VAI TRÒ, CHỨC NĂNG CỦA BỘ TƯ PHÁP LIÊN BANG THỤY SỸ TRONG VIỆC THAM GIA KÝ KẾT, GIA NHẬP VÀ THỰC HIỆN CÁC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VỀ HỢP TÁC PHÁP LUẬT VÀ TƯ PHÁP

THS. ĐẶNG HOÀNG OANH – Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tư pháp

Tham gia ký kết, gia nhập và thực hiện các điều ước quốc tế về hợp tác pháp luật và tư pháp là một trong các chức năng, nhiệm vụ phổ biến của Bộ Tư pháp hầu hết các quốc gia. Bài viết giới thiệu tóm tắt các chức năng của Bộ Tư pháp Liên bang Thuỵ Sỹ trong lĩnh vực nêu trên, hy vọng sẽ đóng góp phần nào cho việc nghiên cứu, tăng cường chức năng của Bộ Tư pháp Việt Nam trong công tác hợp tác pháp luật, tư pháp nói chung và công tác ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp nói riêng.

Bộ Tư pháp và Cảnh sát Liên bang Thuỵ Sỹ (Federal Department of Justice and Police- FDJP) có rất nhiều chức năng khác nhau. Bộ xử lý các vấn đề chính trị-xã hội, như cùng chung sống hoà bình giữa công dân Thuỵ Sỹ và công dân nước ngoài, cư trú chính trị, an ninh trong nước và phòng chống tội phạm. Đối với FDJP thì các vấn đề về hôn nhân và quốc tịch cũng quan trọng như các vấn đề về quản trị công ty, giám sát hoạt động cờ bạc hay soạn thảo các luật và văn kiện về tương trợ tư pháp quốc tế và hợp tác cảnh sát.

Bộ có bốn văn phòng Liên bang:Văn phòng Tư pháp Liên bang, Văn phòng Cảnh sát Liên bang, Văn phòng di cư Liên bang và Văn phòng đo lường Liên bang.

1. Văn phòng Tư pháp Liên bang (Federal Office of Justice – FOJ)

Văn phòng Tư pháp Liên bang là cơ quan của Bộ Tư pháp và Cảnh sát Liên bang, chịu trách nhiệm về các vấn đề lập pháp liên quan đến luật hiến pháp và hành chính, luật tư và luật hình sự. Đây là cơ quan cố vấn cho các cơ quan khác trong Chính phủ Thuỵ Sỹ về mọi vấn đề lập pháp và soạn thảo ý kiến tư vấn. Với tư cách là cơ quan giám sát, Văn phòng Tư pháp Liên bang giám sát đăng ký thương mại, đăng ký hộ tịch và đăng ký đất đai, cũng như việc thủ đắc bất động sản của những người cư trú ở bên ngoài Thuỵ Sỹ.

Ở tầm quốc tế, FOJ đại diện cho Thuỵ Sỹ trước Toà án Nhân quyền châu Âu và trước nhiều tổ chức quốc tế. Bên cạnh đó, FOJ là cơ quan trung ương trong các vụ việc liên quan đến bắt cóc trẻ em quốc tế và hợp tác với các cơ quan có thẩm quyền quốc gia và quốc tế trong những vấn đề liên quan đến tương trợ tư pháp và dẫn độ.

Ở tầm quốc gia, FOJ chuẩn bị dự thảo các nghị định trình Hội đồng Liên bang trong những vấn đề liên quan đến kháng cáo hành chính.

Văn phòng Tư pháp Liên bang cũng tư vấn cho các cơ quan khác của Chính quyền Liên bang về tất cả các vấn đề lập pháp.

2. Phòng Tư pháp quốc tế

Phòng Tư pháp quốc tế là cơ quan chuyên môn của Chính phủ Thuỵ Sỹ khi Thuỵ Sỹ tham gia tư pháp quốc tế và thủ tục tố tụng dân sự quốc tế, kể cả liên quan đến luật phá sản. Phòng này cũng ra các tuyên bố về lập trường đối với những vấn đề này để các cơ quan Liên bang khác làm căn cứ. Phòng Tư pháp quốc tế còn là cơ quan trung ương về tương trợ tư pháp dân sự và thu hồi tiền cấp dưỡng quốc tế; tham gia các tổ chức quốc tế trong việc soạn thảo điều ước quốc tế và các luật mẫu, đặc biệt là tại Hội nghị La Hay về Tư pháp quốc tế và Uỷ ban LHQ về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) và trong việc chuẩn bị văn bản quy phạm pháp luật của Thuỵ Sỹ liên quan đến tư pháp quốc tế và thủ tục tố tụng dân sự quốc tế. Phòng Tư pháp quốc tế là cơ quan của Thuỵ Sỹ chịu trách nhiệm báo cáo với UNCITRAL. Phòng Tư pháp quốc tế tổ chức và chủ toạ các uỷ ban thường trực liên quan đến Công ước Lugano về quyền tài phán và thi hành các bản án dân sự và thương mại.

Phòng Tư pháp quốc tế có hai cơ quan trung ương xử lý những vấn đề liên quan đến bảo vệ trẻ em quốc tế. Nếu một đứa trẻ bị bố, mẹ hoặc một thành viên khác trong gia đình trẻ em đó bắt cóc và giam giữ ở nước ngoài thì cơ quan trung ương về xử lý các trường hợp bắt cóc trẻ em quốc tế sẽ làm việc với các đối tác ở các quốc gia ký kết để bảo đảm trẻ em đó được trả lại sớm nhất. Liên quan đến nhận con nuôi quốc tế, được giải quyết theo Công ước La Hay về con nuôi quốc tế, cơ quan trung ương về con nuôi quốc tế là đầu mối liên lạc giữa các cơ quan có thẩm quyền của bang và của nước ngoài. Hồ sơ con nuôi do các bang chuẩn bị sẽ được cơ quan trung ương của Liên bang Thuỵ Sỹ kiểm tra trước khi gửi cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài. Ngược lại, cơ quan trung ương về con nuôi quốc tế cũng chấp nhận các quyết định và tài liệu từ các cơ quan trung ương của nước ngoài và gửi quyết định, tài liệu đó cho các cơ quan trung ương cấp bang để giải quyết.

3. Phòng Pháp luật châu Âu và Nhân quyền quốc tế

Phòng Pháp luật châu Âu và Nhân quyền quốc tế có những nhiệm vụ chính sau đây: một mặt, Phòng soạn thảo và trình các báo cáo định kỳ của Thuỵ Sỹ cho Uỷ ban LHQ về Công ước về các quyền dân sự và chính trị và mặt khác giúp người đứng đầu các cơ quan khác trong việc soạn thảo và trình các báo cáo về việc thực hiện các công ước quốc tế khác về nhân quyền. Phòng này tham gia vào công việc của các uỷ ban chuyên môn trong các tổ chức quốc tế về nhân quyền và hợp tác pháp luật, đặc biệt là các uỷ ban của Hội đồng châu Âu và chuẩn bị cho Bộ trưởng Bộ Tư pháp Thuỵ Sỹ tham dự các hội nghị Bộ trưởng Tư pháp châu Âu. Trưởng Phòng đại diện cho Chính phủ Thuỵ Sỹ (với tư cách là người đại diện của Chính phủ Thuỵ Sỹ) tại Toà án Nhân quyền châu Âu (ECHR) và tại Uỷ ban chống tra tấn của LHQ (CAT).

Bên cạnh đó, Phòng Pháp luật châu Âu và Nhân quyền quốc tế còn xử lý các vấn đề pháp lý phát sinh trong quá trình hội nhập của châu Âu. Phòng này kiểm tra các dự thảo luật và pháp lệnh của Hội đồng Liên bang để bảo đảm phù hợp với luật của châu Âu (đặc biệt là luật của Cộng đồng châu Âu và luật của Hội đồng châu Âu). Ngoài ra, Phòng Pháp luật châu Âu và Nhân quyền quốc tế còn chuẩn bị ý kiến tư vấn và tham gia soạn thảo các đạo luật Liên bang, cũng như các báo cáo và văn bản của Hội đồng Liên bang liên quan đến luật của Cộng đồng châu Âu. Khi thực hiện nhiệm vụ này, Phòng Pháp luật châu Âu và Nhân quyền quốc tế phối hợp chặt chẽ với các văn phòng có liên quan của Chính phủ Liên bang, nhất là Văn phòng Hội nhập và Phòng Pháp luật quốc tế, cũng như với chính quyền bang.

Cuối cùng, Phòng Pháp luật châu Âu và Nhân quyền quốc tế hỗ trợ đại diện được uỷ quyền tại Bộ Tư pháp và Cảnh sát Liên bang (FDJP) trong việc tiếp tục phát triển Công ước Schengen/Dublin.

4. Phòng Điều ước quốc tế

Nhiệm vụ chính của Phòng Điều ước quốc tế là mở rộng khuôn khổ điều ước của Thuỵ Sỹ liên quan đến tương trợ tư pháp về hình sự. Phòng này thẩm tra dự thảo điều ước mà nước ngoài gửi cho Thuỵ Sỹ hoặc tự soạn thảo điều ước của nước mình.

Khuôn khổ về điều ước đang được mở rộng trên toàn thế giới. Ngoài các nước châu Âu lục địa, Thuỵ Sỹ đang đàm phán với các nước thuộc hệ thống pháp luật Anh-Mỹ (như Hoa Kỳ, Canada, Úc), các nước Nam Phi (như Peru và Ecuador), châu Á (như Hồng Kông và Philippines) và châu Phi (như Ai Cập và Ma-rốc). Danh sách các nước ưu tiên đàm phán, ký kết đã được chuẩn bị nhằm giúp xác định nước nào cần phải tiến hành đàm phán trong tương lai.

Ngoài điều ước quốc tế, còn có các công cụ khác dưới luật quốc tế có thể sử dụng, như trao đổi công hàm hoặc thư từ và các bản ghi nhớ chính trị. Những công cụ này được thực hiện ở tầm chính phủ và không cần phải có sự phê chuẩn của Nghị viện Thuỵ Sỹ. Chúng ngày càng được ưu tiên lựa chọn, đặc biệt là trong quan hệ với những nước chưa sẵn sàng tiến hành đàm phán chính thức. Các công cụ kể trên thường là giai đoạn khởi đầu cho một điều ước và bởi vậy đó là sự thể hiện mong muốn mở rộng hợp tác.

Ngoài việc mở rộng khuôn khổ điều ước song phương, Phòng Điều ước quốc tế còn tham gia soạn thảo các văn bản tương trợ tư pháp đa phương và các thoả thuận trên cơ sở từng vụ việc theo quy định của luật hình sự có chứa đựng các quy định về tương trợ tư pháp. Phòng Điều ước quốc tế theo dõi tất cả các vấn đề liên quan đến tương trợ tư pháp quốc tế trong lĩnh vực hình sự, đặc biệt là các vấn đề đã được thảo luận trong khuôn khổ Hội đồng châu Âu, Liên minh châu Âu và LHQ.

Ngoài ra, Phòng Điều ước quốc tế còn thực hiện các dự án lập pháp liên quan đến tương trợ tư pháp hình sự quốc tế. Phòng thực hiện các dự án này từ giai đoạn khởi động cho đến khi được Nghị viện Thuỵ Sỹ phê duyệt. Thí dụ về các dự án loại này bao gồm dự án sửa đổi, bổ sung Luật Liên bang về Tương trợ tư pháp hình sự quốc tế hoặc việc soạn thảo Nghị quyết Liên bang về việc tham gia các toà án quốc tế về truy tố các hành vi vi phạm nhân quyền quốc tế nghiêm trọng nhất, cũng như Luật Liên bang về Hợp tác với Toà án quốc tế .

Cơ sở pháp lý cho tương trợ tư pháp về hình sự là Luật Liên bang ngày 20/03/1981 về Tương trợ tư pháp hình sự quốc tế (IMAC) và Pháp lệnh ngày 24/02/1982 về Tương trợ tư pháp hình sự quốc tế (O-IMAC).

5. Thủ tục đàm phán, ký kết điều ước quốc tế ở Thuỵ Sỹ

a) Các điều ước quốc tế song phương

Sáng kiến đàm phán điều ước quốc tế song phương xuất phát từ các bang. Nếu Phòng Điều ước quốc tế muốn đàm phán một điều ước quốc tế thì trước tiên phải đề nghị Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Cảnh sát cấp giấy uỷ quyền. Giấy uỷ quyền chính thức thường không được cấp cho việc đàm phán liên quan đến tương trợ tư pháp. Nếu chủ đề đàm phán chưa được thống nhất thì cần có thảo luận để xác định việc đàm phán, ký kết điều ước đó có khả thi hay không. Thông thường bước đầu tiên dành cho quốc gia muốn đàm phán đưa ra một đề nghị (dự thảo) làm cơ sở cho việc thảo luận sau khi đã có sự tiếp xúc chính thức với đối tác kia. Trong một số trường hợp, bên đối tác kia sẽ đưa ra một bản đề nghị của mình (đề nghị ngược trở lại).

Vòng đàm phán thứ nhất thảo luận về đề nghị và đề nghị ngược trở lại, cũng như các đề nghị tiếp theo. Rất ít khi các khác biệt giữa hai bên được giải quyết xong trong vòng đàm phán đầu tiên, vì vậy cần phải có các vòng đàm phán tiếp theo. Các vòng đàm phán được tiến hành luân phiên tại hai nước hữu quan. Sau khi hai bên thống nhất về một bản dự thảo điều ước chung, lãnh đạo hai đoàn thường sẽ ký vào từng trang của điều ước. Điều ước sẽ được ký chính thức sau khi dự thảo điều ước được Chính phủ chấp thuận. Ở Thuỵ Sỹ, điều ước còn đòi hỏi phải có sự uỷ quyền của Hội đồng Liên bang. Việc ký điều ước thường được tiến hành nhân dịp chuyến thăm chính thức của một thành viên Hội đồng Liên bang hoặc một đại diện của Chính phủ nước ngoài.

Sau khi điều ước được ký, các quốc gia ký sẽ tiến hành thủ tục phê chuẩn trong nước. Thủ tục này liên quan đến việc dịch nội dung của điều ước ra tất cả các ngôn ngữ chính thức và soạn thảo ý kiến của Hội đồng Liên bang về việc chấp thuận điều ước và trình lên Nghị viện Thuỵ Sỹ. Chỉ sau khi được Hội đồng quốc gia và Hội đồng các bang chấp thuận, điều ước đó mới có thể được phê chuẩn thông qua trao đổi văn kiện phê chuẩn hoặc thông báo rằng các thủ tục phê chuẩn trong nước đã hoàn tất.

b) Các điều ước đa phương

Các điều ước đa phương được xây dựng, đàm phán theo sáng kiến của nhiều tổ chức quốc tế khác nhau, thường bằng một nghị quyết của Đại hội đồng LHQ hoặc bằng một đề nghị gửi cho Hội đồng châu Âu. Dự thảo điều ước được đưa ra bởi chính tổ chức đó hoặc một hoặc nhiều quốc gia đã được hoàn chỉnh qua một số lần đàm phán. Tất cả các quốc gia đều có quyền đưa ra đề nghị và nêu rõ quan điểm của mình. Văn bản cuối cùng của điều ước thường được thông qua chính thức tại một hội nghị cấp bộ trưởng. Trong khuôn khổ Hội đồng châu Âu, đây là nhiệm vụ của các uỷ ban Bộ trưởng, họp mỗi năm hai lần. Sau khi được thông qua, điều ước phải đi qua quy trình ký, chấp thuận và phê chuẩn.

7. Hợp tác của Thuỵ Sỹ với các Toà án hình sự quốc tế

a) Hợp tác với các toà án lâm thời

Trong bối cảnh xung đột tại Nam Tư cũ và Ru-an-đa, Thuỵ Sỹ đã ban hành các quy định về hợp tác với các toà án lâm thời tại La Hay và Arusha (Tanzania) vào năm 1995 trong Nghị quyết Liên bang về Hợp tác với các toà án hình sự quốc tế truy tố các hành vi vi phạm Luật nhân đạo quốc tế nghiêm trọng nhất (SR 351.20). Năm 2003, phạm vi điều chỉnh Nghị quyết này được mở rộng để bao hàm cả việc hợp tác với Toà án đặc biệt về Sierra Leone ở Freetown. Nghị quyết quy định các hình thức hợp tác sau đây

b) Hợp tác với Toà án hình sự quốc tế (Internatinal Criminal Court – ICC)

Cần phải phân biệt giữa các toà án lâm thời chỉ có thẩm quyền xét xử trong một lãnh thổ hay đối với một cuộc xung đột nào đó với Toà án hình sự quốc tế thường trực tại Ha Hay, bắt đầu hoạt động từ 01/7/2002.

Ngày 17/7/1998, một Hội nghị ngoại giao của LHQ gồm các đại sứ đặc mệnh toàn quyền đã thông qua Quy chế Rome thành lập một Toà án hình sự quốc tế thường trực (ICC) có trụ sở tại La Hay. ICC chịu trách nhiệm truy tố và xét xử các vụ án liên quan đến diệt chủng, tội ác chống nhân loại và tội ác chiến tranh. Toà án chỉ tiến hành xét xử khi một quốc gia thành viên không muốn hoặc không đủ khả năng truy tố các tội phạm đó được thực hiện trên lãnh thổ của mình hoặc do công dân mình thực hiện.

Với truyền thống nhân đạo và vai trò của mình với tư cách là nước lưu chiểu các Công ước Geneva, Thuỵ Sỹ đóng vai trò quan trọng trong việc thành lập một toàn án có uy tín và độc lập. Thuỵ Sỹ đã phê chuẩn Quy chế Rome về ICC vào năm 2001 và đồng thời tiến hành sửa đổi pháp luật cần thiết để chuyển hoá quy định của Quy chế Rome vào pháp luật trong nước (ban hành pháp luật Liên bang về Hợp tác với ICC (ZISG, SR 351.6), có hiệu lực từ ngày 01/7/2002). Bước tiếp theo là hiện nay đang tiến hành sửa đổi toàn diện Luật hình sự của Thuỵ Sỹ nhằm bảo đảm cho luật này phù hợp với Quy chế Rome. Đã thành lập một văn phòng trung ương thuộc Văn phòng Tư pháp nhằm bảo đảm việc hợp tác được thực hiện một cách suôn sẻ.

8. Mở rộng khuôn khổ điều ước quốc gia về tương trợ tư pháp hình sự quốc tế

Công nghệ tiên tiến hiện nay đang khiến cho tội phạm ngày càng mang tính quốc tế sâu sắc. Thông thường, chứng cứ hoặc nghi can không có mặt tại nước hoặc vùng lãnh thổ có thẩm quyền truy tố. Điều này có nghĩa là sự thành công của bất kỳ cuộc điều tra tầm quốc gia nào đều có thể bị ảnh hưởng nếu thiếu sự hỗ trợ của các quốc gia khác. Vì vậy, sự tương trợ giữa các cơ quan truy tố ngày càng trở nên quan trọng.

Hơn nữa, trong nhiều trường hợp, không thể tiến hành thủ tục tố tụng hình sự tại một nước cụ thể hoặc thi hành các bản án tại nước đã ra bản án đó. Do đó, các cơ quan xét xử và thi hành án trong các trường hợp như vậy cũng phải dựa vào sự hợp tác với các nước khác.

9. Lý do soạn thảo điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp hình sự

Theo quy định của Luật Liên bang về tương trợ tư pháp hình sự quốc tế, Thuỵ Sỹ có thể hợp tác với các nước khác thậm chí khi không có điều ước theo pháp luật quốc tế. Tuy nhiên, các điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp cần phải được ký kết.

Trong số các lý do ký kết có các lý do sau đây:

• Một số quốc gia không thể yêu cầu / thực hiện tương trợ tư pháp nếu thiếu điều ước quốc tế

• Cách thức duy nhất để giải quyết vấn đề tương trợ tư pháp là thông qua kênh hợp tác song phương

• Vệc tương trợ tư pháp quy mô lớn, đặc biệt là đối với những nước có mối quan hệ chặt chẽ, đòi hỏi thủ tục tương trợ đơn giản

• Các tiêu chuẩn quốc gia sẽ được hài hoà hoặc quy định có hiệu quả hơn trong các điều ước đa phương.

10. Các lĩnh vực tương trợ tư pháp hình sự quốc tế

Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực hình sự được chia thành các lĩnh vực sau đây:

• Dẫn độ

• Tương trợ về các vấn đề nhỏ hoặc phụ (đặc biệt là phỏng vấn nhân chứng hoặc bị cáo, tống đạt giấy triệu tập hoặc bản án, thu thập chứng cứ hoặc giao tài sản)

• Truy tố thay mặt cho quốc gia khác

• Thi hành quyết định của cơ quan tư pháp (kể cả trục xuất người bị kết án về nước gốc)

11. Tương trợ tư pháp

Đơn đề nghị tương trợ tư pháp quốc tế do Văn phòng Tư pháp nhận, kiểm tra sơ bộ và sau đó được chuyển cho các cơ quan có thẩm quyền bang hoặc liên bang thực hiện. Văn phòng Tư pháp tự mình có thể quyết định chấp nhận và thi hành các biện pháp tương trợ tư pháp nếu đó là vụ án phức tạp hoặc đặc biệt quan trọng hoặc nếu đơn đề nghị tương trợ yêu cầu tiến hành điều tra tại nhiều bang. Bản án đã có hiệu lực pháp luật có thể bị kháng cáo lên Toà án tối cao Liên bang Thuỵ Sỹ.

12. Các biện pháp điều tra đặc biệt

Theo các quy định của Thuỵ Sỹ về hợp tác tư pháp song phương, có rất ít cơ hội cho cơ quan yêu cầu tiến hành các cuộc điều tra dự định (như lấy lời khai của người làm chứng) một cách trực tiếp và độc lập trên lãnh thổ chủ quyền của Thuỵ Sỹ. Nghị quyết Liên bang năm 1995 có thoáng hơn trong vấn đề này và quy định Bộ Tư pháp và Cảnh sát Liên bang (FDJP) cho phép thực hiện những hành vi tố tụng đó trên lãnh thổ Thuỵ Sỹ. Đến nay, FDJP đã thực hiện tất cả các yêu cầu hợp tác của các toà án lâm thời. Cách tiếp cận này cho phép đáp ứng tốt hơn các yêu cầu chính thức của các toà án quốc tế trong khi vẫn bảo vệ được quyền lợi của người làm chứng.

13. Chuyển giao

FOJ ra lệnh bắt và lệnh chuyển giao (dẫn độ) và quyết định có chuyển giao hay không chuyển giao người bị yêu cầu dẫn độ cho Toà án hình sự quốc tế. Ở Thuỵ Sỹ, chỉ được kháng cáo bản án phạt tù trong quá trình tiến hành thủ tục chuyển giao không được quyền kháng cáo đối với quyết định chuyển giao. Người bị yêu chuyển giao chỉ có thể khiếu nại về thẩm quyền xét xử của Toà án hình sự quốc tế khi họ xuất hiện trước Toà. Nếu công dân Thuỵ Sỹ được chuyển giao cho Toà án thì FOJ sẽ đề nghị trao trả lại người đó cho Thuỵ Sỹ để chấp hành hình phạt của họ sau khi việc xét xử tại Toà án kết thúc.

14. Dẫn độ

a) Định nghĩa:

Dẫn độ là việc quốc gia được yêu cầu giao nộp bằng biện pháp cưỡng chế người bị truy nã cho quốc gia yêu cầu. Dẫn độ nhằm mục đích:

• Truy tố

Ví dụ: Cơ quan điều tra đang tiền hành điều tra đối với một người phạm tội cổ cồn trắng. Nếu người đó không có mặt tại cơ quan điều tra thì sẽ bị đưa vào danh sách truy nã ở trong nước và ở nước ngoài. Nếu người này bị bắt ở nước ngoài thì việc dẫn độ người đó có thể được yêu cầu nhằm mục đích kết thúc việc khởi tố và đưa ra toà xét xử,

hoặc để thi hành hình phạt tước quyền tự do

Ví dụ: Một người buôn bán ma tuý, bị kết án và phạt tù giam nhưng đã bỏ trốn khỏi nơi giam giữ. Người đó đã bị đưa vào danh sách truy nã ở trong nước và ở nước ngoài. Nếu bị bắt ở nước ngoài thì quốc gia liên quan có thể yêu cầu dẫn độ người đó để chấp hành hình phạt tù còn lại.

Dẫn độ cần được phân biệt với trục xuất và đẩy đuổi:

– Trục xuất là biện pháp nghiêm khắc nhất được áp dụng đối với người nước ngoài theo lệnh của Cảnh sát về người nước ngoài và có nghĩa là người đó không còn được phép lưu lại lãnh thổ Thuỵ Sỹ. Trục xuất được áp dụng nhằm bảo đảm an ninh của nước nơi người bị trục xuất cư trú và được quyết định không cần có yêu cầu của một nước thứ ba.

– Nếu người nước ngoài đã bị trục xuất nhưng không chấp hành nghĩa vụ rời khỏi Thuỵ Sỹ thì có thể bị đẩy đuổi; tức là cảnh sát tổ chức và giám sát việc người đó rời khỏi Thuỵ Sỹ.

b) Thủ tục dẫn độ ở Thuỵ Sỹ

• Căn cứ pháp lý

Thủ tục dẫn độ ở Thuỵ Sỹ được quy định trong Luật Liên bang về tương trợ tư pháp hình sự quốc tế (IMAC, SR 351.1). Thuỵ Sỹ đã ký kết hiệp định dẫn độ với hầu hết các nước châu Âu và nhiều nước khác. IMAC cho phép dẫn độ khi giữa Thuỵ Sỹ và nước ngoài chưa có điều ước.

Các điều ước trước đây về dẫn độ chứa đựng một danh sách các tội phạm bị dẫn độ. Ngược lại, các điều ước hiện nay, như Công ước châu Âu về dẫn độ quy định việc dẫn độ chỉ được phép nếu tội phạm nêu trong yêu cầu dẫn độ có thể bị xử phạt tước quyền tự do trong một thời hạn tối thiểu nào đó (trên một năm) và hình phạt đã tuyên phải có thời hạn tối thiểu nào đó (bốn tháng).

Bị coi là tội phạm bị dẫn độ nếu hành vi mà người phạm tội đã thực hiện có thể bị xử phạt ở cả nước yêu cầu và nước được yêu cầu dẫn độ (nguyên tắc phạm tội kép hay còn gọi là nguyên tắc cùng hình sự hoá). Tên tội (tội danh) không nhất thiết phải như nhau ở hai quốc gia; ví dụ: Tội trộm cắp tài sản được thực hiện ở nước ngoài có thể có tên gọi là tội tham ô hay biển thủ trong Bộ luật hình sự của Thuỵ Sỹ).

Theo quy tắc đặc biệt (the rule of speciality), quyết định cho phép dẫn độ chỉ có hiệu lực đối với những tội nêu trong yêu cầu cầu dẫn độ. Vì vậy, người bị dẫn độ chỉ có thể bị truy tố, giam giữ hoặc bị dẫn độ cho quốc gia thứ ba về các tội được thực hiện trước khi người đó bị giao nộp nếu có sự đồng ý của quốc gia được yêu cầu. Pháp luật của nhiều quốc gia cho phép người bị yêu cầu dẫn độ từ bỏ quy tắc đặc biệt.

Nếu nhiều quốc gia yêu cầu dẫn độ cùng một người thì người đó có thể bị dẫn độ cho tất cả các quốc gia đó với điều kiện đáp ứng đầy đủ các điều kiện. Không có quy định cụ thể trong các điều ước dẫn độ về thứ tự ưu tiên dẫn độ trong trường hợp nhiều nước yêu cầu dẫn độ cùng một người. Khi quyết định sẽ dẫn độ cho nước nào, quốc gia được yêu cầu cân nhắc tính chất nghiêm trọng của các tội phạm, nơi thực hiện tội phạm, ngày gửi yêu cầu dẫn độ và khả năng dẫn độ tiếp theo. Nước mà người đó mang quốc tịch là điểm cuối cùng cần cân nhắc nếu đó là nước không dẫn độ công dân của mình.

• Khám xét và bắt người

Theo nguyên tắc, thủ tục dẫn độ ở Thuỵ Sỹ bắt đầu sau khi nhận được yêu cầu khám xét của Văn phòng Interpol quốc gia hoặc Bộ Tư pháp nước ngoài. Văn phòng Tư pháp (Phòng dẫn độ) kiểm tra tính hợp lệ của yêu cầu dẫn độ. Nếu biết được nơi ở của người bị dẫn độ tại Thuỵ Sỹ, Văn phòng Tư pháp (FOJ) ra lệnh cho lực lượng cảnh sát có thẩm quyền bắt người bị truy nã. Nếu không biết thì FOJ ghi tên người bị yêu cầu dẫn độ vào hệ thống tìm kiếm được vi tính hoá “ RIPOL” để bắt.

Cảnh sát bắt người bị truy nã và thông báo ngay cho FOJ. Khi tiến hành bắt, cảnh sát đồng thời thu giữ chứng cứ và tài sản do phạm tội mà có.

Có thể tiến hành thủ dẫn độ tục đơn giản nếu người bị bắt tuyên bố tại cuộc họp xem xét việc dẫn độ rằng người đó đồng ý bị dẫn độ ngay. FOJ được thông báo ngay về sự đồng ý đó của người bị yêu cầu dẫn độ và FOJ có thể, căn cứ vào sự đồng ý đó, cho phép dẫn độ và ra lệnh giao nộp người đó. Trong những trường hợp nhanh nhất, thủ tục dẫn độ đơn giản có thể được thực hiện chỉ trong vài giờ.

• Xử lý yêu cầu dẫn độ

Nếu người bị yêu cầu dẫn độ phản đối việc dẫn độ thì FOJ sẽ ra lệnh dẫn độ. Cùng lúc đó FOJ đề nghị quốc gia yêu cầu gửi yêu cầu dẫn độ chính thức. Theo quy định, quốc gia yêu cầu phải gửi yêu cầu dẫn độ chính thức cho FOJ trong thời hạn 18 ngày ngày. Thời hạn này có thể được gia hạn đến 40 ngày.

Thẩm phán điều tra hoặc cảnh sát bang xuất trình lệnh dẫn độ của FOJ cho người bị yêu cầu dẫn độ và ghi biên bản cuộc họp xem xét dẫn độ (thủ tục bằng lời – procès-verbal). Người bị yêu cầu dẫn độ có quyền liên hệ với đại diện cơ quan lãnh sự nước mình. Người đó có thể khiếu nại lệnh dẫn độ của Thuỵ Sỹ lên Toà án hình sự Liên bang; quyết định của Toà này có thể bị kháng cáo tiếp lên Toà án tối cao Liên bang. Người bị yêu cầu dẫn độ cũng có thể làm đơn xin trả tự do bất cứ lúc nào.

Nếu FOJ nhận được yêu cầu dẫn độ chính thức đúng thời hạn thì thời hạn tạm giam chờ dẫn độ được gia hạn cho đến khi kết thúc thủ tục dẫn độ. Nếu chấp nhận yêu cầu dẫn độ thì FOJ sẽ gửi yêu cầu dẫn độ cho bang có thẩm quyền để xem xét việc dẫn độ. Cơ quan có thẩm quyền của bang sẽ nghe người bị yêu cầu dẫn độ trình bày ý kiến của mình, sau đó giải thích cho người bị yêu cầu dẫn độ về thủ tục dẫn độ và ghi biên bản cuộc họp xem xét yêu cầu dẫn độ (procès-verbal).

Căn cứ vào biên bản cuộc họp và ý kiến của người bào chữa cho người bị yêu cầu dẫn độ, FOJ có thể ra quyết định dẫn độ. FOJ kiểm tra xem các điều kiện chính thức và cần thiết đã được đáp ứng hay chưa. FOJ sẽ xác định rõ là hành vi mà người bị yêu cầu dẫn độ bị cáo buộc có bị xử phạt theo pháp luật Thuỵ Sỹ hay không. Việc có tội hay vô tội và các tình tiết của vụ án sẽ không được quyết định trong thủ tục dẫn độ, có nghĩa là FOJ không kiểm tra xem người bị yêu cầu dẫn độ đã thực sự phạm tội nêu trong yêu cầu dẫn độ hay không.

Sau đó FOJ sẽ chính thức xuất trình quyết định dẫn độ của mình cho người bị yêu cầu dẫn độ. Nếu trong thời hạn 5 ngày mà người đó không tuyên bố sẽ khiếu nại thì việc dẫn độ được tiến hành. Người bị yêu cầu dẫn độ có thể kháng nghị lên Toà án hình sự Liên bang trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được tống đạt quyết định dẫn độ. Toà án hình sự Liên bang xem xét, quyết định về khiếu nại sau khi FOJ gửi ý kiến bằng văn bản của mình. Trong các trường hợp đặc biệt quan trọng, quyết định của Toà án hình sự Liên bang bị kháng cáo lên Toá án tối cao Liên bang.

• Thi hành

Nếu việc dẫn độ được cho phép thì FOJ ra lệnh thi hành. Liên quan đến các quốc gia láng giềng, theo quy định, người bị dẫn độ sẽ bị giao nộp tại biên giới. Việc giao nộp cho các quốc gia khác được thực hiện bằng đường hàng không; trong trường hợp này, người đó sẽ bị giao nộp cho hai sỹ quan cảnh sát của quốc gia yêu cầu tại một sân bay Thuỵ Sỹ.

Quốc gia yêu cầu phải nhận người đó trong thời hạn 10 ngày; trong các trường hợp ngoại lệ, thời hạn này có thể kéo dài thêm đến 30 ngày sau khi gửi thông báo về lệnh thi hành dẫn độ. Đồ vật và tài sản là chứng cứ hoặc do phạm tội mà có có thể được chuyển giao cùng lúc với việc giao nộp người bị dẫn độ.

Trong trường hợp xấu – nhất là trong các vụ án đặc biệt phức tạp liên quan đến tội phạm cổ cồn trắng và khi tất cả các thủ tục kháng nghị, kháng cáo đã được sử dụng, thủ tục dẫn độ bình thường có thể kéo dài hơn một năm.

• Yêu cầu dẫn độ của Thuỵ Sỹ

Các cơ quan có thẩm quyền của Thuỵ Sỹ, như FOJ (Phòng Dẫn độ) theo đề nghị của một cơ quan truy tố của bang hoặc Công tố viên của Liên bang, có thể bắt đầu thủ tục dẫn độ bằng một yêu cầu khám xét. Yêu cầu này do Intepol gửi đi và có thể được gửi trực tiếp cho nước nơi biết hoặc khả nghi là người bị truy nã đang có mặt.

Yêu cầu dẫn độ chính thức phải được gửi cho quốc gia được yêu cầu trong thời hạn quy định nếu người bị truy nã đã bị bắt. Thời hạn này dao động từ 18 ngày (Công ước châu Âu về Dẫn độ) đến 40 ngày (Hiệp định mới về Dẫn độ với Hoa Kỳ). FOJ lập yêu cầu dẫn độ của Thuỵ Sỹ dựa trên đề nghị của cơ quan có thẩm quyền của bang hoặc của Phòng Công tố Liên bang chịu trách nhiệm về nội dung của yêu cầu dẫn độ. FOJ hướng dẫn các cơ quan có thẩm quyền đó về nội dung và hình thức yêu cầu dẫn độ và là cơ quan trung gian làm việc với các cơ quan có thẩm quyền nước ngoài.

Yêu cầu dẫn độ gồm một công hàm ngoại giao của Đ ại sứ quán Thuỵ Sỹ tại quốc gia được yêu cầu (trong trường hợp liên hệ trực tiếp: Thư của FOJ gửi cho Bộ Tư pháp nước ngoài) và các tài liệu kèm theo yêu cầu: Lệnh bắt hoặc bản án, tài liệu riêng trình bày về tính tiết vụ án, các điều luật được áp dụng của Bộ luật hình sự v.v Ngoài ra, nhiều nước theo hệ thống pháp luật án lệ còn yêu cầu phải có hồ sơ chứng cứ trong đó bao gồm mọi lời khai của nhân chứng và các chứng cứ khác về nguyên nhân phạm tội của người bị yêu cầu dẫn độ.

Thủ tục dẫn độ ở nước ngoài được quy định trong pháp luật của quốc gia được yêu cầu. Có nhiều điểm khác biệt trong thủ tục này ở các nước khác nhau: tại một số nước thủ tục dẫn độ hoàn toàn do toà án tiến hành, nhưng ở các nước khác có sự phân chia vai trò giữa toà án và các cơ quan hành chính. Thủ tục thi hành dẫn độ (giao nộp) thì giống như ở Thuỵ Sỹ.

• Từ chối Dẫn độ

Thuỵ Sỹ không cho phép dẫn độ đối với các tội phạm chính trị (ví dụ, thành viên trong một đảng bất hợp pháp). Diệt chủng, không tặc hoặc bắt cóc con tin không được coi là tội phạm chính trị. Dẫn độ cũng bị từ chối nếu thủ tục tố tụng ở nước ngoài trái với các nguyên tắc của Công ước châu Âu về Nhân quyền hoặc được tiến hành nhằm truy tố hoặc trừng phạt một người ví lý do chính kiến, thành phần xã hội, quốc tịch, chủng tộc hoặc tôn giáo của người đó. Mặc dù vấn đề tội phạm chính trị đã được kiểm tra trong thủ tục dẫn độ nhưng các cơ quan chức năng quyết định vấn đề cư trú chính trị sẽ ra một quyết định riêng biệt.

Tội phạm chính trị thuần tuý được loại trừ khỏi việc dẫn độ. Tội phạm quân sự cũng vậy, ví dụ không tuân lệnh hoặc đào ngũ. Tội phạm hình sự thông thường (ví dụ như hiếp dâm) được thực hiện bởi một thành viên thuộc lực lượng vũ trang không được coi là tội phạm quân sự.

Dẫn độ cũng bị từ chối đối với tội phạm về tài chính khi tội phạm đó được thực hiện nhằm mục đích giảm tiền thuế phải nộp. Gian lận để được hưởng trợ cấp (ví dụ nhận được khoản tiền thanh toán bất hợp pháp từ Nhà nước bằng thủ đoạn khai man) không được coi là tội phạm về tài chính.

Giống như hầu hết các quốc gia châu Âu khác, Thuỵ Sỹ bảo lưu quyền từ chối dẫn độ công dân của mình.

Theo nguyên tắc, thủ tục tố tụng hình sự đã bị đình chỉ đối với cùng tội phạm đó tại quốc gia được yêu cầu sẽ có hiệu lực hơn so với việc dẫn độ. Nếu tội phạm đó đã bị kết án tại quốc gia được yêu cầu (nguyên tắc không xét xử hai lần về cùng một tội phạm “non bis in idem”), thì việc dẫn độ cũng bị từ chối. Ngoài ra, dẫn độ sẽ bị từ chối nếu người bị yêu cầu dẫn độ không thể bị truy tố do hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

15. Các hình thức hợp tác khác

FOJ đã nhận được đề nghị về các hình thức hợp tác khác (ghi băng, ghi hình chứng cứ, kể cả lời khai của người làm chứng, hỏi bị can, khám xét và thu giữ, tống đạt giấy tờ v.v). FOJ sẽ xác định việc hợp tác có được phép hay không, tiến hành các công việc cần thiết và uỷ quyền cho một cơ quan có thẩm quyền của bang hoặc của Liên bang thực hiện đề nghị hợp tác. Những người bị cáo buộc trước Toà án không được quyền đòi bồi thường. Chỉ những người khác bị ảnh hưởng bởi các biện pháp tương trợ tư pháp quốc tế mới có quyền khiếu nại quyết định cuối cùng của FOJ. Bản thân FOJ có thể cho phép tiến hành điều tra trên lãnh thổ chủ quyền của Thuỵ Sỹ.

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ

Trích dẫn từ:

http://www.nclp.org.vn/kinh_nghiem_quoc_te/vai-tro-chuc-nang-cua-bo-tu-phap-lien-bang-thuy-sy-trong-viec-tham-gia-ky-ket-gia-nhap-va-thuc-hien-cac-111ieu-uoc-quoc-te-ve-hop-tac-phap-luat-va-tu-phap

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: