MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ ĐỔI MỚI CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO CỬ NHÂN LUẬT Ở ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TS. PHẠM TRÍ HÙNG – Đại học Luật TPHCM

Ở Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh, chúng ta đang cần một sự đổi mới toàn diện: đổi mới chương trình đào tạo, đổi mới phương pháp đào tạo, đổi mới đánh giá kết quả đào tạo…trong đó đổi mới chương trình đào tạo được coi là bước đột phá và có tầm quan trọng đặc biệt.

Trong bài viết này, chúng tôi muốn khẳng định tính cấp thiết của đổi mới Chương trình đào tạo cử nhân Luật (Chương trình đào tạo), đưa ra một số ý kiến về định hướng đổi mới và nêu một số vấn đề cần giải quyết trong xây dựng Chương trình đào tạo ở Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh. Nhiều vấn đề trình bày ở đây có thể là không mới nhưng được nhắc lại với mong muốn hệ thống hoá, cung cấp một góc nhìn về nhu cầu và những vấn đề đặt ra trong đổi mới Chương trình đào tạo.

1. Tính cấp thiết của đổi mới Chương trình đào tạo

Nghị quyết số 08, Nghị quyết số 49 của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam là những cơ sở quan trọng để Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh tập trung mọi nguồn lực xây dựng nhà trường trở thành trường đại học trọng điểm, mở ra cơ hội tăng tốc đầu tư và phát triển nhà trường trong giai đoạn trước mắt cũng như hướng phát triển lâu dài trong tương lai. Ngày 21 tháng 9 năm 2007 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ký Quyết định số 6002/QĐ-BGDĐT phê duyệt “Đề án phát triển tổng thể Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh đến năm 2020” theo đó mục tiêu tổng quát đã được phê duyệt là: “Xây dựng Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh thành một cơ sở đào tạo đa ngành, trong đó ngành Luật là trọng tâm; một cơ sở nghiên cứu khoa học hiện đại, đặc biệt là khoa học pháp lý ở phía Nam với hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật và trang thiết bị tiên tiến; áp dụng những thành tựu, phương tiện hiện đại và chương trình tiên tiến trong đào tạo, nhằm tạo ra môi trường tốt nhất cho giảng dạy, học tập, để không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo góp phần phục vụ cộng đồng, mở rộng quan hệ quốc tế rộng rãi, đáp ứng yêu cầu của phát triển và hội nhập”.

Rõ ràng, để xây dựng nhà trường trở thành trường đại học trọng điểm, để không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo không thể không đổi mới Chương trình đào tạo, hướng tới xây dựng chương trình đào tạo tiên tiến, kiểu mẫu. Có thể thấy chương trình đào tạo là một trong những điều kiện tiên quyết, góp phần quyết định chất lượng đào tạo. Nếu chương trình đào tạo không tốt khó có thể có chất lượng đào tạo tốt bởi qua đây thể hiện rằng cơ sở đào tạo đã không xác định được từ đầu mục tiêu đào tạo của mình tức là sẽ đào tạo gì, phục vụ cho mục đích gì. Chính vì tầm quan trọng của chương trình đào tạo nên các cơ sở đào tạo luật hàng đầu thế giới thường xuyên thay đổi chương trình, dựa vào những thành tựu mới của khoa học pháp lý và nhu cầu của xã hội để xác định nội dung đào tạo, hình thức và phương pháp đào tạo.

Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với ý kiến cho rằng “Chương trình đào tạo hiện nay ở các cơ sở đào tạo đang chứa đựng những bất cập lớn…chưa thực sự hướng về nhu cầu của người học và nhu cầu của xã hội” . Một phần nguyên nhân của những bất cập này là vì các cơ sở đào tạo luật bị ràng buộc bởi chương trình khung do Bộ Giáo dục và đào tạo đưa ra. Thay vì thực hiện việc đánh giá, kiểm định xã hội , xác lập các tiêu chí quản lý chất lượng, Bộ Giáo dục và đào tạo quản lý đào tạo đại học bằng phương thức định lượng và chương trình khung quá xơ cứng. Mặt khác, có thể thấy các cơ sở đào tạo cũng chưa dám tự bứt phá thiết kế chương trình đào tạo riêng của mình trong khuôn khổ chương trình chung. Chương trình đào tạo hiện nay chịu nhiều ảnh hưởng của hệ thống pháp luật thời kỳ tập trung bao cấp chứa đựng nhiều quy phạm theo hình mẫu của Liên Xô chịu nhiều ảnh hưởng của khoa học pháp lý chủ yếu là mô phỏng nền khoa học pháp lý của Liên Xô và sự mô phỏng này còn có chỗ thiếu hụt . “Nhìn vào hệ thống pháp luật dễ dàng thấy sự phát triển mất cân đối: phần nhiều các văn bản luật quan trọng thường tập trung vào lĩnh vực nhà nước, luật hình sự, luật hành chính. Các lĩnh vực khác như dân sự, đầu tư, thương mại, du lịch đều kém phát triển” . Trong chương trình đào tạo cử nhân nhiều ngành như kinh tế, tài chính, quản trị kinh doanh… đã tiếp thu những thành tựu mới nhất của khoa học có liên quan và có sự thay đổi sâu sắc, toàn diện còn chương trình đào tạo cử nhân luật ở các cơ sở đào tạo chỉ có một số thay đổi.

Chương trình đào tạo của Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh hiện tại được xây dựng trên cơ sở chương trình khung do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, phù hợp với sứ mạng, mục tiêu giáo dục và chức năng, nhiệm vụ của nhà trường. Tuy nhiên, Chương trình đào tạo không tránh khỏi những bất cập và cần đổi mới để thực sự hướng về nhu cầu của người học và nhu cầu của xã hội. Công cuộc đổi mới đất nước đòi hỏi phải không ngừng đào tạo và nâng cao trình độ, kiến thức pháp luật cho đội ngũ cán bộ, đặc biệt là nâng cao kiến thức chuyên môn cho các chuyên gia trong một số lĩnh vực pháp luật quan trọng, trong đó có pháp luật thương mại. Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và vùng Nam Bộ nói chung (vùng kinh tế trọng điểm năng động nhất nước ta) trong quan hệ đối tác, làm ăn với các công ty của các nước càng cần có những chuyên gia giỏi về pháp luật thương mại để giúp các doanh nghiệp từng bước tiếp cận với hệ thống pháp luật của các nước trên thế giới, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp Việt Nam trong các vụ tranh chấp kinh tế với nước ngoài; đấu tranh phòng chống có hiệu quả các loại tội phạm mới có tính chất quốc tế và tăng cường cải cách thủ tục hành chính nhằm thu hút mạnh mẽ các nguồn vốn đầu tư phục vụ nhu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong giai đoạn mới . Tại Hội thảo “ Gắn kết chương trình đào tạo Luật với thực tiễn đáp ứng nhu cầu xã hội” được nhà trường tổ chức ngày 18 tháng 12 năm 2007 đã có nhiều ý kiến nêu lên của các đơn vị sử dụng lao động về việc cần tăng cường giảng dạy và nâng cao các kiến thức về kinh tế cho sinh viên Luật. Trong các cuộc khảo sát của nhà trường dành cho sinh viên Luật và học viên cao học của nhà trường vào tháng 11 năm 2007 và tháng 3 năm 2008 nhà trường cũng nhận được rất nhiều ý kiến phản hồi của người học về việc cần dành một thời lượng nhất định trong Chương trình đào tạo để trang bị kiến thức và kỹ năng thực hành về kinh doanh cho họ . Song song với việc đề xuất ý kiến với Bộ Giáo dục và đào tạo về thay đổi chương trình khung, đổi mới Chương trình đào tạo chính một phần để đáp ứng các nhu cầu cấp thiết trên, chính là dịp để Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh xây dựng cho mình một chương trình riêng gắn với thực tiễn ở Thành phố Hồ Chí Minh và vùng Nam Bộ, thể hiện sự khác biệt với các cơ sở đào tạo cử nhân luật khác.

Đổi mới Chương trình đào tạo cũng xuất phát từ sức ép của bối cảnh cạnh tranh trong lĩnh vực đào tạo Luật. Hiện tại, nhiều cơ sở đào tạo đã phát triển theo hướng đa ngành, mở thêm những ngành đào tạo ví dụ cử nhân Luật Kinh tế, Luật Quốc tế …nếu không đổi mới Chương trình đào tạo để qua đó thể hiện những nét đặc trưng, thế mạnh của nhà trường, sẽ có nguy cơ tụt hậu, nguy cơ giảm chất lượng và số lượng thí sinh thi vào Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh.

Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh đã thành lập Tổ tư vấn về đổi mới Chương trình đào tạo, sau khi Tổ tư vấn đưa ra những gợi ý và Dự thảo Chương trình đào tạo đã tổ chức cho tất cả 5 Khoa chuyên ngành tổ chức tọa đàm về Chương trình đào tạo. Có Khoa chuyên ngành như Khoa Luật Hình sự đã tổ chức tạo đàm một cách công phu, có mời các thẩm phán, luật sư, đại diện của sinh viên và học viên cao học để đóng góp ý kiến cho Chương trình đào tạo. Tọa đàm của Khoa Luật Thương mại, Khoa Luật Dân sự, Khoa Luật Hành chính, Khoa Luật Quốc tế có nhiều ý kiến sôi nổi với hàng chục tham luận…Thực tế này chứng tỏ việc đổi mới Chương trình đào tạo là cấp thiết và nhận được sự quan tâm, chú ý của các Khoa, của các giảng viên.

2. Một số ý kiến về định hướng đổi mới Chương trình đào tạo

Định hướng quan trọng của đổi mới Chương trình đào tạo phải đảm bảo thể hiện đúng quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Nhà nước về giáo dục và đào tạo; đảm bảo thực hiện những qui định của Luật Giáo dục, Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 02 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020 với quan điểm chỉ đạo là: “Đổi mới giáo dục đại học phải bảo đảm tính thực tiễn, hiệu quả và đồng bộ; lựa chọn khâu đột phá, lĩnh vực ưu tiên và cơ sở trọng điểm để tập trung nguồn lực tạo bước chuyển rõ rệt. Việc mở rộng quy mô phải đi đôi với nâng cao chất lượng; thực hiện công bằng xã hội phải đi đôi với bảo đảm hiệu quả đào tạo; phải tiến hành đổi mới từ mục tiêu, quy trình, nội dung đến phương pháp dạy và học, phương thức đánh giá kết quả học tập; liên thông giữa các ngành, các hình thức, các trình độ đào tạo; gắn bó chặt chẽ và tạo động lực để tiếp tục đổi mới giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp” .

Đổi mới Chương trình đào tạo ở Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh được được thực hiện theo hướng giảng dạy theo tín chỉ, gắn liền với kế hoạch tổng thể đổi mới giảng dạy về: mục tiêu đào tạo, chương trình đào tạo, nội dung, phương pháp dạy và học, phương thức đánh giá kết quả học tập… Trong đổi mới giáo dục đại học, Nhà trường đã lựa chọn đổi mới Chương trình đào tạo cử nhân luật và chuyển sang học chế tín chỉ làm khâu đột phá, lĩnh vực ưu tiên. Chương trình đào tạo được xây dựng phù hợp với điều kiện vật chất, nguồn nhân lực của nhà trường, phát huy các thế mạnh của nhà trường và sự tham gia tích cực của cán bộ, giảng viên. Tuy nhiên theo chúng tôi cần có sự tập trung nguồn lực hơn nữa để tạo bước chuyển vượt bậc, làm nổi rõ thế mạnh, nét đặc trưng riêng của trường. Đổi mới Chương trình đào tạo, đây cùng là dịp để Nhà trường tập trung xác định những thế mạnh, những nét đặc trưng để thể hiện trong Chương trình đào tạo.

Điểm đặc biệt cần quan tâm trong xây dựng Chương trình đào tạo là từng bước tiếp cận với các chương trình đào tạo tiên tiến của nước ngoài có chú trọng đến điều kiện và đặc thù của Việt Nam. Trong Dự thảo Chương trình đào tạo, chúng ta thấy có sự kế thừa những thành quả của chương trình đào tạo đang được sử dụng, tuy nhiên việc tiếp thu tinh hoa của các chương trình đào tạo cử nhân luật của các cơ sở đào tạo luật trong và ngoài nước chưa được thể hiện rõ. Như chúng ta đã biết, trên thế giới tồn tại hai dòng họ pháp luật cơ bản là Dòng họ Civil Law (Dòng họ pháp luật châu Âu lục địa) và Dòng họ Common Law (Dòng họ pháp luật Anh – Mỹ) . Hai dòng họ pháp luật trên đều có điểm mạnh, điểm yếu và đang có xu hướng xích lại gần nhau, vì vậy trong xây dựng Chương trình đào tạo, chúng ta cũng cần tính đến xu hướng trên, tính đến tính thực tế, thiết thực của Dòng họ Common Law. Ở đây chúng ta thấy việc xác định tinh hoa của các chương trình đào tạo cử nhân luật của các cơ sở đào tạo là tương đối khó khăn; có thể cần phải tổ chức nhiều cuộc tọa đàm, hội thảo để làm sáng tỏ sự ưu việt, tinh hoa của các chương trình đào tạo tiên tiến. Tuy nhiên, khi xác định được nét nổi trội tích cực của các chương trình này rồi thì việc tiếp thu, đưa vào Chương trình đào tạo của Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh cũng không phải là dễ dàng.

Một vấn đề quan trọng đặt ra là phải xác định rõ mục đích, chuẩn đầu ra làm cơ sở để xây dựng Chương trình đào tạo. Mục tiêu chung của Chương trình đào tạo được xây dựng trên cơ sở mục tiêu của nền giáo dục Việt Nam theo Luật Giáo dục là: Đào tạo cử nhân luật có phẩm chất chính trị và phẩm chất đạo đức tốt, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đại học luật, có sức khỏe đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam, phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Mục tiêu chung này được cụ thể hoá trong Dự thảo Chương trình đào tạo bao gồm: Trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về khoa học pháp lý, những kiến thức chuyên sâu thuộc các chuyên ngành đào tạo; Đảm bảo cho sinh viên trình độ ngoại ngữ ở mức độ giao tiếp thông thường, trình độ tin học đủ để phục vụ cho công tác chuyên môn. Về mặt kỹ năng, sau khi kết thúc Chương trình đào tạo, sinh viên có thể tự đánh giá, phân tích, vận dụng một cách sáng tạo các kiến thức đã học để giải quyết một cách độc lập những vụ việc pháp lý thông thường; có khả năng tự cập nhật, hiểu và vận dụng các văn bản pháp luật mới; tự nghiên cứu để giải quyết những vấn để mới nảy sinh trong công việc…

Cũng như đối với Chương trình đào tạo sau đại học, mục đích của Chương trình đào tạo cử nhân luật ở Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh là đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao cho xã hội; gắn nội dung, chương trình giảng dạy với nhu cầu xã hội; giảm thiểu các nội dung mang nặng tính hàn lâm; tăng cường khả năng thực hành và bản lĩnh xử lý các vấn đề phát sinh từ thực tiễn . Song song với thực hiện xây dựng chuẩn đầu ra, việc khảo sát điều tra một cách chuyên nghiệp, bài bản về nhu cầu của người học và nhu cầu của xã hội là việc làm cần thiết. Đồng thời, trong thực hiện mục đích của Chương trình đào tạo nêu trên, chúng ta thấy “giảm thiểu các nội dung mang nặng tính hàn lâm, tăng cường khả năng thực hành” cần được thể hiện không chỉ qua Chương trình đào tạo mà cần đi vào nhận thức và hành động của cán bộ, giảng viên; thể hiện qua phương pháp truyền đạt kiến thức. Dù có đổi mới chương trình nhưng nếu trong giờ lên lớp, các giảng viên vẫn đọc bài cho sinh viên chép thì chắc chắn sẽ không đạt được hiệu quả. Đổi mới Chương trình đào tạo là một quá trình phức tạp và đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ với đổi mới phương pháp đào tạo, đổi mới cách đánh giá kết quả đào tạo.

3. Một số vấn đề đặt ra trong đổi mới Chương trình đào tạo

Qua xem xét Dự thảo Chương trình đào tạo, tập hợp ý kiến đóng góp cho Dự thảo của các Khoa, chúng tôi thấy có một số vấn đề đặt ra như sau:

Thứ nhất, xây dựng Chương trình đào tạo đầy đủ kiến thức của tất cả chuyên ngành (dạy đều các môn) hay đi sâu theo từng chuyên ngành?

Có ý kiến cho rằng khi xây dựng Chương trình đào tạo nên đi sâu vào chuyên ngành, chỉ dành một thời lượng vừa phải cho những môn không phải chuyên ngành kết hợp với phương pháp tăng cường thuyết trình, bảo vệ đề tài, thực tập…để sinh viên ra trường sẽ là những người làm được việc, thực sự giỏi trong một lĩnh vực cụ thể. Hiện tại, ở Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh, các chuyên ngành đều có chương trình học tương tự như nhau, chỉ có khác biệt ở các môn tư chọn. Cần lưu ý là tuy nhà trường có thực hiện tuyển sinh theo chuyên ngành nhưng bằng tốt nghiệp chỉ ghi là tốt nghiệp Cử nhân Luật học chứ không ghi chuyên ngành. Việc đào tạo chung và ghi chung trong bằng tốt nghiệp như vậy sẽ tạo cho sinh viên nhiều cơ hội hơn khi tìm kiếm việc làm sau khi tốt nghiệp. Tuy nhiên, khảo sát sơ bộ ý kiến của người học cho thấy đa số sinh viên muốn được học sâu vào chuyên ngành .

Tham khảo chương trình đào tạo của các cơ sở đào tạo cử nhân Luật ở các nước trên thế giới, chúng ta thấy ví dụ như ở Trung Quốc chỉ có 15 môn là bắt buộc ở tất cả các cơ sở đào tạo luật học (Hệ thống tư pháp, Luật hiến pháp, Luật hành chính và tố tụng hành chính, Lịch sử pháp luật Trung Hoa, Dân luật, Tố tụng dân luật, Hình luật, Tố tụng hình luật, Luật thương mại, Luật kinh tế, Luật sở hữu trí tuệ, Công pháp quốc tế, Tư pháp quốc tế, Luật kinh tế quốc tế, Luật môi trường), còn lại là các môn tự chọn; ở Anh trong bậc cử nhân chỉ có 8 môn được xem là bắt buộc (Hiến pháp và hành chính, Hệ thống pháp luật, Luật hợp đồng, Đền bù thiệt hại, Uỷ thác, Đất và tài sản, Hình luật, Luật Châu Âu) …Như vậy, chúng ta có thể xây dựng Chương trình đào tạo theo hướng lựa chọn một số môn bắt buộc cho tất cả các chuyên ngành và dành một thời lượng nhiều hơn cho các môn bắt buộc của các chuyên ngành .

Thứ hai, xây dựng Chương trình đào tạo chú trọng đào tạo kiến thức hay chú trọng đào tạo kỹ năng thực hành?

Đặc điểm của nền khoa học pháp lý của chúng ta cũng như nhiều khoa học xã hội khác là thoát ly thực tế, không góp phần vào việc giải quyết các công việc cụ thể đặt ra của cuộc sống. Điều này thể hiện trong các giáo trình, phần chung bao giờ cũng được thể hiện đậm đặc hơn phần riêng, phần cụ thể và trong chương trình đào tạo của các cơ sở đào tạo luật.

Tuy nhiên, cần phải thấy đào tạo ở bậc đại học là truyền tải kiến thức (chứ không nhấn mạnh kỹ năng) và đào tạo cơ bản (chứ không chuyên sâu) cho nên không quá tham vọng vào việc sử dụng phân tích tình huống (case study) hay diễn án. Trong thời lượng 4 năm đào tạo, việc dành khoảng 1 năm cho các môn cơ bản và 3 năm cho luật học là phù hợp. Cần phải thấy cử nhân luật mới là bước đầu tiên dẫn đến nghề luật . Có thể khẳng định chắc chắn là từ giảng đường bước ra thì các cử nhân Luật khó mà có đủ các kỹ năng để có thể làm việc được ngay. Để thành thạo các kỹ năng ấy cần rèn luyện trong giai đoạn tập sự và quá trình làm việc sau này.

Theo chúng tôi, cần xác định đào tạo cử nhân Luật chú trọng vào kiến thức cơ bản, nền tảng kết hợp với việc truyền đạt các kiến thức ấy bằng phương pháp thích hợp để người học có tư duy tích cực và có thể vận dụng trong thực tiễn.

Thứ ba, nên đưa vào Chương trình đào tạo càng nhiều môn học tự chọn càng tốt hay chỉ nên tập trung vào một số môn?

Một trong những hạn chế của Chương trình đào tạo hiện nay là khả năng người học được lựa chọn các khoá học cần thiết cho nhu cầu bản thân không nhiều. Theo chúng tôi, có thể giao cho các Khoa một thời lượng tín chỉ nhất định (ví dụ 20 tín chỉ), để các Khoa chủ động xây dựng các môn học tự chọn làm sao đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng của người học và xã hội. Các môn tự chọn sẽ thể hiện rõ tính chuyên ngành và mang tính ứng dụng, thực hành kỹ năng nhiều hơn (khác với các môn chuyên ngành bắt buộc). Các môn học chuyên ngành tự chọn (bên cạnh các môn chuyên ngành bắt buộc) có thể được coi là những sản phẩm đặc thù, làm nên diện mạo của các Khoa và thu hút người học. Thù lao trả cho giảng viên có thể căn cứ vào số sinh viên ghi tên theo học các môn tự chọn do giảng viên đó xây dựng và trực tiếp giảng dạy./.

SOURCE: BLOG CÁ NHÂN CỦA TÁC GIẢ

Trích dẫn từ: http://my.opera.com/Pham%20Hung/blog/show.dml/7837631

Advertisements

2 Responses

  1. Tôi còn nhớ tại Hội thảo “ Gắn kết chương trình đào tạo Luật với thực tiễn đáp ứng nhu cầu xã hội”, thầy Vũ Duy Cương đã nhắn nhủ sinh viên rằng: để có thể đáp ứng được nhu cầu của xã hội, trước hết các em phải thay đổi chính mình, không thụ động trong học tập, tự trang bị cho mình những kỹ năng thực tế, còn với chúng tôi, nếu muốn tồn tại, chúng tôi cũng phải thay đổi.

    Bài viết trên đây của thầy Trí Hùng đã thể hiện được tâm huyết muốn thay đổi ở trường ĐH Luật Tp. HCM. Đó là điều đáng mừng cho những thế hệ học viên kế tiếp.

    Dưới đây tôi cũng mong đóng góp một số ý kiến của mình dưới góc độ là một sinh viên đã ra trường được gần 2 năm:

    1) Về vấn đề dạy đều các môn hay đi sâu theo từng chuyên ngành?
    Ai cũng biết rằng sẽ ít có luật sư nào am hiểu hết tất cả các lĩnh vực luật. Chú trọng vào một chuyên ngành luật cũng chính là đang chuyên nghiệp hóa chính họ. Nhưng ko phải luật sư chuyên về tư vấn kinh doanh thương mại lại không thể không biết gì về hình sự, hành chính.
    Chương trình đào tạo hiện nay nhìn chung đã bao quát được các ngành luật, nhưng nếu đã phân thành các chuyên khoa thì cần phải có sự “chuyên biệt” giữa chương trình đào tạo. Điều này có thể thực hiện được bằng cách: các môn học chủ yếu (dân sự, thương mại, hành chính…) vẫn được đào tạo chung, nhưng ở từng khoa nên có sự “quan tâm” hơn về chuyên ngành của khoa đó. Ví dụ: bố trí thời lượng nhiều hơn, bố trí giáo viên có trình độ, tâm huyết hơn, tổ chức nhiều buổi hội thảo, thuyết trình cho sv khoa đó…Đặc biệt là việc nâng cao nhận thức của sinh việc rằng phải “đầu tư” nhiều hơn cho chuyên ngành mình đang theo đuổi.

    2) Chú trọng đào tạo kiến thức hay chú trọng đào tạo kỹ năng thực hành?
    Tôi luôn nghĩ rằng, lý thuyết luôn luôn quan trọng trong nghề luật. Nắm vững được lý thuyết, hiểu được lý luận, thì luật có thay đổi cũng vẫn nắm được các nguyên tắc bất biến, vấn đề luật không quy định vẫn có thể suy luận mà thực hiện.
    Nhưng, như ý kiến của thầy Hùng, làm sao để lý thuyết đừng thoát ly thực tế, giáo trình đừng chỉ ở phần chung là dày cộm còn chuyên ngành thì copy của luật thực định. Muốn vậy, trong quá trình viết giáo trình cần phải có sự tham gia của các luật sư và những người làm công tác pháp luật khác. Các chuyên ngành như doanh nghiệp, thương mại, lý thuyết còn khá sơ sài, và thực tế nhiều thầy cô chỉ giảng lại luật thực định mà không đi vào phân tích, giải thích cơ sở lý luận của các quy định đó.

    3) Đưa vào Chương trình đào tạo càng nhiều môn học tự chọn hay chỉ nên tập trung vào một số môn?
    Theo tôi nghĩ, vấn đề không phải là ít hay nhiều môn mà là chất lượng nhiều hay ít (đặc biệt là các môn tự chọn mời giáo viên ngoài trường giảng).
    Còn nhớ ngày đó học môn “Quản trị doanh nghiệp” đến này vẫn chưa hiểu mình học cái đó làm gì. Học “Luật đầu tư” thì chỉ tập trung vào “ưu đãi đầu tư”, ra đi làm thì mới biết thành lập một công ty FDI nó khác nhiều với thành lập một công ty trong nước, ra đi làm rồi mới biết: à, mình còn phải đọc “Cam kết thương mại dịch vụ của Việt Nam trong WTO” nữa.
    Cho nên, nâng cao chất lượng, quý trọng thời gian của các môn tự chọn là điều chắc chắn phải làm nếu muốn nâng cao chất lượng đào tạo.

    Với cách là cựu sinh viên, dù ở đâu, làm gì, chúng em hướng về trường và luôn mong trường mình ngày càng đổi mới đi lên.

  2. Nen cung cap cho sinh vien nhung kien thuc hay ky nang gi la mot chuyen. Cung cap nhu the nao cho sinh vien do “ngan”, de “tieu hoa” moi la chuyen quan trong hon. Vi vay theo toi doi moi phuong phap day va hoc moi la chia khoa cua van de. Phai lam sao de sinh vien khi ra truong tro thanh nhung ngu dan thuc thu trong bien ca kien thuc? Cau hoi do nhieu nuopc tien tien da co loi giai tai sao chung ta khong hoc tap ma cu phai ban mai. Dung mai nguy bien bang may chu ” dac thu Viet Nam” de phi thoi gian di tim phuong phap day va hoc rieng cho nen giao duc nuoc nha.

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: