THỊ TRƯỜNG KINH DOANH BẢO HIỂM VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH VIỆT NAM

PGS.TS. NGUYỄN VĂN ĐỊNH – Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội

Thị trường bảo hiểm và hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam trong những năm vừa qua đã có bước phát triển nhanh chóng và đột phá để từng bước hội nhập với khu vực và thế giới. Tuy nhiên, trước cơn bão khủng hoảng tài chính hiện nay lại đặt ra những thách thức mới cần phải vượt qua để tiếp tục phát triển. Vậy giải pháp nào cho vấn đề này? Đây cũng chính là nội dung mà chúng tôi muốn đề cập trong bài báo.

Tổng quan về thị trường bảo hiểm Việt Nam

Tính đến cuối năm 2008, trên thị trường bảo hiểm Việt Nam có 22 DNBH phi nhân thọ, 9 DNBH nhân thọ, 1 doanh nghiệp tái bảo hiểm và 9 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm hoạt động. Trên thị trường hiện có hơn 100 loại sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ, khoảng 60 sản phẩm BHNT đang được chào bán. Nếu như năm 2003, doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường đạt mức 10.390 tỷ đồng thì đến năm 2008, con số này ước đạt 19.600 tỷ đồng (gấp 1,87 lần so với năm 2003). Cùng  với sự tăng trưởng cao và liên tục qua các năm về doanh thu phí bảo hiểm, doanh thu từ hoạt  động đầu tư của các DNBH cũng tăng lên tương ứng. Năm 2003, doanh thu từ hoạt động đầu tư của các DNBH mới chỉ đạt 1.046 tỷ đồng, đến năm 2008 ước đạt 6.014 tỷ đồng. Ngoài ra, hoạt động tái bảo hiểm cũng có những chuyển biến rõ nét. Cơ cấu phí nhận tái bảo hiểm từ thị trường nước ngoài đang có xu hướng tăng lên và cơ cấu phí nhượng tái bảo hiểm ra nước ngoài lại có xu hướng giảm đi.

Những kết quả đạt được của thị trường bảo hiểm Việt Nam trong những năm qua phải kể đến là:

– Đã có những đóng góp đáng kể vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Điều này được thể hiện ở bảng sau:

– Do số lượng DNBH tham gia thị trường ngày càng tăng, đã làm cho thị trường luôn có sự cạnh tranh sôi động. Điều này đã buộc các DNBH phải tìm ra các giải pháp phù hợp để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Những giải pháp mà các DNBH thường áp dụng là nâng cao năng lực tài chính, đa dạng hóa sản phẩm, cải tiến công nghệ quản lý, chú trọng phát triển thương hiệu… Quá trình này diễn ra liên tục, vì vậy đã làm cho thị trường càng sôi động hơn và năng lực cạnh tranh của từng DNBH cũng được cải thiện đáng kể.

– Thị trường Bảo hiểm phát triển đã nâng cao được nhận thức của người dân về bảo hiểm, bên cạnh đó còn tích cực góp phần vào công tác đề phòng và hạn chế tổn thất. Với đội ngũ cán bộ và đại lý bảo hiểm ngày càng đông, họ là những người trực tiếp tiếp xúc với khách hàng để tuyên truyền, giới thiệu về bảo hiểm, từ đó làm cho nhận thức của người dân về vai trò của bảo hiểm ngày càng được nâng cao. Ngoài ra, các DNBH còn là những người trực tiếp tư vấn cho khách hàng về công tác đề phòng và hạn chế tổn thất, cùng với khách hàng tham gia giám sát và quản lý rủi ro. Hàng năm các DNBH còn bỏ ra từ 5% đến 10% chi phí để tài trợ cho các chương tình an toàn giao thông, phòng chống cháy nổ, chăm sóc sức khỏe học đường… Những khoản chi phí này có tác dụng rất lớn, một mặt là giúp khách hàng nâng cao ý thức trách nhiệm của mình khi tham gia bảo hiểm, mặt khác là góp phần đề phòng, hạn chế và làm giảm thiểu tổn thất.

– Thị trường bảo hiểm Việt Nam từng bước hội nhập với thị trường bảo hiểm khu vực và quốc tế. Với sự phát triển nhanh chóng, ổn định của thị trường, vai trò vị thế của Việt Nam được nâng cao trên trường quốc tế và khu vực thông qua các cơ chế hợp tác thương mại, dịch vụ tài chính đa phương và song phương, như với các nước ASEAN, Liên minh Châu Âu, Hoa Kỳ và Nhật Bản. Đặc biệt chúng ta đã gia nhập WTO và thực hiện các cam kết hội nhập về tự do hóa thương mại, dịch vụ tài chính trong đó có bảo hiểm. Điều này cho thấy, thị trường bảo hiểm Việt Nam đã thực sự hội nhập với thị trường bảo hiểm khu vực và thế giới.

Bên cạnh những kết quả đạt được, thị trường bảo hiểm Việt Nam trong những năm vừa qua còn có những mặt hạn chế chủ yếu sau đây:

– Năng lực hoạt động kinh doanh của các DNBH còn nhiều hạn chế. Phần lớn là do năng lực tài chính yếu kém, cho nên đã lệ thuộc quá nhiều vào hoạt động tái bảo hiểm. Kinh nghiệm và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của một bộ phận cán bộ còn yếu đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình hoạt động kinh doanh. Thực trạng này thể hiện rất rõ trong các khâu, như: đánh giá và quản lý rủi ro, tính phí bảo hiểm, thiết kế sản phẩm, tổ chức kênh phân phối, giám định và bồi thường tổn thất….

– Hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh đã và đang diễn ra khá phổ biến, hiện tượng trục lợi bảo hiểm có xu hướng ngày càng tăng. Thực tế này  diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau, như: giảm phí bảo hiểm tới mức không được phép, mở rộng điều khoản bảo hiểm không đúng quy tắc và trả hoa hồng trực tiếp cho khách hàng. Thậm chí còn dùng các áp lực chính trị can thiệp để lôi kéo khách hàng, ép khách hàng tham gia bảo hiểm bằng nhiều cách khác nhau. Mặc dù thị trường còn non trẻ, song đã sớm xuất hiện các hiện tượng trc lợi bảo hiểm. Theo thống kê sơ bộ của Prudential và Manulife năm 2007 trong tổng số 11.001 trường hợp yêu cầu trả tiền Bảo hiểm mà các Công ty này nhận được, tỷ lệ số vụ xác minh có dấu hiệu trục lợi và đã từ chối trả tiền bảo hiểm là 2%. Hình thức trục lợi phổ biến trên thị trường bảo hiểm Việt Nam là khai báo sai sự thật, giả mạo hồ sơ, giấy tờ, thậm chí tự gây thương tích để đòi tiền bảo hiểm.

– Quy mô thị trường bảo hiểm còn nhỏ bé, chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội. Hạn chế này thể hiện khá rõ ở tỷ trọng doanh thu phí bảo hiểm trong GDP có tăng song vẫn còn rất thấp so với các nước trong khu vực và quốc tế (Singapo là 6,00%; Đài loan 6,9%; Thái Lan 4,7%; mức trung bình trên thế giới là 7,8%). Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam là khá cao, dân số đông nhưng đến cuối năm 2008 các DNBH nhân thọ mới chỉ khai thác được hơn 9 triệu hợp đồng. Các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ cũng trong tình trạng tương tự. Chính vì tỷ trọng tham gia bảo hiểm còn nhỏ bé, quy luật "Số đông bù số ít" trong bảo hiểm bị hạn chế, cho nên khi rủi ro xảy ra, tỷ lệ khách hàng được hưởng quyền lợi bảo hiểm thấp, hậu quả của rủi ro chưa thực sự được san sẻ.

Nguyên nhân của những hạn chế trên có rất nhiều, song những nguyên nhân chính phải kể đến là hệ thống luật pháp còn thiếu và chưa đồng bộ. Công tác quản lý Nhà nước về kinh doanh bảo hiểm chưa theo kịp sự phát triển của thị trường. Phương thức kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh đối với các DNBH còn nặng về thủ tục hành chính. Về phía các DNBH, do chỉ chú trọng đến mục tiêu tăng trưởng và chiếm lĩnh thị phần cho nên chính sách của họ chỉ tập trung vào khâu khai thác những sản phẩm truyền thống. Những sản phẩm mới, những thị trường mới chưa được quan tâm đúng mức. Trình độ quản lý, trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của một bộ phận cán bộ làm bảo hiểm còn nhiều bất cập. Đặc biệt là nhận thức của khách hàng đã tham gia bảo hiểm và của dân chúng còn hạn chế. Phần lớn họ chưa ý thức được vai trò của bảo hiểm. Hơn nữa, thu nhập của họ còn thấp, tỷ lệ tích lũy chưa cao, cho nên mặc dù có nhu cầu tham gia bảo hiểm nhưng khả năng chưa cho phép.

Những tác động của cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay đến thị trường bảo hiểm Việt Nam

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay đã và đang làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới bị chững lại, trong đó có Việt Nam. Những ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng này đã lan toả đến tất cả các ngành, các lĩnh vực và lĩnh vực bảo hiểm cũng không phải ngoại lệ.

Thứ nhất, nó đã làm cho hoạt động xuất khẩu của nước ta bị giảm sút một cách tương đối, nhất là xuất khẩu sang những thị trường lớn như Mỹ, Nhật Bản và EU. Năm 2008, tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu sang những nước này chỉ đạt mức 17%, thấp hơn nhiều so với mức 26,7% của năm 2007. Hiện tượng này đã ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu phí bảo hiểm của nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá vận chuyển, bảo hiểm thân tàu và bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu. Và theo như dự báo của Bộ Công thương và Bộ Tài chính thì hiện tượng này còn kéo dài ít nhất là đến hết năm 2009.

Thứ hai, do kinh tế toàn cầu bị khủng hoảng, kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn, nên vốn đầu tư xã hội, vốn FDI và vốn ODA cũng đang có dấu hiệu bị chững lại. Nếu so sánh quý IV với quý I năm 2008, vốn FDI đầu tư vào Việt Nam giảm 32%. Đặc biệt là khả năng giải ngân nguồn vốn này trong năm 2008 cũng chịu sự tác động đáng kể. Ngoài ra, do tình hình lạm phát bất ổn cho nên nhiều dự án đã bị hoãn lại hoặc bị Chính phủ cắt bỏ (khoảng 1.700 dự án), thực trạng này đã ảnh hưởng khá nhiều đến khả năng khai thác để tăng doanh thu phí của các DNBH phi nhân thọ. Các nghiệp vụ bảo hiểm chủ yếu chịu sự tác động phải kể đến là: bảo hiểm xây dựng và lắp đặt; bảo hiểm hoả hoạn; bảo hiểm thiết bị điện tử; bảo hiểm đóng tàu v.v…

Thứ ba, hậu quả của khủng hoảng đã làm cho thu nhập thực tế của người dân trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng giảm đi cả về tương đối và tuyệt đối. Bởi vậy, họ phải thắt chặt chi tiêu. Lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam và khách du lịch là người Việt Nam cũng đang có xu hướng giảm đi tương đối. Thực trạng này đã ảnh hưởng đáng kể đến thị trường bảo hiểm nhân thọ và các nghiệp vụ bảo hiểm con người phi nhân thọ, như: nghiệp vụ bảo hiểm du lịch, bảo hiểm tai nạn; bảo hiểm trợ cấp nằm viện phẫu thuật v.v… Ngoài ra, trong lĩnh vực BHNT còn có một lượng đáng kể khách hàng tuy đã tham gia bảo hiểm, song do tình hình lạm phát diễn biến phức tạp và đời sống gặp nhiều khó khăn, đã xin huỷ bỏ hợp đồng. Từ đó đã làm cho doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ tăng chậm lại và chắc chắn sẽ còn ảnh hưởng đến những năm tiếp theo.

Thứ tư, khủng hoảng tài chính đã ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thống ngân hàng và thị trường chứng khoán toàn cầu, cho dù sự ảnh hưởng này đối với Việt Nam là chưa thực sự nghiêm trọng. Song hệ luỵ của nó là rất đáng kể, như ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái và lãi suất, đến tình trạng nợ xấu đối với các ngân hàng của Việt Nam. Chỉ số chứng khoán nước ta luôn có chiều hướng giảm sút. Đã có dấu hiệu nhiều nhà đầu tư nước ngoài rút vốn khỏi thị trường Việt Nam. Hiện tượng này đã ảnh hưởng ít nhiều đến khả năng đầu tư quỹ nhàn rỗi của các DNBH. Bên cạnh đó, thị trường bất động sản vẫn đóng băng, những tổ chức mà các DNBH góp vốn liên doanh với họ đang gặp khó khăn đã ảnh hưởng không nhỏ đến lợi nhuận đầu tư của các DNBH.

Ngoài ra, khi kinh tế bị khủng hoảng, suy thoái sẽ dẫn đến hiện tượng tăng phí bảo hiểm. Bởi vậy, muốn tái bảo hiểm, các DNBH Việt Nam buộc phải tăng phí bảo hiểm gốc ở hầu hết các nghiệp vụ. Điều này, sẽ làm cho khả năng khai thác bảo hiểm gặp nhiều khó khăn, hiện tượng khiếu nại đòi bồi thường và hiện tượng trục lợi bảo hiểm vốn đã phức tạp lại càng phức tạp hơn đối với các DNBH.

CÁC GIẢI PHÁP ỔN ĐỊNH THỊ TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY

Đứng trước cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay, để thị trường bảo hiểm và hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam ổn định và tiếp tục phát triển, chúng tôi xin đề xuất một số giải pháp chủ yếu sau đây:

1. Cần tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh bảo hiểm và các hoạt động tài chính có liên quan. Phát hiện và ngăn chặn kịp thời những hiện tượng đổ vỡ có tính dây chuyền giữa các ngành có liên quan nhiều đến lĩnh vực bảo hiểm, như ngân hàng, tài chính, chứng khoán và kinh doanh bất động sản. Bởi vì mối liên kết giữa các ngành này chủ yếu liên quan đến lĩnh vực đầu tư vốn, cho nên sẽ luôn có những rủi ro tiềm ẩn khó lường.

2. Theo dõi chặt chẽ những diễn biến của thị trường tài chính và thị trường bảo hiểm thế giới để có những thông tin dự báo cần thiết cho các DNBH Việt Nam. Điều này sẽ giúp các DNBH Việt Nam đưa ra những quyết sách đúng và kịp thời liên quan đến hoạt động tái bảo hiểm và hoạt động đầu tư tài chính. Giải pháp này cần phải được phối hợp thực hiện giữa cơ quan quản lý Nhà nước về bảo hiểm, Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam và các cơ quan khác có liên quan như: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công An, Bộ Thông tin và Truyền thông v.v…

3. Các DNBH Việt Nam cần tiếp tục ổn định và hoàn thiện tổ chức bộ máy, chiến lược kinh doanh, nghiên cứu và thiết kế những sản phẩm bảo hiểm mới phù hợp với thực trạng của thị trường. Nâng cao chất lượng dịch vụ bảo hiểm ở tất cả các khâu trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm, từ khâu khai thác đến các khâu đề phòng và hạn chế tổn thất, giải quyết khiếu nại, giám định và bồi thường. Kiên trì xây dựng thương hiệu và uy tín của doanh nghiệp để từng bước vươn ra thị trường bảo hiểm nước ngoài. Xây dựng các kênh phân phối sản phẩm phù hợp trong điều kiện công nghệ thông tin ngày càng phát triển và xu hướng liên doanh, liên kết giữa ngân hàng với bảo hiểm đang diễn ra phổ biến trên thế giới hiện nay.

4. Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam phải đóng vai trò trung tâm và là cầu nối thực sự giữa các DNBH với cơ quan quản lý Nhà nước về bảo hiểm và các cơ quan giám sát thị trường. Chủ động nắm bắt thông tin cả trong và ngoài nước liên quan đến lĩnh vực bảo hiểm để từ đó có những khuyến cáo kịp thời đối với các DNBH và cơ quan quản lý Nhà nước về bảo hiểm trong việc: lựa chọn đối tác chiến lược tin cậy; giám sát thị trường, năng lực tài chính, khả năng thanh toán của các DNBH và mối quan hệ giữa các DNBH trong nước với các DNBH nước ngoài trong hoạt động tái bảo hiểm…

5. Cơ quan quản lý Nhà nước về bảo hiểm cần tiếp tục hoàn thiện và cụ thể hoá Luật Kinh doanh bảo hiểm bằng các văn bản hướng dẫn cụ thể phù hợp với cam kết WTO. Đồng thời phải có những chính sách linh hoạt, mềm dẻo trước diễn biến của cuộc khủng hoảng và sự tác động của nó đến thị trường bảo hiểm Việt Nam. Cần sớm đưa ra những cảnh báo kinh tế có liên quan đến thị trường và hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Kiên quyết xử lý các trường hợp lợi dụng tình hình kinh tế – xã hội đang gặp khó khăn để chiếm dụng vốn lẫn nhau và thực hiện các hành vi trục lợi bảo hiểm.

Từ những kết quả đã đạt được trong thời gian qua chúng tôi tin tưởng rằng, thị trường bảo hiểm và hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam sẽ vượt qua được cuộc khủng hoảng hiện nay.

SOURCE: TẠP CHÍ NHÀ QUẢN LÝ SỐ 69, THÁNG 3 NĂM 2009

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: