Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

NHỮNG RỦI RO PHÁP LÝ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TRONG GIAI ĐOẠN “HẬU WTO”

TS. NGUYỄN THỊ THU TRANG – Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

Những rủi ro pháp lý “hữu hình”

Về bản chất, WTO là một tập hợp các quy tắc thương mại chung, làm khuôn mẫu điều chỉnh và định hướng hoạt động thương mại quốc tế, tạo ra một sân chơi chung, bằng một luật chơi chung cho doanh nghiệp các nước trong hội nhập. Điều này cũng đồng nghĩa với việc WTO mang lại những đảm bảo an toàn về pháp lý cho các doanh nghiệp tham gia vào quá trình này.

Tuy nhiên, cần nhận thức một cách đầy đủ rằng, các quy tắc thương mại trong WTO là kết quả của một quá trình đàm phán lợi ích, trong đó một mặt các quốc gia phải cam kết mở cửa thị trường, mặt khác họ lại tạo ra các công cụ pháp lý để bảo vệ nền sản xuất trong nước. Trong không ít trường hợp, những công cụ được thiết lập nhân danh thương mại công bằng, an ninh an toàn, bảo vệ môi trường… lại được sử dụng vì mục tiêu bảo hộ, và do đó chúng trở thành những rào cản, rủi ro pháp lý “hữu hình” đối với doanh nghiệp xuất khẩu.

Có thể kể đến một số loại “rủi ro” đã được ghi nhận trong WTO như sau:

Các hàng rào kỹ thuật (TBT) và vệ sinh động thực vật (SPS)

Tại sao là rủi ro?

Hiệp định về các hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (TBT) và Hiệp định về các biện pháp kiểm dịch động thực vật (SPS) của WTO cho phép các quốc gia áp đặt một hệ thống quy định về các tiêu chuẩn kỹ thuật và những quy tắc vệ sinh dịch tễ mà hàng hóa nhập khẩu bắt buộc phải tuân thủ. Về nguyên tắc, các quốc gia phải áp dụng các quy định này vì mục đích chính đáng (an ninh quốc gia, chống gian lận, bảo vệ an toàn sức khoẻ, tính mạng con người, động thực vật…), trên cơ sở các căn cứ khoa học và không phân biệt đối xử đối với hàng hóa từ các nước xuất khẩu khác nhau (trừ trường hợp nông phẩm từ các nước hay vùng nhiễm dịch), giữa hàng trong nước và hàng nhập khẩu… nhằm đảm bảo rằng các quy định này không trở thành những rào cản không cần thiết đối với thương mại.

Trên thực tế, do mỗi quốc gia đều có quyền tự thiết lập một hệ thống tiêu chuẩn của riêng mình (các tiêu chuẩn quốc tế chỉ mang tính khuyến nghị, không bắt buộc áp dụng), không ít những trường hợp các tiêu chuẩn và quy tắc vệ sinh này trở thành rào cản khiến hàng hóa từ các nước xuất khẩu, đặc biệt là các nước đang phát triển, không thể tiếp cận được thị trường.

Các tiêu chuẩn kỹ thuật thường bao gồm 4 nhóm:

(1) Tiêu chuẩn liên quan đến đặc tính của sản phẩm;

(2) Tiêu chuẩn liên quan đến quy trình và phương pháp sản xuất có ảnh hưởng đến đặc tính của sản phẩm;

(3) Tiêu chuẩn, quy tắc về thuật ngữ và ký hiệu đối với sản phẩm;

(4) Các yêu cầu về đóng gói và ghi nhãn mác.

Trong khi các tiêu chuẩn kỹ thuật được áp dụng đối với hàng hóa nói chung, các quy tắc vệ sinh dịch tễ (kiểm dịch động thực vật) chỉ áp dụng đối với nông phẩm (sản phẩm thô hoặc đã chế biến) nhằm bảo đảm an toàn thực phẩm, tránh các bệnh lây nhiễm từ vật nuôi, cây trồng, tránh các loại sâu và dịch bệnh. WTO cho phép các quốc gia được áp dụng các quy tắc kiểm dịch động thực vật tạm thời để đề phòng lan truyền dịch ngay cả khi chưa có đủ bằng chứng khoa học và họ có quyền phân biệt đối xử giữa nông phẩm có xuất xứ khác nhau.

Các sản phẩm thường bị áp đặt các điều kiện kiểm dịch vệ sinh dịch tễ bao gồm:

– Rau và hoa quả tươi.

– Nước quả và các chế phẩm thực phẩm.

– Thịt và các sản phẩm thịt.

– Các sản phẩm sữa.

– Các sản phẩm thực phẩm chế biến.

Các biện pháp hạn chế rủi ro

– Tập hợp thông tin về các tiêu chuẩn kỹ thuật và biện pháp kiểm dịch của nước nhập khẩu (để biết trước các điều kiện đối với hàng hóa trước khi xuất khẩu).

– Thiết lập hệ thống chất lượng ổn định (để đảm bảo đáp ứng các tiêu chuẩn ngay trong quá trình sản xuất sản phẩm).

– Hiểu biết đầy đủ về các hạn chế của WTO đối với quyền quyết định các tiêu chuẩn kỹ thuật và vệ sinh dịch tễ của các quốc gia để tự khiếu kiện hoặc thông qua Nhà nước khiếu kiện bảo vệ quyền lợi khi cần thiết.

Các biện pháp thương mại công bằng

Tại sao là rủi ro?

Trong thực tế thương mại quốc tế, một số hiện tượng không lành mạnh như hàng hóa nhập khẩu bị bán phá giá hay được trợ cấp có thể bóp méo các điều kiện cạnh tranh, làm ảnh hưởng đến nền sản xuất nước nhập khẩu. Do đó, WTO cho phép các quốc gia được tiến hành các biện pháp để đem lại “công bằng” trong những trường hợp như vậy bằng cách áp đặt thuế bổ sung (hoặc hạn chế nhập khẩu) đối với hàng hóa liên quan. Hiệp định về chống bán phá giá và chống trợ cấp của WTO quy định một loạt các điều kiện về nội dung và thủ tục mà nước nhập khẩu cần phải tuân thủ để có thể áp đặt các biện pháp này.

Về nguyên tắc, hàng hóa nhập khẩu vào một nước chỉ có thể bị áp đặt thuế chống bán phá giá hay trợ cấp nếu qua điều tra cho thấy:

(1) Hàng hóa nhập khẩu bị bán phá giá hoặc được trợ cấp;

(2) Có thiệt hại đáng kể đối với ngành sản xuất sản phẩm tương tự nội địa nước nhập khẩu;

(3) Có mối quan hệ nhân quả giữa việc bán phá giá (trợ cấp) và thiệt hại nói trên.

Thủ tục điều tra được tiến hành nếu có đơn kiện hợp lệ của ngành sản xuất trong nước và phải áp dụng đầy đủ các trình tự đảm bảo quyền tự bảo vệ của các bên.

Vấn đề là trong thực tế, cơ quan điều tra nước nhập khẩu có quyền khá lớn trong việc điều tra và ra quyết định trong các vụ kiện chống bán phá giá, trợ cấp, vì vậy chuyện họ có thể thiếu khách quan trong điều tra, bênh vực doanh nghiệp nội địa, ra quyết định bất lợi cho doanh nghiệp xuất khẩu cũng là điều dễ hiểu. Hiện tượng này đặc biệt dễ xảy ra đối với các doanh nghiệp từ những nước chưa được xem là có nền kinh tế thị trường như Việt Nam. Ngoài ra, vì các vụ kiện này được khởi xướng bởi ngành sản xuất nội địa nước nhập khẩu, nên khả năng xảy ra cũng lớn hơn.

Các biện pháp hạn chế rủi ro

– Hiểu biết đầy đủ về bản chất của các vụ kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp.

– Tham gia tích cực vào các vụ kiện (để có được kết luận điều tra có lợi).

– Có biện pháp chủ động (điều chỉnh thị phần, giá, tốc độ gia tăng khối lượng nhập khẩu tại các thị trường…) ngay khi ngành sản xuất nội địa nước nhập khẩu tạo sức ép hay có nguy cơ kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp.

Biện pháp tự vệ

Tại sao lại rủi ro?

WTO cho phép nước nhập khẩu có thể tiến hành các biện pháp hạn chế nhập khẩu tạm thời đối với một loại hàng hóa nếu sau khi điều tra thấy rằng, có sự gia tăng mạnh về khối lượng nhập khẩu hàng hóa đó, gây ra (hoặc đe dọa gây ra) thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất nội địa liên quan. Cụ thể, nước nhập khẩu có thể tăng thuế nhập khẩu, đặt hạn ngạch nhập khẩu đối với hàng hóa liên quan từ tất cả các nước.

Trong những trường hợp như vậy, rủi ro có thể xảy ra đối với hàng hóa nhập khẩu của doanh nghiệp ngay cả khi lượng hàng xuất khẩu của họ không lớn và họ hoàn toàn cạnh tranh công bằng.

Các biện pháp hạn chế rủi ro

Trên thực tế, các nước thường ít sử dụng biện pháp tự vệ (mặc dù họ vẫn có toàn quyền điều tra, quyết định như trong các vụ kiện chống bán phá giá, trợ cấp) bởi hệ quả kéo theo thường khá lớn (bởi họ phải dự kiến đến các cách thức bồi thường thương mại đối với các nước có hàng hóa bị áp đặt biện pháp tự vệ). Tuy nhiên, đây vẫn là một rủi ro mà doanh nghiệp phải tính đến khi xuất khẩu hàng hóa (bằng cách có hiểu biết đầy đủ về các nguyên tắc tự vệ, có biện pháp điều chỉnh thị trường thích hợp trong trường hợp bị áp dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu…).

Những rủi ro pháp lý khác

– Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) trong WTO (TRIPS) quy định một loạt các nguyên tắc bảo hộ quyền SHTT. Đa số các nguyên tắc này cũng đã được công nhận và pháp điển hóa ở Việt Nam. Vấn đề là việc thực thi quyền SHTT ở nước ta cho đến nay vẫn còn rất nhiều bất cập, do đó doanh nghiệp Việt Nam cũng chưa chú ý nhiều đến việc tự bảo vệ các quyền SHTT của mình. Gia nhập WTO đồng nghĩa với việc hàng hóa Việt Nam sẽ tiếp cận những thị trường mà ở đó quyền SHTT được bảo hộ rất nghiêm ngặt. Như vậy, nếu không nhanh chóng nhận thức các quyền và thực hiện các biện pháp để bảo hộ quyền SHTT của mình ở các nước thì rủi ro và kéo theo đó là thiệt hại sẽ là rất lớn.

– Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, hoạt động thương mại của doanh nghiệp Việt Nam sẽ được áp dụng các nguyên tắc pháp lý chung như nguyên tắc tối huệ quốc (hàng hóa được đối xử bình đẳng với hàng hóa từ các nước xuất khẩu khác), đối xử quốc gia (hàng hóa được đối xử bình đẳng với hàng hóa nội địa nước nhập khẩu)… Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, các quy tắc xương sống của WTO này đều có ngoại lệ (vì mục tiêu an ninh quốc gia, bảo vệ môi trường…). Do đó, doanh nghiệp cần đặc biệt chú ý đến những biện pháp áp dụng quyền ngoại lệ này của các quốc gia khi xuất khẩu hàng hóa.

Những rủi ro pháp lý “vô hình”

Đối với doanh nghiệp Việt Nam, ngoài những rủi ro pháp lý “hữu hình” có thể gặp phải như đã nói trên, những rủi ro khác, xuất phát từ nhận thức hay cách ứng xử không theo tinh thần thượng tôn pháp luật, có thể gây ra những tổn thất không nhỏ trong quá trình hội nhập nếu không được nhận biết đầy đủ.
Rủi ro từ nhận thức

– Rủi ro từ việc không nhận biết đầy đủ về các quyền của mình: WTO buộc các quốc gia phải hành xử (bằng các quy định và thủ tục) theo cách hạn chế tối đa các rào cản thương mại. Cơ hội cũng từ đó mà mở ra cho các doanh nghiệp xuất khẩu trong việc tiếp cận thị trường và cạnh tranh với hàng nội địa nước nhập khẩu. Vì thế, nếu không biết về các nghĩa vụ của các quốc gia theo quy định của WTO (tương ứng với đó là quyền của doanh nghiệp) cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp bỏ qua các cơ hội mà mình lẽ ra được hưởng.

– Rủi ro từ việc không nhận biết đầy đủ về các nghĩa vụ của mình: WTO quy định các nghĩa vụ của quốc gia, nhưng đồng thời cũng gián tiếp quy định về “nghĩa vụ” của các doanh nghiệp (đặc biệt trong các biện pháp có liên quan đến bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và thương mại công bằng). Doanh nghiệp sẽ phải trả giá rất đắt trong trường hợp không thực hiện đúng nghĩa vụ (dù rằng việc đó xuất phát từ cố ý vi phạm hay đơn giản là vi phạm do không hiểu biết).

– Rủi ro từ việc không nhận biết đầy đủ về hệ thng pháp luật thương mại nước nhập khẩu: hoạt động thương mại trên lãnh thổ một nước phải tuân thủ hệ thống pháp luật nội địa nước đó. Ở các quốc gia nơi mọi vấn đề được xử lý theo pháp luật, không hiểu biết về pháp luật và hoặc thiếu ý thức tôn trọng pháp luật sẽ là nguy cơ lớn khi tiến hành hoạt động thương mại.

Rủi ro từ cách hành xử

– Rủi ro từ việc không thực hiện đúng cam kết, đúng pháp luật (pháp luật thương mại quốc tế hoặc pháp luật quốc gia): Cách hành xử tuỳ tiện, không tuân thủ hợp đồng hay pháp luật có thể kéo theo những thiệt hại vật chất lớn cho doanh nghiệp, bởi doanh nghiệp có thể phải chịu các hình thức bồi thường, phạt vi phạm… rất nghiêm khắc;

– Rủi ro từ việc không sử dụng, không tham gia các phương thức giải quyết tranh chấp: ứng xử theo thói quen, bỏ qua nguyên tắc, coi thường pháp luật trong trường hợp này có thể dẫn đến những hậu quả nặng nề bởi (1) nếu không sử dụng các cơ chế giải quyết tranh chấp thì doanh nghiệp không thể bảo vệ quyền lợi của mình; (2) nếu không tham gia tích cực vào các quá trình giải quyết tranh chấp, doanh nghiệp sẽ tự làm mất cơ hội chứng minh cho mình.

– Rủi ro từ việc không thực hiện các bản án, quyết định giải quyết tranh chấp: Trong các tranh chấp, phán quyết của Toà hay quyết định của trọng tài có giá trị bắt buộc phải tuân thủ và pháp luật các nước có những cơ chế hữu hiệu để thực thi các phán quyết/quyết định này. Việc từ chối, bất hợp tác hay trốn tránh các nghĩa vụ này có thể phải trả những cái giá rất đắt.

(Bài trình bày tại Hội thảo “Gia nhập WTO: Những thách thức quản lý”)

SOURCE: TẠP CHÍ NHÀ QUẢN LÝ SỐ 37, THÁNG 7 NĂM 2006

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: