

Mặc dù không phải mục đích chính của việc ban hành Luật SHTT, nhưng các quy định về chống CTKLM liên quan đến chỉ dẫn thương mại và các quy định dưới dạng quy phạm định nghĩa đã góp phần làm rõ dấu hiệu nhận dạng về tên thương mại, chỉ dẫn địa lý… được quy định trong Luật CT 2004 như đã trình bày ở trên. Điều đó có nghĩa là, trong nhiều trường hợp, cùng với các quy định về hành vi CTKLM dưới dạng CDGNL, các quy định điều chỉnh hành vi CTKLM trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói chung và chỉ dẫn thương mại nói riêng là bộ phận của pháp luật chống CTKLM điều chỉnh hành vi CDGNL được quy định trong Luật CT 2004.

Một số đặc điểm về hành vi CTKLM này trong Luật SHTT 2005[11] là:

-  Về chủ thể thực hiện hành vi: hành vi CTKLM dưới hình thức sử dụng CDGNL là hành vi được quy định trong Luật SHTT 2005, do đó, nó bị chi phối bởi các quy định chung về đối tượng áp dụng được nêu tại Điều 2 của đạo luật này. Theo đó, các quy định về CTKLM trong Luật SHTT 2005 có đối tượng áp dụng rộng bao gồm không chỉ các tổ chức, cá nhân Việt Nam mà gồm cả tổ chức, cá nhân nước ngoài khi đáp ứng các điều kiện quy định tại Luật này và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Như vậy, chủ thể thực hiện hành vi CTKLM liên quan đến chỉ dẫn thương mại theo quy định của Luật SHTT 2005 rộng hơn so với Luật CT 2004. Và do đó sẽ có những khả năng sau đây xảy ra liên quan đến chủ thể thực hiện hành vi khi tiến hành áp dụng pháp luật:

Trường hợp thứ nhất: Chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật khách quan (các quy định về sử dụng CDGNL) thuộc đối tượng điều chỉnh của cả Luật CT 2004 và Luật SHTT 2005.

Trường hợp thứ hai: Chủ thể tuy vi phạm các quy định pháp luật khách quan, nhưng chỉ thuộc chủ thể được quy định tại Luật SHTT 2004, không thuộc chủ thể được điều chỉnh bởi Luật CT 2005.

Tác giả cho rằng, đối với trường hợp thứ hai đã rõ, nếu chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật khách quan được quy định tại nhiều văn bản khác nhau, chủ thể nào thuộc đối tượng điều chỉnh của đạo luật nào thì sẽ áp dụng luật nội dung của đạo luật đó để điều chỉnh. Và như vậy, sẽ có trường hợp có hành vi cạnh tranh thoả mãn các dấu hiệu của hành vi CTKLM, nhưng lại được thực hiện bởi chủ thể không thuộc đối tượng áp dụng của Luật CT 2004, do đó, sẽ không được hiểu là hành vi CTKLM theo cách hiểu của Luật CT 2004. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc, hành vi đó sẽ không được xử lý theo quy định của Luật CT 2004 mà phải áp dụng Luật SHTT 2005. Như vậy, với phạm vi đối tượng áp dụng như quy định trong Luật CT 2004 sẽ tạo nên tình huống cùng là hành vi CTKLM nhưng có thể được xử lý bởi hai văn bản pháp luật khác nhau (!)

Đối với trường hợp thứ nhất, tác giả cho rằng, có thể áp dụng nguyên tắc về mối quan hệ giữa luật chung và luật riêng (theo nghĩa rộng, tức là không chỉ trong trường hợp có sự khác nhau giữa quy định của các văn bản pháp luật về hành vi CTKLM như quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật CT 2004, mà còn cả trong trường hợp có sự giống nhau giữa các văn bản pháp luật về một vấn đề) để xử lý, theo đó, trong quan hệ giữa các đạo luật khác trong nước thì Luật CT 2004 là "luật riêng", và do đó, được ưu tiên áp dụng trong trường hợp có nhiều văn bản pháp luật cùng điều chỉnh một hành vi cạnh tranh.

Tuy nhiên, trong trường hợp này, có một vấn đề chung được đặt ra mà theo chúng tôi thì tính chất chất "riêng" của Luật CT 2004 sẽ dần mất đi khi các đạo luật về kinh tế ngành khác sẽ có quyền căn cứ vào nội dung của Luật CT 2004 mà cụ thể hoá một hành vi cạnh tranh nào đó trong điều kiện của ngành kinh tế đó[12]. Điều đó sẽ dẫn đến một hệ quả là nếu không được "cập nhật" thì mức độ tác động và phạm vi ảnh hưởng của Luật CT 2004 sẽ giảm đi cùng với sự gia tăng các quy định hành vi CTKLM trong các đạo luật về kinh tế ngành, đặc biệt là trong những trường hợp đối tượng áp dụng của đạo luật kinh tế ngành đó rộng hơn đối tượng áp dụng của Luật CT, như trường hợp vừa nêu liên quan đến Luật SHTT 2005. Bên cạnh đó, nếu các đạo luật kinh tế ngành đó, khi có sự thay đổi các dấu hiệu nhận dạng (trong trường hợp này là các quy phạm định nghĩa về chỉ dẫn thương mại), thì cũng sẽ tác động đến sự nhận dạng hành vi CTKLM liên quan đến các chỉ dẫn thương mại được quy định trong pháp luật chống CTKLM dưới dạng CDGNL nói chung và điều chỉnh hành vi này trong Luật CT 2004 nói riêng.

Về các đối tượng thuộc chỉ dẫn thương mại bị xâm phạm theo quy định của Luật SHTT 2005, nếu đối chiếu với Điều 40 Luật CT 2004 (không tính quy phạm "mở" được quy định tại Điều 39) là "rộng" và cụ thể hơn so với Luật CT 2004. Bởi như đã trình bày ở trên, Luật SHTT 2005 còn quy định cả các chỉ dẫn gây nhầm lần về nhãn hiệu hàng hoá. Bên cạnh đó, chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn còn được cụ thể hoá trong đạo luật này, theo đó CDGNL ở đây có thể là về chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh doanh, nguồn gốc thương mại của hàng hoá, dịch vụ; về xuất xứ, cách sản xuất, tính năng, chất lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hoá, dịch vụ; về điều kiện cung cấp hàng hoá, dịch vụ. Ngoài ra, các đặc điểm để nhận dạng về tên thương mại, chỉ dẫn địa lý đã được quy định tại khoản 21 và 22, Điều 4 của Luật này như đã trình bày ở trên.

Có một điều, theo chúng tôi cần lưu ý là không phải bất kỳ hành vi nào xâm phạm chỉ dẫn thương mại đều bị coi là CTKLM. Chỉ bị coi là hành vi CTKLM khi bên cạnh thoả mãn các yếu tố về chủ thể, hành vi đó phải vì mục đích cạnh tranh, xâm phạm đến đối thủ cạnh tranh cụ thể và trong cùng một thị trường hàng hoá, dịch vụ hay thị trường liên quan. Như vậy, sẽ có những hành vi về mặt khách quan là xâm phạm chỉ dẫn thương mại, nhưng không xuất phát từ chủ thể cạnh tranh, không vì mục đích cạnh tranh, không nhằm và xâm phạm đến đối thủ cạnh tranh thì không bị coi là hành vi cạnh tranh và trong trường hợp này hành vi đó sẽ bị xử lý cả về mặt nội dung lẫn hình thức theo pháp luật về sở hữu trí tuệ.

Như vậy, để có thể hiểu, nhận dạng và áp dụng được chính xác các quy định về hành vi CDGNL theo Luật CT 2004, cần phải vận dụng phối hợp các quy định tại các văn bản pháp luật khác có liên quan, cụ thể ở đây là các quy định tại Luật SHTT 2005. Điều đó cũng có nghĩa là, nếu các văn bản pháp luật khác không quy định hoặc quy định không đầy đủ về dấu hiệu nhận dạng một hành vi nào đó, trong khi không có văn bản hướng dẫn thi hành tương ứng khi triển khai thực hiện Luật CT 2004, thì chắc chắn trong quá trình áp dụng sẽ gặp nhiều khó khăn và cũng không ngoại trừ việc không thống nhất trong quá trình thực hiện áp dụng pháp luật.

1.3. Nhận xét chung

Một là, việc áp dụng, nhận dạng hành vi này trong Luật CT 2004 chủ yếu phụ thuộc vào các quy định có liên quan trong pháp luật về sở hữu trí tuệ. Nếu dấu hiệu nhận dạng về một chỉ dẫn thương mại có thay đổi trong pháp luật về sở hữu trí tuệ thì cũng đồng nghĩa với việc hành vi CTKLM dưới dạng sử dụng loại chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn đó theo Luật CT 2004 cũng phải thay đổi theo. Như vậy, bên cạnh các quy định về chống CTKLM được quy định trong Luật SHTT 2005, các quy định dưới dạng quy phạm định nghĩa, các quy phạm xác định hành vi vi phạm trong Luật SHTT 2005 là một nguồn quan trọng của pháp luật cạnh tranh nói chung và pháp luật chống CTKLM nói riêng trong việc điều chỉnh hành vi CDGNL.

Hai là, có những hành vi được coi là CTKLM dưới dạng sử dụng CDGNL theo quy định của Luật SHTT 2005 (chẳng hạn như chỉ dẫn thương mại liên quan đến nhãn hiệu hàng hoá), nhưng không được coi là hành vi CTKLM theo quy định của Luật CT 2004 (vì luật chưa quy định); tuy vậy, theo Luật SHTT 2005 thì vấn đề xử phạt hành chính vẫn được thực hiện theo quy định của pháp luật về cạnh tranh (căn cứ vào khoản 3 Điều 211 Luật SHTT 2005).

Ba là, có một vấn đề chưa được làm rõ trong Luật CT 2004 cũng như trong Luật SHTT 2005 và có cách hiểu thống nhất, đó là: các hành vi CTKLM dưới dạng sử dụng CDGNL được quy định tại Luật SHTT 2005, và cũng được quy định tại Luật CT 2004, thì trình tự, thủ tục xử lý các hành vi CTKLM có trong Luật SHTT 2005 có được áp dụng như đối với hành vi được quy định trong Luật CT 2004 hay không (?) Chúng tôi cho rằng, việc áp dụng cũng như xử lý các hành vi CTKLM nói chung, các hành vi CTKLM dưới dạng sử dụng CDGNL nói riêng cần có sự áp dụng thống nhất, đặt trong sự phối hợp với các quy định hiện có của hệ thống pháp luật về cạnh tranh. Cũng như trường hợp áp dụng các quy phạm định nghĩa… trong Luật SHTT 2005 để làm rõ và nhận dạng các dấu hiệu về hành vi mà Luật CT 2004 không quy định như đã nêu trên. Tương tự như vậy, hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại mặc dù được quy định trong Luật SHTT 2005 nhưng nó được coi là hành vi CTKLM, và vì vậy, các quy định về luật "thủ tục" được quy định trong Luật CT 2004 khi xử lý các hành vi CTKLM cũng được áp dụng đối với các hành vi CTKLM được quy định trong Luật SHTT 2005 (ngay cả khi hành vi đó chưa được Luật CT 2004 quy định, nhưng thoả mãn về yếu tố chủ thể trong Luật CT 2004). Từ đó, cũng có thể suy ra những hành vi CTKLM khác được quy định trong Luật SHTT 2005[13] cũng sẽ bị xử lý theo các quy định về trình tự thủ tục đối với hành vi CTKLM được quy định trong Luật CT 2004.

Bốn là, nghiên cứu so sánh Luật CT của một số nước (Nhật Bản, Đức, Trung Quốc, Bungari…) cho thấy, các quốc gia này đều quan niệm hành vi sử dụng CDGNL là hành vi CTKLM. Phạm vi nội hàm của CDGNL tuy rộng hẹp khác nhau ở mỗi nước, nhưng về cơ bản bao gồm các chỉ dẫn về tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, khẩu hiệu kinh doanh, biển hiệu, bao bì, kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu hàng hoá… Đối tượng áp dụng đối với các hành vi xâm phạm chỉ dẫn trong cạnh tranh được Luật CT các nước quy định đều phải là đối tượng SHTT đang được bảo hộ. Chỉ có một số án lệ gần đây của Pháp áp dụng đối với các các sản phẩm không được bảo hộ (Luật CT của Cộng hòa Pháp). Qua so sánh với các quy định về CDGNL cho thấy, phạm vi áp dụng của Luật CT 2004 và ngay cả trong Luật SHTT 2005 hẹp hơn so với các nước. Theo đó, các nước đều quy định ngay trong Luật CT hành vi sử dụng CDGNL về nhãn hiệu hàng hoá[14]. Có nước quy định hành vi xâm phạm kiểu dáng công nghiệp cũng là hành vi sử dụng CDGNL trong cạnh tranh[15] (các quy định về CTKLM trong Luật SHTT 2005 hiện chỉ quy định CDGNL về nhãn hiệu hàng hoá).

2. Thực tiễn hành vi sử dụng CDGNL

Hành vi sử dụng CDGNL chủ yếu được biểu hiện qua các vi phạm liên quan đến chỉ dẫn thương mại (tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, kiểu dáng bao bì của hàng hoá, nhãn hàng hoá, chỉ dẫn địa lý). Thực tế cạnh tranh cho thấy, không chỉ trước đây (trước khi ban hành Luật CT 2004) mà hiện nay, các vi phạm này vẫn khá phổ biến, ngày càng tinh vi hơn, thể hiện dưới nhiều dạng, trong đó tập trung vào hành vi gây nhầm lẫn về tên gọi, xuất xứ hàng hoá, chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu hàng hoá và kiểu dáng công nghiệp.

Hành vi gây nhầm lẫn về tên gọi xuất xứ hàng hoá, chỉ dẫn địa lý: Các hành vi CTKLM xâm phạm đến tên gọi xuất xứ hàng hoá tuy chưa phổ biến so với nhiều loại hành vi không lành mạnh khác, nhưng cũng không phải là hiếm, tập trung vào những địa danh có "đặc sản nổi tiếng riêng có", điển hình là tên gọi xuất xứ "Gạo tám thơm Hải Hậu" được in trên bao bì của nhiều loại gạo không có xuất xứ từ huyện Hải Hậu của tỉnh Nam Định; hay trường hợp sử dụng CDGNL về xuất xứ hàng hoá của Công ty TNHH Young Titan (Đài Loan) đối với hai sản phẩm rượu Wisky Royal Reserve Old 21 Rare Premium sản xuất tại Mỹ và rượu Wisky pha chế Crowley sản xuất tại Pháp với nhãn hiệu và bao bì là "Scotch Wisky" bằng tiếng Anh và tiếng Trung Quốc[16]. Những chỉ dẫn địa lý có danh tiếng lâu năm trên thị trường thế giới như Made in Japan, Made in USA, Made in Italy, Made in UK, Made in Korea v.v.. cũng thường bị lợi dụng sử dụng để gắn vào các sản phẩm được sản xuất tại Việt Nam, đánh vào tâm lý sính đồ ngoại của đa số người tiêu dùng Việt Nam. Các sản phẩm sử dụng chỉ dẫn địa lý gây nhầm lẫn này thường rất đa dạng từ quần áo, nồi cơm điện cho đến mỹ phẩm, giày dép…[17].

Hành vi gây nhầm lẫn về nhãn hiệu hàng hoá (hàng nhái), bao bì, kiểu dáng công nghiệp: Có thể nói đây là các hành vi vi phạm rất phổ biến và cũng khá đa dạng trên thị trường. Hành vi gây nhầm lẫn về nhãn hiệu hàng hoá đều tập trung vào những nhãn hiệu nổi tiếng, vì đây được coi là một lợi thế kinh doanh đặc biệt quan trọng, tạo nên lợi thế so sánh về sản phẩm. Các sản phẩm bị sử dụng chỉ dẫn dễ gây nhầm lẫn về nhãn hiệu rất đa dạng từ nước uống, bột giặt, máy móc cho đến dược phẩm v.v.. Ví dụ như trường hợp của nước khoáng Lavie hiện đang có rất nhiều "anh em đồng hao" như: Lavile, Lavige, La vise; sản phẩm thuốc Decolgen (của Công ty dược phẩm Philipines) đến nay đã có 7 nhãn hiệu tương tự: Decoagen, Debacongen, Devicongen… với mẫu mã viên thuốc cũng được dập hình thoi nổi giống hệt;…

Về hàng giả, hàng nhái: Có thể nêu ví dụ, hiện nay 80% số phụ tùng xe máy bày bán trên thị trường có nguồn gốc xuất xứ của các cơ sở sản xuất trong nước, nhưng lại được gắn thương hiệu ngoại. Theo Công ty Phạm & Associates (P&A) (công ty được Honda thuê đảm nhận việc bảo vệ kiểu dáng công nghiệp), qua điều tra hiện có 17 chi tiết máy của Honda bị làm giả, hoặc nhái trên thị trường[18].

Qua khảo sát các loại thức vi phạm phổ biến dưới dạng CDGNL như trên, xin có một số nhận xét sau:

Một là, hành vi sử dụng CDGNL đã và đang diễn ra khá phổ biến, tập trung vào một số vi phạm về tên thương mại, chỉ dẫn địa lý và điều cũng đáng chú ý là việc sử dụng CDGNL dưới dạng nhãn hiệu hàng hoá và kiểu dáng công nghiệp diễn ra cũng khá phổ biến.

Hai là, hành vi xâm phạm kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu hàng hoá đều chưa được quy định trong Luật CT 2004. Luật SHTT 2005 cũng chỉ coi nhãn hiệu hàng hoá thuộc phạm trù chỉ dẫn thương mại và việc vi phạm CDGNL cũng là hành vi CTKLM, trong đó lại không có kiểu dáng công nghiệp.

3. Một số kiến nghị

Trên cơ sở các phân tích, bình luận nêu trên, cùng với việc tham khảo kinh nghiệm của nước ngoài, cũng như căn cứ vào thực trạng diễn biến hành vi này tại Việt Nam trong thời gian qua, tác giả có hai kiến nghị sau:

Thứ nhất, cần mở rộng chủ thể áp dụng đối với các quy định về chống CTKLM trong Luật CT 2004.

Như đã phân tích ở trên, Luật CT 2004 chỉ áp dụng đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh (doanh nghiệp) và hiệp hội ngành nghề, không bao gồm: các tổ chức, cá nhân nước ngoài, các văn phòng đại diện, chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam; các loại hình bán kinh doanh khác như các nhà in, nhà xuất bản, các tạp chí, báo (trong số này, nhiều cơ sở chưa được coi là doanh nghiệp theo cách hiểu của Luật CT 2004). Do đó, nếu những chủ thể này thực hiện hành vi cạnh tranh có thể được coi là hành vi CTKLM theo quy định của văn bản pháp luật quy định đối với chủ thể đó, thuộc ngành đó, nhưng vì không thoả mãn yếu tố chủ thể theo quy định của Luật CT 2004, nên sẽ không được xử lý thống nhất theo quy định của Luật CT 2004 đối với các hành vi CTKLM. Như vậy, một hành vi được coi là CTKLM sẽ có thể rơi vào hai thái cực: Một là, nếu thoả mãn đầy đủ các dấu hiệu về hành vi CTKLM (bao gồm cả yếu tố chủ thể theo Luật CT 2004) sẽ bị xử lý theo quy định của Luật CT 2004; và ngược lại, cũng là hành vi CTKLM, nhưng không thoả mãn yếu tố chủ thể sẽ bị xử lý theo quy định của văn bản pháp luật khác. Như vậy, pháp luật đã tạo ra hai mặt bằng pháp lý nhằm chỉ để xử lý một loại hành vi CTKLM có cùng bản chất.

Bên cạnh đó, với phạm vi điều chỉnh hai nhóm hành vi là hạn chế cạnh tranh và CTKLM. Tuy là hai nhóm nhưng chúng đều có chung bản chất là cạnh tranh và điểm khác nhau căn bản chính là cách thức tiếp cận cũng như xử lý từ giác độ thực thi pháp luật cạnh tranh. Nếu pháp luật chống hạn chế cạnh tranh có địa chỉ đón nhận là các doanh nghiệp, thì pháp luật chống CTKLM có địa chỉ đón nhận không chỉ bao gồm các doanh nghiệp mà còn bao gồm các thể nhân khác, những người đã tiến hành những hành vi cạnh tranh hoặc liên quan đến CTKLM có lợi cho mình. Như vậy, để Luật CT 2004 nói chung và các quy định về chống CTKLM nói riêng có hiệu quả thì không nên giới hạn đối tượng áp dụng của Luật CT 2004 chỉ là các doanh nghiệp, mà nên mở rộng đối với tất cả các chủ thể có liên quan. Điều đó sẽ không chỉ bảo đảm cho mọi hành vi CTKLM được xử lý thống nhất theo quy định của Luật CT 2004, mà còn tránh được tình trạng cùng là hành vi CTKLM nhưng có thể sẽ bị xử lý bởi những văn bản khác nhau.

Thứ hai, cần bổ sung các hành vi vi phạm nhãn hiệu hàng hoá, kiểu dáng công nghiệp mang tính cạnh tranh vào nhóm hành vi vi phạm CDGNL trong Luật CT 2004; làm rõ các dấu hiệu nhận dạng đối với biểu tượng kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh.

Hiện tại, cả hai hành vi nêu trên chưa được Luật CT 2004 quy định là hành vi CTKLM, ngay cả khi nó là hành vi cạnh tranh. Theo quy định của Luật SHTT 2005 thì hành vi cạnh tranh vi phạm nhãn hiệu hàng hoá thuộc nhóm hành vi vi phạm chỉ dẫn thương mại và được xem là hành vi CTKLM. Như vậy, ngay trong hệ thống pháp luật hiện hành đã chưa có sự thống nhất về mặt quy định đối vi hành vi cạnh tranh vi phạm nhãn hiệu hàng hoá. Với cách suy luận của tác giả, như đã trình bày ở trên, thì một hành vi CTKLM mặc dù không được quy định trong Luật CT 2004, nhưng cũng sẽ được xử lý theo các quy định của Luật CT 2004 khi thoả mãn các dấu hiệu của hành vi CTKLM theo quy định của Luật CT 2004. Và quy phạm điều chỉnh hành vi này trong Luật SHTT 2005 sẽ là nguồn của pháp luật chống CTKLM. Mặc dù vậy, để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, căn cứ vào thực tiễn các hành vi CTKLM cũng như tránh được tình trạng mâu thuẫn trong hệ thống pháp luật, cần bổ sung hành vi cạnh tranh vi phạm nhãn hiệu hàng hoá là hành vi CTKLM vào nhóm hành vi CDGNL trong Luật CT 2004.

Về hành vi cạnh tranh vi phạm kiểu dáng công nghiệp: theo quy định hiện hành của Luật CT 2004 và Luật SHTT 2005, thì trên thực tế, ngay cả khi hành vi vi phạm kiểu dáng công nghiệp là hành vi cạnh tranh, vì mục đích cạnh tranh cũng không được coi là hành vi CTKLM. Hiện nay, các quy định về kiểu dáng công nghiệp được quy định tại Luật SHTT 2005, theo đó, nếu vi phạm sẽ bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định từ Điều 211 đến Điều 215. Tuy nhiên, với thực tiễn vi phạm các quy định về kiểu dáng công nghiệp như nêu trên, thì những hành vi cạnh tranh được thực hiện dưới dạng vi phạm kiểu dáng công nghiệp (cùng với các vi phạm về nhãn hiệu hàng hoá) mới là những hành vi vi phạm diễn ra khá phổ biến trên thị trường đòi hỏi cần có sự điều chỉnh, tiếp cận dưới góc độ của pháp luật cạnh tranh. Điều đó cũng sẽ góp phần làm giảm đi tình trạng hình sự hoá các quan hệ kinh tế tiếp cận dưới góc độ vi phạm các quy định của pháp luật về kiểu dáng công nghiệp.

Bên cạnh đó, về khẩu hiệu kinh doanh và biểu tượng kinh doanh, tuy là hai đối tượng được quy định và bảo vệ bởi cả Luật CT 2004 và Luật SHTT 2005, nhưng các dấu hiệu, đặc điểm nhận dạng về hai đối tượng này cũng đều không được quy định trong các đạo luật này. Điều đó sẽ tạo nên khó khăn trong quá trình áp dụng thống nhất pháp luật, đòi hỏi cần phải được cụ thể hoá trong văn bản hướng dẫn thi hành.


[1] Nghị định 54/2000/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 3/10/2000 quy định về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới sở hữu công nghiệp.

[2] Cụ thể xem thêm Điều 4 khoản 1 Luật DN 2005 và Điều 2 khoản 1 Luật CT 2004.

[3] Luật SHTT, Điều 4 khoản 21.

[4] Phạm Duy Nghĩa, Tìm hiểu Luật thương mại Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,1999, tr.56, 57.

[5] Luật SHTT 2005, Điều 12 khoản 22.

[6] Nguyễn Ngọc Điện, Nghiên cứu về tài sản trong Luật dân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Trẻ thành phố. Hồ Chí Minh, 1999, tr. 98.

[7] Viện nghiên cứu pháp lý-Bộ Tư pháp, Bình luận khoa học một số vấn đề cơ bản của Bộ luật dân sự, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội 1997, tr. 334.

[8] Khoản 2 Điều 3 Quy chế ghi nhãn hàng hoá lưu thông trong nước và hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu được ban hành kèm theo Quyết định số 178/199/QĐ-TTg ngày 30/8/1999 của Thủ tướng Chính phủ.

[9] GQ Taperell, RB Vermeesch, DJ Harland, Trade Practices anh Consumer Protection, Butterworths, Australia, 1974

[10] Lê Anh Tuấn, Một số quy định về chống cạnh tranh không lành mạnh theo Luật cạnh tranh Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 10/2005, tr 54.

[11] Xem Điều 130 Luật SHTT 2005

[12] Lê Anh Tuấn, Một số quy định về chống cạnh tranh không lành mạnh theo Luật cạnh tranh Việt Nam, Tạp chí NN và PL số 10/2005, tr.60

[13] Xem khoản 1 điểm c, d Điều 130 Luật SHTT 2005.

[14] Xem Điều 12 khoản 6 Luật bảo vệ cạnh tranh của Bungari năm 1991; Điều 5 Luật chống CTKLM của CHDCND Trung Hoa năm 1993; Điều 20 Luật thương mại lành mạnh Đài Loan

[15] Xem Điều 2, khoản 1 Luật chống CTKLM của Nhật Bản

[16] Vụ việc và tài liệu về Luật thương mại lành mạnh Đài Loan, Ban soạn thảo Luật cạnh tranh Việt Nam, Hà Nội, 2002, tr 153-156.

[17] Nguyễn Thanh Tâm, Thực trạng pháp luật Việt Nam về chống cạnh tranh không lành mạnh và kiểm soát độc quyền liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp trong hoạt đôngj thương mại, Tạp chí NN và PL,  11/2004, tr 43.

[18] Bảo Giang, Hàng giả đang áp đảo – Bát nháo thị trường phụ tùng xe máy, Báo Đầu tư, thứ hai 7/10/2002

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 8 NĂM 2007

Advertisements

One Response

  1. Theo tôi, bản chất của 2 quan hệ bị xâm phạm ở đây là hoàn toàn khác nhau. Luật SHTT can thiệp với các hành vi xâm phạm Quyền SHTT (quan hệ về quyền SHTT có nguồn gốc từ luật dân sự) còn đối với Luật cạnh tranh quan hệ mà nó hướng tới là quan hệ kinh tế. Do đó, đúng là có sự khác nhau về yếu tố chủ thể trong 2 văn bản pháp luật. Tuy nhiên, xuất phát từ bản chất của 2 quan hệ đó để xác định pháp luật điều chỉnh. Đối với quan hệ kinh tế (thuộc đối tượng điều chỉnh của LCT) thì yếu tố mục đích là bắt buộc để cấu thành nên hành vi vi phạm (mục đích cạnh tranh). Do đó, các chủ thể theo định nghĩa của Điều 2 LCT mà có các hành vi vi phạm (CDGNL) mà có mục đích chống lại đối thủ cạnh tranh thì phải thuộc đối tượng điều chỉnh của luật cạnh tranh. Còn nếu cá nhân nào đó, không thuộc đối tượng là Doanh nghiệp hay hiệp hôi doanh nghiệp thì sẽ áp dụng Luật sở hữu trí tuệ. Nói đến đây, có lẽ có người cho rằng hơi nhập nhằng trong hệ thống pháp luật: Ở khía cạnh nào đó, một hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ hay chỉ dẫn gây nhầm lẫn thực chất là một. Nhưng vấn đề đặt ra là cùng một hành vi đó lại xâm phạm đến 2 mối quan hệ như trình bày ở trên. Nói khác đi, để xâm phạm quan hệ kinh tế (quan hệ gián tiếp) thì phải xâm phạm quan hệ dân sự về quyền SHTT (quan hệ trực tiếp). Mà theo nguyên tắc được ghi nhận trong Pháp lệnh xử lý VPHC 2002 thì một hành vi chỉ bị xử lý một lần. Nếu hành vi đó có mục đích cạnh tranh xâm phạm đến quan hệ kinh tế thì điều chỉnh bởi LCT còn nếu hành vi đó chỉ xâm phạm đến quan hệ dân sự thuần túy thì áp dụng Luật SHTT.
    Đến đây, cũng có thể có người băn khoăn rằng: luật SHTT ra đời sau so với LCT không phải nhà làm luật không tính đến hành vi nói trên khi đưa viết nên Luật SHTT. Thực vây, Luật SHTT cũng ghi nhận quyền chống cạnh tranh không lành mạnh là đối tượng của quyền SHTT ( mặc dù hơi gượng ép). tuy nhiên, điều đó nói lên rằng hành vi vi phạm (CDGNL) đã được chuyển hóa vào Luật SHTT. Tức là Luật SHHT sẽ điều chỉnh các hành vi cạnh tranh không lành mạnh nhưng trong lĩnh vực SHTT. Hay nói cạnh khác chế định hành vi cạnh tranh không lành mạnh đã được pháp điển trong luật SHTT nên nó sẽ thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật SHTT. Vậy tại sao, Luật SHTT lại quy định 2 điều 129 và 130 (nếu đọc thoáng qua nó chẳng khác nhau là mấy), và tại sao Điều 16 Nghị định 106/2006/NĐ-CP về xử phạt VPHC trong lĩnh vực sở hữu côn nghiệp lại nói: cá nhân, tổ chức có hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh về sở hữu công nghiệp thì bị xử phạt theo quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực cạnh tranh.
    .Khi quyền Sở hữu trí tuệ đối với một nhãn hiệu không đăng ký thì đương nhiên không thể áp dụng các quy định về hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ khi nhãn hiệu này bị xâm phạm (đơn giản pháp luật về SHTT cho rằng thủ tục đăng ký là điều kiện để nhà nước bảo hộ quyền SHTT). Khi đó, pháp luật về cạnh tranh sẽ được sử dụng để bảo vệ doanh nghiệp cũng như thành quả trí tuệ của họ chống lại hành vi cạnh tranh không lành mạnh với lỗi cố ý từ phía đối thủ cạnh tranh liên quan đến việc chỉ dẫn gây nhầm lẫn. Còn trong trường hợp quyền sở hữu trí tuệ đã được xác lập và bị xâm phạm, sở hữu của các quyền này có thể lựa chọn thì tùy vào mục đích của việc vi phạm mà chọn luật áp dụng. Thậm chí, chủ thể bị xâm phạm có thể lựa chọn cả hai loại phương thức giải quyết nếu các yếu tố vi phạm quyền sở hữu trí tuệ và cạnh tranh không lành mạnh đối với cùng một đối tượng là độc lập với nhau.
    Tóm lại, mối quan hệ giữa pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là một mối quan hệ độc lập nhưng lại hỗ trợ và bổ sung cho nhau.

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: