Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ PHÁP ĐIỂN HÓA

THS. HOÀNG MINH HIẾU – Trung tâm thông tin, thư viện và nghiên cứu khoa học, Văn phòng Quốc hội

THS. DƯƠNG BẠCH LONG – Viện Khoa học pháp lý Bộ Tư pháp

TS. NGUYỄN HỮU HUYÊN -Vụ Hợp tác quốc tế Bộ Tư pháp

1 GIỚI THIỆU

1.1 Bối cảnh

Trong những năm gần đây, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc đổi mới hệ thống pháp luật của mình. Một trong những mục tiêu của công cuộc cải cách pháp luật ở Việt Nam được xác định tại Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 là “xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch”[1].

Để đảm bảo thực hiện mục tiêu này, trong thời gian vừa qua, nhiều phương pháp và kỹ thuật lập pháp mới đã được đưa vào áp dụng. Chẳng hạn, Quốc hội đã sử dụng kỹ thuật dùng một luật sửa đổi, bổ sung nhiều luật để đảm bảo sự đồng bộ của các quy định pháp luật; Ủy ban Tư pháp của Quốc hội cũng đã được thành lập nhằm san sẻ bớt công việc của Ủy ban Pháp luật để Ủy ban Pháp luật tập trung nhiều hơn vào việc bảo đảm tính thống nhất của hệ thống; các văn bản quy phạm pháp luật được yêu cầu phải được đăng công báo mới có hiệu lực (Điều 78, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008) v.v….

Trong những nỗ lực nói trên, việc quyết định các văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi, bổ sung phải được hợp nhất và các quy phạm pháp luật phải được rà soát, pháp điển hóa theo từng chủ đề theo quy định tại Điều 92 và 93 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật là một trong những bước đi có tính đột phá. Kỹ thuật hợp nhất và pháp điển hóa theo nghĩa hiện đại sẽ được áp dụng tại Việt Nam để đảm bảo tính thống nhất, minh bạch và đơn giản hóa của hệ thống pháp luật.

Tuy nhiên, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 chỉ mới dừng lại ở việc quy định: “quy phạm pháp luật phải được rà soát, tập hợp, sắp xếp thành bộ pháp điển theo từng chủ đề” mà chưa quy định cụ thể cách thức, trách nhiệm và quy trình, thủ tục tiến hành pháp điển hóa. Hơn thế nữa, như đã nói ở trên, pháp điển hóa theo nghĩa sắp xếp các quy phạm hiện hành thành các bộ pháp điển theo chủ đề là một công việc hoàn toàn chưa có tiền lệ ở Việt Nam nên chắc chắn việc thực hiện trên thực tế sẽ gặp nhiều lúng túng.

Trong bối cảnh đó, tổ chức thí điểm hoạt động pháp điển hóa là một việc hết sức cần thiết. Thông qua hoạt động này, kinh nghiệm pháp điển hóa ở các nước đi trước, đặc biệt là ở Cộng hòa Pháp, sẽ được áp dụng thử nghiệm vào thực tế khuôn khổ và điều kiện pháp luật Việt Nam để từ đó xác định những điểm thuận lợi, khó khăn nhằm có những bước đi phù hợp trong tương lai.

1.2 Mục tiêu của Dự án hỗ trợ thể chế cho Việt Nam (ISP)

Dự án Hỗ trợ thể chế cho Việt Nam (ISP) do Hội đồng Châu Âu tài trợ với mục tiêu tổng thể là đóng góp vào Chiến lược xóa đói giảm nghèo của Chính phủ Việt Nam, hỗ trợ các công cuộc cải cách đang được tiến hành ở Việt Nam hướng tới nền quản trị công minh bạch, hiệu quả dựa trên các nguyên tắc của nhà nước pháp quyền.

Mục tiêu cụ thể của dự án là nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả của hệ thống cơ quan dân cử (Quốc hội, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh) và cơ quan pháp luật/tư pháp (Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao) nhằm đáp ứng các điều kiện hội nhập quốc tế và chuyển sang nền kinh tế thị trường của đất nước.

1.3 Mục tiêu của hoạt động xây dựng thí điểm Bộ pháp điển về tổ chức và hoạt động của Quốc hội (A.1.5)

Mục tiêu của hoạt động này là thí điểm xây dựng một bộ pháp điển về tổ chức và hoạt động của Quốc hội được thiết kế một cách khoa học, thuận tiện trong việc tra cứu, ứng dụng và có thể dễ dàng được cập nhật, bổ sung theo kỹ thuật pháp điển hiện đại trên cơ sở kinh nghiệm của Cộng hòa Pháp.

1.4 Sản phẩm dự kiến của hoạt động

1. Bộ pháp điển về tổ chức và hoạt động của Quốc hội

2. Phần mềm Magi-VN hỗ trợ cho việc pháp điển hóa.

3. Báo cáo về quá trình xây dựng bộ pháp điển trong đó mô tả quá trình thực hiện công việc, các khó khăn, thách thức và các khuyến nghị cho công tác pháp điển hóa ở Việt Nam.

1.5 Nhiệm vụ của nhóm chuyên gia trong nước

Trong khuôn khổ hoạt động A.1.5, các chuyên gia tư vấn trong nước thực hiện các nhiệm vụ sau đây:

1) Tiếp thu kinh nghiệm và cách thức pháp điển hóa hiện đại của Cộng hòa Pháp và đề xuất phương pháp, các công cụ thực hiện bài tập pháp điển hóa phù hợp với điều kiện của Việt Nam;

2) Thí điểm xây dựng bộ pháp điển về tổ chức và hoạt động của Quốc hội;

3) Phối hợp với chuyên gia nước ngoài xây dựng báo cáo tổng kết hoạt động của nhóm chuyên gia hỗ trợ kỹ thuật thực hiện bài tập pháp điển hóa;

4) Tiến hành chuyển giao kiến thức và kinh nghiệm thu nhận được trong quá trình thực hiện thí điểm bài tập pháp điển hóa trong các trường hợp cần thiết.

2 NHU CẦU PHÁP ĐIỂN HÓA HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM

2.1 Sự cần thiết phải thực hiện pháp điển hóa ở Việt Nam

Cho đến nay, nhu cầu pháp điển hóa các văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam đã được ghi nhận trong nhiều văn bản về chính sách và văn bản pháp luật. Gần đây nhất, Điều 93 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 đã xác định: "Quy phạm pháp luật phải được rà soát, tập hợp, sắp xếp thành bộ pháp điển theo từng chủ đề. Việc pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định"

Qua quá trình nghiên cứu, nhóm chuyên gia trong và ngoài nước đánh giá nhu cầu pháp điển hóa ở Việt Nam xuất phát từ một số nguyên nhân sau đây:

– Thứ nhất, tình trạng lạm phát văn bản

Số lượng văn bản quy phạm pháp luật được ban hành ở nước ta từ khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập (tháng 9-1945) đến nay là rất lớn. Thống kê theo Cơ sở dữ liệu của Văn phòng Quốc hội, cho đến đầu tháng 2 năm 2009, tổng số văn bản quy phạm đã được ban hành vẫn còn hiệu lực thi hành là 19.095 văn bản[2].

Đáng chú ý hơn, trong thời gian gần đây, số lượng văn bản quy phạm pháp luật ngày càng có xu hướng tăng lên. Điều này được thể hiện qua số lượng các số công báo được xuất bản trong thời gian gần đây. Số liệu thống kê cho thấy số lượng bản công báo trong năm 2007 đã tăng gấp gần 20 lần so với số lượng bản công báo được ban hành trong năm 2000.

Biểu đồ 1: Số lượng bản công báo trong giai đoạn từ 2000 đến 2007[3]

clip_image002

Số lượng văn bản quy phạm pháp luật tăng cao làm cho việc tiếp cận và áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật trở nên khó khăn hơn. Trong một số lĩnh vực pháp luật, số lượng văn bản được ban hành được đánh giá là ở mức “lạm phát”, vượt quá nhu cầu điều chỉnh và áp dụng pháp luật. Chẳng hạn, trong lĩnh vực pháp luật đầu tư, một thống kê vào tháng 4 năm 2008 cho thấy số lượng văn bản ở mức 134 văn bản với tổng cộng khoảng 3.471 trang giấy[4].

Thứ hai, việc xác định các quy phạm còn có hiệu lực gặp nhiều khó khăn

Với số lượng các văn bản quy phạm pháp luật ngày càng nhiều lại không được hệ thống hóa, pháp điển hóa dẫn đến tình trạng khó khăn trong việc xác định các quy định nào của các văn bản quy phạm pháp luật là các quy định hiện hành và đang được áp dụng ở Việt Nam. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta được đánh giá như một “rừng luật” với hệ thống văn bản nhiều tấc nấc, khó xác định được hiệu lực của các quy phạm. Nhiều luật gia ở Việt Nam đã cho rằng việc ban hành tràn lan các văn bản quy phạm pháp luật với gần 200 văn bản luật, 100 văn bản pháp lệnh và gần 10.000 văn bản dưới luật, đã làm biến dạng và chồng chéo, giẫm chân lên nhau giữa các văn bản này[5]. Điều này có nguy cơ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguyên tắc “ai cũng phải biết pháp luật” vì người dân không có điều kiện dễ dàng để tiếp cận và hiểu rõ những đạo luật nào đang điều chỉnh các hành vi của họ.

Thứ ba, nhu cầu sử dụng và tìm hiểu các quy định của pháp luật tăng cao

Trong thời kỳ áp dụng nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung (trước 1986), các quan hệ dân sự, kinh tế không phát triển nên hệ thống pháp luật Việt Nam chủ yếu bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý nhà nước và hành chính, hình sự. Do cơ chế quản lý kinh tế theo chỉ tiêu, kế hoạch nên trong giai đoạn này một số ngành luật và chế định pháp luật đã không có điều kiện phát triển như Luật thương mại, Luật chứng khoán, Luật đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, Luật doanh nghiệp, Luật sở hữu trí tuệ… Nhu cầu áp dụng pháp luật trong các hoạt định kinh tế, dân sự, vì vậy, cũng chỉ ở mức hạn chế.

Trong thời kỳ đổi mới, hệ thống pháp luật Việt Nam đã có sự phát triển mới, cân đối và toàn diện hơn nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Từ đó, Việt Nam đã và đang xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật của mình theo hướng phát triển toàn diện, xây dựng khuôn khổ pháp luật thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và tương thích với các chuẩn mực quốc tế. Trong quá trình đó, mọi quan hệ kinh tế, dân sự đều đòi hỏi phải được điều chỉnh bởi một khuôn khổ pháp luật nhất định. Nhu cầu tìm hiểu và áp dụng các quy phạm pháp luật của các chủ thể trong xã hội, vì vậy, cũng trở nên bức thiết hơn. Đây là một trong những áp lực đòi hỏi nhà nước phải xây dựng một hệ thống văn bản quy phạm có hệ thống hơn, dễ tiếp cận và dễ áp dụng hơn đối với người dân.

Thứ tư, đòi hỏi về một hệ thống pháp luật công khai, minh bạch, dễ tiếp cận

Xây dựng một hệ thống pháp luật công khai, minh bạch dễ tiếp cận là một bộ phận quan trọng trong tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Đây là đòi hỏi cơ bản của việc thực hiện chủ trương dân chủ, theo đúng đường lối “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” của Đảng và Nhà nước ta.

Bên cạnh đó, trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã ký kết và tham gia nhiều hiệp định, thỏa thuận quốc tế mà trong đó có những cam kết liên quan đến việc minh bạch hóa hệ thống pháp luật. Chẳng hạn, Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ và các Cam kết gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) của Việt Nam đều có những quy định về việc Việt Nam sẽ thực hiện việc công khai và minh bạch hóa hệ thống pháp luật của Việt Nam. Riêng Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ đã dành cả Chương IV để quy định về các yêu cầu công khai, minh bạch hóa hệ thống pháp luật của hai bên.

Để đảm bảo tính công khai, minh bạch của hệ thống pháp luật thì việc pháp điển hóa các quy phạm pháp luật là một trong những biện pháp hữu hiệu. Như sẽ phân tích dưới đây, lợi ích của pháp điển hóa là sẽ làm cho việc tiếp cận và tìm hiểu, áp dụng pháp luật trở nên dễ dàng hơn.

2.2 Các lợi ích của việc pháp điển hóa

Theo kinh nghiệm của nhiều nước, pháp điển hóa theo nghĩa sắp xếp các quy phạm pháp luật hiện hành thành các bộ pháp điển theo từng chủ đề đưa lại nhiều lợi ích cho quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật của các quốc gia. Trong trường hợp của Việt Nam, các lợi ích có thể dễ dàng nhận thấy trong việc thực hiện pháp điển hóa là:

Thứ nhất, nâng cao tính thống nhất của các quy định pháp luật

Khi sắp xếp các quy phạm pháp luật về cùng một vấn đề trong các chương hoặc các phần đã được tổ chức một cách lô gích của Bộ Pháp điển, tính thống nhất giữa các quy định pháp luật sẽ được nâng cao.

Quá trình xem xét, rà soát các quy định pháp luật về cùng một nội dung có tác dụng phát hiện và chỉnh sửa những điểm chồng chéo, mẫu thuẫn giữa các quy định này. Chẳng hạn, trong quá trình rà soát các quy định về tổ chức và hoạt động của Ủy ban thường vụ Quốc hội, có thể dễ dàng phát hiện có những điểm không thống nhất giữa Luật ban hành quy phạm pháp luật năm 2008 và Quy chế hoạt động của Ủy ban thường vụ Quốc hội năm 2003 về trình tự, thủ tục Uỷ ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội trước khi trình Quốc hội. Trong khi Điều 45 của Quy chế yêu cầu Ủy ban thường vụ Quốc hội đưa ra kết luận dựa trên việc các thành viên Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua kết luận theo tóm tắt của Chủ toạ phiên họp, thì Điều 48 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật lại chỉ yêu cầu Chủ tọa phiên họp kết luận ý kiến của UBTVQH về dự án luật, nghị quyết của Quốc hội. Rõ ràng giữa hai quy định này chưa có sự thống nhất. Vì vậy, quá trình pháp điển hóa có thể đưa ra các đề xuất, chỉnh sửa để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.

Thứ hai, duy trì tính hệ thống của hệ thống pháp luật

Theo cách thức pháp điển này, phần lớn các quy phạm pháp luật sẽ được sắp xếp vào các bộ luật với phạm vi nội dung được xác định rõ ràng, ổn định, có tính hệ thống cao. Chẳng hạn như ở Hoa Kỳ, bộ pháp điển được xác định gồm 50 đề mục, bao quát hầu hết các lĩnh vực pháp luật. Trong hệ thống đó, các bộ pháp điển sẽ được cập nhật và sửa đổi một cách liên tục, thường xuyên gắn bó với tiến trình hoạt động lập pháp. Vì vậy, hệ thống pháp luật sẽ có tính khoa học, có tính hệ thống cao bao gồm các quy định pháp luật đang có hiệu lực áp dụng và được cập nhật một cách thường xuyên.

Thứ ba, tiện lợi trong việc tìm kiếm và áp dụng pháp luật

Việc sắp xếp các quy định hiện hành vào các bộ pháp điển một cách có tổ chức và theo chủ đề sẽ tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc tìm kiếm và áp dụng pháp luật. Khi đó, các quy phạm pháp luật có liên quan với nhau về một chủ đề sẽ được sắp xếp với nhau trong cùng một đề mục hoặc các tiêu đề chi tiết hơn của bộ pháp điển. Vì vậy, việc tìm kiếm các quy phạm pháp luật sẽ dễ dàng hơn.

Hiện tại, một số cơ quan, tổ chức cũng đã tiến hành hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật về cùng một chủ đề hoặc do cùng một cơ quan ban hành thành các tuyển tập. Tuy nhiên, các tuyển tập này về cơ bản mới chỉ bao gồm các văn bản đơn lẻ được sắp xếp lại với nhau theo một trật tự nhất định (thường là theo thời gian) nên việc tìm kiếm các quy phạm cụ thể vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Điều này sẽ được giải quyết thông qua quá trình pháp điển hóa với việc sắp xếp một cách chi tiết đến từng quy phạm pháp luật.

Thứ tư, nâng cao sự tin tưởng của người dân vào hệ thống pháp luật

Việc xây dựng các bộ pháp điển một cách có hệ thống và toàn diện sẽ nâng cao sự ổn định và thống nhất của hệ thống pháp luật và vì vậy sẽ nâng cao sự tin tưởng của người dân vào hệ thống pháp luật.

Điều này xuất phát từ hai yếu tố cơ bản là: 1) Bộ pháp điển sẽ chỉ bao gồm các quy định hiện đang có hiệu lực pháp luật. Người dân có thể tin tưởng rằng tất cả các quy định được ghi trong bộ pháp điển đều đang có hiệu lực pháp luật; 2) Bộ pháp điển về một lĩnh vực nào đó sẽ bao gồm toàn bộ các quy định hiện hành của Việt Nam về lĩnh vực đó. Điều này có nghĩa là một khi cần tìm hiểu để áp dụng pháp luật trong một lĩnh vực nhất định, về cơ bản, người dân chỉ cần tìm hiểu các quy định trong bộ pháp điển này.

Với ý nghĩa này, bộ pháp điển có giá trị sử dụng cao đối với tất cả các đối tượng liên quan, từ các nhà làm luật, luật sư, cán bộ nhà nước đến người dân.

Thứ năm, tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình làm luật

Trong bối cảnh tất cả quy phạm pháp luật đã được sắp xếp một cách hệ thống trong các bộ pháp điển thì việc sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các quy định sẽ được thực hiện một cách dễ dàng hơn trên cơ sở các quy định của bộ pháp điển mà không phải tiến hành rà soát, kiểm tra các văn bản phân tán trong hệ thống pháp luật như hiện nay.

Hơn thế nữa, trong trường hợp các bộ pháp điển đã được xây dựng ổn định, việc làm luật trong một lĩnh vực có thể chỉ dừng lại ở việc sửa đổi, bổ sung các bộ pháp điển trong lĩnh vực đó mà nhất thiết phải chỉnh sửa hay ban hành mới cả một luật hay một bộ luật như hiện nay.

3 THỬ NGHIỆM KỸ THUẬT PHÁP ĐIỂN HÓA CỦA CỘNG HÒA PHÁP VÀO VIỆC PHÁP ĐIỂN HÓA CÁC QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỐC HỘI

3.1.1 Xác định khái niệm về pháp điển hóa

3.1.1.1 Các quan điểm khác nhau về pháp điển hóa

Trong chuỗi hoạt động hỗ trợ kỹ thuật về pháp điển hóa do Dự án ISP hỗ trợ, hoạt động thực hiện thí điểm xây dựng bộ pháp điển về tổ chức và hoạt động của Quốc hội là hoạt động cuối cùng, sau khi đã có các hoạt động khác nhau mang tính lí luận tìm hiểu về khái niệm và cách thức pháp điển hóa[6]. Tuy nhiên, có một thực tế là một trong những vấn đề được thảo luận nhiều nhất trong tiến trình thực hiện bài tập pháp điển hóa vẫn chính là các vấn đề lý luận xung quanh khái niệm về pháp điển hóa. Điều này là do việc xác định khái niệm về pháp điển hóa có mối quan hệ quan trọng với cách thức thực hiện cũng như nội dung của bộ pháp điển. Ngay ở Cộng hòa Pháp, nơi đã thực hiện pháp điển hóa theo quan điểm giữ nguyên các quy định hiện tại trên thực tế từ năm 1986, thì cuộc tranh cãi về cách thức pháp điển hóa vẫn kéo dài cho đến những năm cuối của thập kỷ 90[7].

Cho dù có thể ở những nước khác nhau, ở những thời điểm khác nhau, pháp điển hóa có thể được hiểu theo những nghĩa đa dạng khác nhau nhưng về cơ bản, có hai cách hiểu cơ bản về pháp điển hóa là: (1) Pháp điển hóa về mặt nội dung và (2) Pháp điển hóa về mặt hình thức[8].

Pháp điển hóa về mặt nội dung (substantive codification)[9] là cách hiểu mang tính truyền thống về pháp điển hóa. Theo đó, pháp điển hóa là việc xây dựng một bộ luật trên cơ sở tập hợp các quy định hiện hành, loại bỏ các quy định không phù hợp; bổ sung, dự liệu những quy định mới để đáp ứng sự điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ xã hội đang phát triển. Các nhà nghiên cứu xem loại pháp điển hóa này có mục tiêu cải cách xã hội, hướng tới tương lai (nên có tài liệu gọi là pháp điển hóa có tính cải cách). Trong lịch sử, đã có nhiều bộ luật nổi tiếng được thực hiện theo hình thức pháp điển này như công cuộc pháp điển hóa ở các nước châu Âu vào các thế kỷ 18, 19 mà ví dụ điển hình là Bộ luật dân sự Pháp năm 1804[10].

Cách thức pháp điển này có đặc điểm là gắn bó chặt chẽ với hoạt động lập pháp. Việc pháp điển hóa cũng chính là quá trình soạn thảo văn bản pháp luật mới trên cơ sở rà soát các quy phạm hiện hành, luật hóa một số quy định dưới luật hoặc có tính quy phạm được thừa nhận trong xã hội, dự liệu và xây dựng những quy định mới phù hợp với yêu cầu của xã hội.

Pháp điển hóa hình thức (formal codification)[11] là cách thức tập hợp, sắp xếp các quy phạm pháp luật đang có hiệu lực pháp luật thành các bộ luật theo từng chủ đề với những sửa đổi, điều chỉnh cần thiết về mặt kỹ thuật nhằm làm cho các quy định này phù hợp với nhau nhưng vẫn đảm bảo trật tự pháp lý của các quy định[12].

Đúng như cách gọi ở một số tài liệu là pháp điển hóa hướng đến các quy phạm hiện tại, với cách thức pháp điển này, các quy định pháp luật đang có hiệu lực được tôn trọng một cách tối đa. Quá trình sửa đổi, điu chỉnh trong quá trình pháp điển hóa chỉ nhằm mục đích tạo nên sự hài hòa giữa các quy định, đảm bảo trật tự của bộ pháp điển mà không nhằm tới mục đích tạo ra những chính sách pháp luật mới. Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng kết quả cuối cùng của quá trình pháp điển theo hình thức này (các bộ pháp điển) vẫn được cơ quan có thẩm quyền thông qua theo hình thức tương tự như xem xét, thông qua một văn bản pháp luật. Song, sự tham gia của cơ quan lập pháp trong các trường hợp này thường không nhiều bởi vì quá trình pháp điển hóa đó không sáng tạo ra những chính sách pháp luật mới, đòi hỏi phải có quá trình thẩm định chính sách theo đúng vai trò của cơ quan lập pháp. Việc được cơ quan lập pháp thông qua chỉ mang ý nghĩa xác nhận giá trị pháp lý thi hành của bộ pháp điển, ghi nhận bộ pháp điển bao gồm những quy định hiện hành, có hiệu lực trong lĩnh vực được xác định của bộ pháp điển và xác nhận những sửa đổi mang tính kỹ thuật nhằm đảm bảo sự hài hòa và tính thống nhất của hệ thống pháp luật.

Ở đây, cần có sự phân biệt giữa kết quả pháp điển hóa chính thức và pháp điển không chính thức. Ở một số nước, các nhà xuất bản hoặc các công ty luật tư nhân cũng có thể tiến hành xây dựng các bộ pháp điển với hình thức kỹ thuật tương tự như các cơ quan nhà nước có thẩm quyền[13]. Tuy nhiên, do không được các cơ quan có thẩm quyền thông qua một cách chính thức nên các sản phẩm này chỉ có tính chất tham khảo, không có giá trị viện dẫn trước tòa.

Cả hai hình thức pháp điển nói trên đều có những ưu, nhược điểm nhất định.

Đối với hình thức pháp điển hóa nội dung, một nhà nghiên cứu của Cộng hòa Pháp đã đánh giá đây là cách thức pháp điển “quý tộc nhất, sáng tạo nhất” bởi vì kết quả của nó là một bộ luật mới với những chính sách pháp luật mới, có tính cải cách. Tuy nhiên, hạn chế của nó là để ra đời những bộ luật đồ sộ như vậy đòi hỏi phải có rất nhiều thời gian với sự tham gia của nhiều chủ thể và qua nhiều công đoạn khác nhau. Trong khi đó, những cuộc thảo luận về chính sách pháp luật mới luôn luôn có tính chính trị, liên quan đến lợi ích của nhiều nhóm quyền lợi khác nhau. Vì vậy, thực tế là việc cho ra đời những bộ pháp điển đồ sộ theo dạng này thường gắn với những điều kiện lịch sử nhất định với sự chuyển đổi sâu sắc của các nguồn luật quốc nội mà điển hình là Bộ luật Dân sự Pháp ra đời vào năm 1804 được xem là một phần của hệ quả của cuộc cách mạng trước đó vào năm 1789. Trong khi đó, từ gần hai thế kỷ lại nay, ở Cộng hòa Pháp, các điều kiện của sự sáng tạo này sẽ không còn được tìm thấy một cách tập trung. Và do vậy, theo cách thức này, “pháp điển hóa sẽ là một quá trình chưa hoàn thành và cũng sẽ không thể hoàn thành”[14].

Đối với hình thức pháp điển hình thức (formal codification) hay pháp điển hóa hướng tới các quy định hiện tại, ưu điểm lớn của nó là không làm thay đổi nội dung của các quy phạm tức là không tạo ra các chính sách pháp luật mới, vì vậy sẽ không gặp nhiều cản trở về mặt chính trị, nhất là quá trình thảo luận, thông qua kéo dài. Trong khi đó, những mục đích của việc đơn giản hóa pháp luật thông qua hoạt động này vẫn có thể đạt được như:

– Tạo ra một văn bản pháp luật duy nhất trong đó gồm những quy phạm pháp luật còn hiệu lực trong một lĩnh vực nhất định (hoặc ở một số nước là do một cơ quan ban hành);

– Tập hợp được tất cả các quy phạm pháp luật đang nằm phân tán, rải rác ở nhiều văn bản theo một trật tự logic, tăng cường khả năng liên kết và tính gần gũi, dễ hiểu của văn bản pháp luật;

– Minh bạch hóa và bảo đảm tính cập nhật của các quy phạm pháp luật thông qua việc bãi bỏ các nội dung không rõ ràng, mẫu thuẫn, không phù hợp với Hiến pháp và các cam kết quốc tế;

– Chỉ ra các khiếm khuyết, các lỗ hổng trong hệ thống luật pháp và chuẩn bị đề xuất những cải cách cần thiết[15].

Tuy nhiên, không phải không có những lập luận phản đối hình thức pháp điển này.

Đầu tiên là quan niệm cho rằng việc “đóng gói” các quy phạm pháp luật vào từng bộ luật theo từng chủ đề sẽ dẫn đến tình trạng “đóng băng” pháp luật vì một khi các văn bản luật bị đóng khung trong các bộ luật, người ta sẽ không thay đổi chúng nữa. Tuy nhiên, lo lắng này chưa có những cơ sở chắc chắn. Việc pháp điển hóa theo hình thức này với kết quả là một bộ luật chỉ gồm toàn những quy phạm còn hiệu lực và được sắp xếp theo trình tự logic sẽ làm cho việc sửa đổi, bổ sung pháp luật trở nên dễ dàng hơn. Thực tế cho thấy ở Cộng hòa Pháp thì từ năm 1996 cho tới năm 2008 đã có 1.500 quy định của các bộ luật đã bị thay đổi[16].

Ý kiến thứ hai cho rằng việc pháp điển hóa theo hình thức này là khó khả thi vì quá trình pháp điển hóa thường kéo dài và trong quá trình đó các quy phạm pháp luật sẽ liên tục được ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung và do vậy có khả năng khi vừa được hoàn thành thì bộ pháp điển đã bị lỗi thời. Đây là một khó khăn thực sự của việc pháp điển hóa theo hình thức này. Tuy nhiên, cần phải chấp nhận một thực tế rằng những bộ luật đầu tiên được pháp điển hóa theo hình thức này chắc chắn sẽ không tránh được những sai sót và thiếu tính đầy đủ. Kinh nghiệm ở cả Cộng hòa Pháp[17] và Hoa Kỳ[18] đều cho thấy điều đó. Tuy nhiên, các sai sót đó sẽ được phát hiện trong quá trình sử dụng bộ pháp điển và theo thời gian bộ pháp điển sẽ được điều chỉnh, hoàn thiện.

Hạn chế thứ ba được đề cập trong cách pháp điển về mặt hình thức là cách thức này sẽ bỏ qua nguồn quy phạm từ các án lệ và tập quán. Một điều không thể tranh cãi là các án lệ và tập quán là một nguồn quan trọng của pháp luật. Nếu trong cách thức pháp điển hóa về mặt nội dung, nguồn luật này sẽ được tính đến trong tiến trình xây dựng các bộ pháp điển thì pháp điển hóa về mặt hình thức các quy phạm này sẽ bị bỏ qua. Đây là một hạn chế của các thức pháp điển về mặt hình thức nhưng cũng chính là điểm đưa lại những ưu điểm riêng cho hoạt động pháp điển hóa về mặt hình thức. Một khi bao hàm cả những quy phạm từ án lệ và tập quán, việc thông qua các bộ pháp điển sẽ đặt Quốc hội vào việc xem xét lại các án lệ và tập quán vốn không bao giờ được coi là một hoạt động mang tính “trung tính” như việc xem xét, thông qua hoàn toàn về mặt kỹ thuật của các quy định của bộ pháp điển đơn thuần về mặt hình thức[19].

3.1.1.2 Lựa chọn hình thức pháp điển hóa

Trong phạm vi của hoạt động thí điểm pháp điển hóa này (A.1.5), mục tiêu ban đầu đã được xác định rất rõ ràng là áp dụng kỹ thuật pháp điển hóa hiện tại của Cộng hòa Pháp để xây dựng Bộ pháp điển về tổ chức và hoạt động của Quốc hội. Như vậy, các kỹ thuật pháp điển hóa theo hình thức sẽ được sử dụng mà không phải là pháp điển hóa theo nội dung. Lựa chọn này cũng phù hợp với quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật bởi vì Điều 93 đã quy định: “quy phạm pháp luật phải được rà soát, tập hợp, sắp xếp thành bộ pháp điển theo từng chủ đề”.

Tuy nhiên, chúng tôi cũng cho rằng việc một quốc gia tiến hành pháp điển hóa theo hình thức không có nghĩa sẽ không còn thực hiện pháp điển hóa theo nội dung. Hình thức pháp điển hóa theo nội dung vẫn có thể được tiến hành để xây dựng các bộ luật với ý nghĩa phần nào như một hoạt động lập pháp thông thường khác. Ngay như ở Cộng hòa Pháp thì trong quá trình tiến hành công cuộc pháp điển hóa toàn diện theo hình thức, thì nước này vẫn tiến hành sửa đổi Bộ luật Hình sự để có một bộ luật mới với các điều khoản được đổi mới mà không phải là tập hợp các quy định hiện hành[20]. Tuy nhiên, cách thức pháp điển hóa theo nội dung chỉ có thể mang tính bộ phận, tập trung vào những bộ luật cơ bản như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự … mà không thể mang tính tổng thể như hình thức pháp điển hóa theo hình thức vốn có thể được thực hiện trong nhiều lĩnh vực khác nhau trên cơ sở các quy định pháp luật hiện đang có trong lĩnh vực đó[21].

Trên cơ sở những phân tích trên có thể thấy vấn đề lựa chọn hình thức pháp điển hóa theo hình thức hay pháp điển hóa theo nội dung không phải là một vấn đề lớn trong quá trình thực hiện bài tập này.

Tuy nhiên, đi vào chi tiết thì vấn đề trở nên phức tạp hơn khi theo yêu cầu của việc pháp điển hóa theo hình thức thì kết quả của bộ pháp điển cần phải được cơ quan lập pháp thông qua. Việc được cơ quan lập pháp thông qua có ý nghĩa khẳng định giá trị pháp lý của những quy định của bộ pháp điển và hủy bỏ các quy định ở các văn bản đã được pháp điển hóa. Chẳng hạn, nếu một số quy định về thủ tục xem xét, thông qua dự án luật, nghị quyết của Quốc hội trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật được đưa vào Bộ pháp điển thì với việc Quốc hội phê chuẩn bộ pháp điển này, các quy định đó trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sẽ không còn hiệu lực, hay nói chính xác hơn là Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sẽ không còn có các quy phạm đó. Điều này sẽ dẫn đến những tác động nhất định đối với việc thực hiện pháp điển hóa.

Thứ nhất, phạm vi các văn bản pháp điển hóa sẽ không bao hàm các quy định của Hiến pháp.

Với ý nghĩa là văn bản pháp luật tối cao, các quy định của Hiến pháp có giá trị pháp lý cao hơn các quy phạm pháp luật khác. Do vậy, phạm vi các văn bản pháp điển hóa sẽ không thể bao gồm các quy định của Hiến pháp. Điều này là do khi tiến hành phê chuẩn bộ pháp điển thì theo nguyên tắc các quy định được pháp điển sẽ không còn tồn tại ở văn bản gốc nữa, nên nếu bộ pháp điển bao hàm cả các quy định của Hiến pháp thì sẽ dẫn đến tình trạng Hiến pháp có thể bị xé lẻ hoặc thậm chí không còn tồn tại một văn bản được gọi là Hiến pháp. Hơn thế nữa, hoạt động phê chuẩn bộ pháp điển của Quốc hội có khả năng sẽ vi phạm nguyên tắc Hiến pháp không thể được sửa đổi, bổ sung bằng thủ tục lập pháp thông thường.

Thứ hai, Bộ pháp điển bao gồm các phần khác nhau của các văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý khác nhau do các cơ quan ban hành có thẩm quyền khác nhau ban hành.

Liên quan đến việc pháp điển hóa các quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý khác nhau, ở các nước khác nhau có những quan điểm khác nhau.

Theo cách thức xây dựng các bộ pháp điển của Hoa Kỳ thì các quy phạm do nghị viện liên bang ban hành sẽ được tập hợp vào một bộ pháp điển theo 50 đề mục, trong khi đó các quy định do chính phủ liên bang ban hành lại được pháp điển vào 50 bộ luật với tiêu đề khác với 50 đề mục trong bộ pháp điển của nghị viện. Bộ pháp điển của nghị viện và các bộ pháp điển của Chính phủ liên bang do hai cơ quan khác nhau xây dựng và được nghị viện và chính phủ liên bang phê chuẩn tách rời nhau.

Trong khi đó, theo quan điểm của Cộng hòa Pháp thì một bộ pháp điển về một chủ đề nào đó phải bao gồm toàn bộ các quy phạm của cả Quốc hội lẫn Chính phủ ban hành và phải được cấu trúc theo cơ cấu thống nhất chung do một cơ quan soạn thảo (thường là do các bộ của Chính phủ xây dựng). Tuy nhiên, để đảm bảo giá trị hiệu lực của từng loại quy phạm pháp luật và tránh sự xung đột về thẩm quyền ban hành các quy phạm về sau, tập hợp các quy phạm trong bộ pháp điển do cơ quan nào ban hành sẽ do cơ quan đó phê chuẩn. Chẳng hạn, mặc dù cùng ở chung trong một bộ pháp điển về đầu tư nhưng phần những quy định do Quốc hội ban hành sẽ do Quốc hội phê chuẩn, phần những quy định do Chính phủ ban hành sẽ do Chính phủ phê chuẩn. Đây chính là nguyên nhân trong các bộ pháp điển của Cộng hòa Pháp, các điều khoản được đánh dấu để biết rõ điều khoản đó được pháp điển từ các luật do nghị viện ban hành hay từ các nghị định do Chính phủ ban hành.

Trong quá trình xây dựng thí điểm Bộ pháp điển về tổ chức và hoạt động của Quốc hội, nhóm chuyên gia đã quyết định áp dụng theo đúng nguyên tắc pháp điển hóa của Cộng hòa Pháp. Vì vậy, Bộ pháp điển về tổ chức và hoạt động của Quốc hội cũng bao gồm các quy phạm pháp luật do các cơ quan khác nhau ban hành. Tuy nhiên, do đặc thù phạm vi của Bộ pháp điển là tổ chức và hoạt động của Quốc hội nên các văn bản được pháp điển chủ yếu do Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành. Song, cần lưu ý là nếu theo đúng nguyên tắc pháp điển ở Cộng hòa Pháp thì các quy phạm do các cơ quan khác nhau ban hành không được sắp xếp, sáp nhập vào nhau. Tuy nhiên, do điều kiện ở nước ta trong nhiều trường hợp, các quy phạm do cơ quan cấp dưới ban hành lại lặp lại các quy định do cơ quan cấp trên ban hành nên trong một số trường hợp, nhóm chuyên gia đã tiếp hành sắp xếp, trộn lẫn các quy phạm do các cấp cơ quan khác nhau ban hành nhằm đạt được mục tiêu đơn giản hóa của quá trình pháp điển hóa.

3.1.2 Quy trình thực hiện pháp điển hóa

Như đã đề cập ở trên, pháp điển hóa theo hình thức có sự khác biệt tách bạch với hoạt động lập pháp thông thường. Trong khi hoạt động lập pháp mang tính chính trị thì hoạt động pháp điển hóa mang nhiều tính kỹ thuật, làm cho các chính sách pháp luật được thể hiện dưới những hình thức logic, có hệ thống và dễ tiếp cận. Vì vậy, có thể so sánh hoạt động làm luật như việc sản xuất ra các sản phẩm còn hoạt động pháp điển hóa là việc đóng gói, sắp xếp, trưng bày sản phẩm, hàng hóa sao cho tiện lợi cho việc tiêu dùng[22].

Chính vì mang nhiều tính kỹ thuật, đòi hỏi nhiều thời gian và công sức nên quy trình, thủ tục trong hoạt động pháp điển hóa được hết sức chú trọng. Với ý nghĩa sắp xếp các quy phạm hiện hành thành các bộ luật theo lĩnh vực với các trình tự logic thống nhất, pháp điển hóa vừa là một phương pháp nghiên cứu, tìm hiểu về một hệ thống quy phạm trong một lĩnh vực, vừa là một kỹ thuật để viết các quy phạm pháp luật. Tuy vậy, như một nhà nghiên cứu về pháp điển hóa của Cộng hòa Pháp đã nhận xét, pháp điển hóa rất có ít các nguyên tắc chung – chỉ có nguyên tắc không làm thay đổi nội dung của văn bản là ngoại lệ[23]. Điều này có nghĩa là quá trình pháp điển hóa có rất nhiều khoảng không gian dành cho sự sáng tạo. Tuy nhiên, về mặt quy trình, thủ tục, các bước của quá trình pháp điển hóa có thể được khái quát theo trình tự thời gian như sau:

1) Xác định phạm vi của bộ pháp điển

Cũng giống như mọi hoạt động khác, việc xác định mục tiêu và phạm vi của pháp điển hóa có vị trí đầu tiên trong chuỗi tiến trình công việc. Việc xác định phạm vi của bộ pháp điển sẽ có ảnh hưởng đến hầu hết các giai đoạn về sau của hoạt động này. Phụ thuộc vào phạm vi của bộ pháp điển, phạm vi các văn bản quy phạm pháp luật được rà soát, xem xét sẽ được xác định; cấu trúc của bộ pháp điển cũng được thiết lập tương ứng. Chẳng hạn, trong phạm vi của bài tập này, khi quyết định phạm vi của bộ pháp điển không bao gồm các quy định về bầu cử đại biểu Quốc hội thì rõ ràng phạm vi các văn bản quy phạm pháp luật được rà soát cũng được rút xuống và cấu trúc của bộ pháp điển cũng được thay đổi theo.

Bên cạnh đó, cũng cần phải xác định rằng việc xác định phạm vi của một bộ pháp điển còn liên quan đến các bộ pháp điển còn lại trong tổng thể của hệ thống pháp luật. Theo nguyên tắc pháp điển hóa theo hình thức, các quy phạm pháp luật hiện hành một khi đã được pháp điển vào một bộ pháp điển nào đó thì không còn hiệu lực pháp luật, tức là không được pháp điển vào bộ pháp điển khác mà chỉ có thể được đề cập đến theo hình thức dẫn chiếu. Do vậy, quá trình xác định phạm vi của một bộ pháp điển cần phải xác định rõ phạm vi trong tổng thể hệ thống pháp luật, tránh sự chồng chéo giữa các bộ pháp điển với nhau.

2) Tập hợp, rà soát các văn bản quy phạm pháp luật

Trên cơ sở phạm vi đã xác định của bộ pháp điển, các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến nội dung này sẽ được tập hợp, rà soát. Đây là điều kiện cần thiết nhất để tiến hành pháp điển hóa và cũng được dự báo sẽ gặp nhiều khó khăn.

Ở nhiều nước, với sự hỗ trợ của các cơ sở dữ liệu, việc rà soát văn bản có thể dễ dàng hơn thông qua hệ thống các từ khóa liên quan đến lĩnh vực được đề cập của bộ pháp điển. Tuy nhiên, các cơ sở dữ liệu, vốn tương đối mới, gắn với quá trình tin học hóa gần đây, thường không thể bao gồm tất cả các văn bản theo nhu cầu của quá trình pháp điển hóa. Do vậy, để thực hiện tốt việc rà soát, tổng hợp văn bản trong tiến trình pháp điển hóa còn cần đến các chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực được xác định của bộ pháp điển và quá trình nhập dữ liệu điện tử bổ sung[24].

3) Xây dựng cấu trúc chi tiết của bộ pháp điển

Việc soạn thảo bố cục của bộ pháp điển là một giai đoạn có tính quyết định trong việc làm ra bộ pháp điển. Xây dựng bố cục của một bộ pháp điển phải đảm bảo tính logic của các quy phạm được tập hợp trong bộ pháp điển. Đây là quá trình kết tinh của cả tính logic về nội dung, thẩm mỹ và thậm chí là cả tư tưởng, ý tưởng bên trong nên đôi khi người ta ví nói với công việc của một kiến trúc sư[25].

Xét về mặt pháp lý, bố cục của bộ pháp điển, tuy không phải là công việc tạo ra nội dung, nhưng có những ý nghĩa nhất định. Trên tổng thể nội dung của văn bản, bố cục của bộ pháp điển sẽ làm rõ các ý chủ đạo và mức độ quan trọng của từng đơn vị bố cục trên cơ sở trật tự thứ bậc. Chính vì vậy, việc phê chuẩn của cơ quan lập pháp đối với bộ pháp điển, ngoài việc xác nhận giá trị pháp lý của các quy phạm, còn có ý nghĩa trong việc xác định trật tự thứ bậc trong cấu trúc logic của bộ pháp điển.

4) Tiến hành chi tiết hóa các điểu khoản của bộ pháp điển

Tiến hành pháp điển hóa, tức quá trình sắp xếp, kết nối các quy phạm pháp luật hiện hành với nhau trong cấu trúc của bộ pháp điển được xác định trước có thể được coi là công việc có khối lượng nặng nề nhất trong quá trình pháp điển hóa. Chính vì vậy, theo kinh nghiệm của Cộng hòa Pháp, để tiến hành công việc pháp điển hóa, cần thành lập sớm một ban pháp điển hóa, là cơ quan thường trực trong suốt quá trình xây dựng bộ pháp điển.

Việc sắp xếp, ghép nối các quy phạm pháp luật với nhau trong bộ pháp điển đòi hỏi sự rà soát tỉ mỉ và cả tầm nhìn bao quát tổng quan của bộ pháp điển. Việc pháp điển hóa không chỉ là sự sao chép lại đơn thuần các quy phạm hiện hành mà phải tạo ra sự gắn bó chặt chẽ giữa các quy phạm cả về mặt không gian và thời gian. Theo chuyên gia của Cộng hòa Pháp thì sự gắn bó chặt chẽ về mặt không gian đảm bảo các quy phạm được kết nối với nhau một cách logic, tránh sự phủ nhận lẫn nhau giữa các quy phạm, loại bỏ những điểm mâu thuẫn, chồng chéo giữa chúng. Sự gắn bó về mặt thời gian giữa các quy phạm là đảm bảo sự hài hòa về mặt thời gian giữa quy phạm được ban hành mới và các quy phạm bị thay thế hoặc bị đề nghị hủy bỏ trong quá trình pháp điển hóa[26].

Ngoài ra, trong quá trình tiến hành pháp điển hóa một bộ luật, dù phạm vi của bộ pháp điển có được mở rộng và xác định chi tiết đến đâu thì cũng thể tránh khỏi có sự trùng lặp giữa các phần khác nhau của bộ pháp điển. Trong quá trình đó, kỹ thuật dẫn chiếu sẽ được sử dụng. Điều này đòi hỏi có sự kết nối giữa các chuyên gia pháp điển và tầm nhìn bao quát toàn bộ nội dung của các văn bản pháp luật liên quan.

5) Sử dụng phần mềm và các tài liệu làm việc

Để hỗ trợ cho quá trình xây dựng chi tiết các điều khoản của bộ pháp điển, Cộng hòa Pháp đã tiến hành xây dựng phần mềm Magic-Code. Công dụng của phần mềm này là hỗ trợ về mặt kỹ thuật cho việc sắp xếp, điều chỉnh các quy phạm pháp luật bằng công cụ điện tử. Với sự hỗ trợ của phần mềm, việc di chuyển, sắp xếp, tìm kiếm các điều khoản trong quá trình thực hiện các hoạt động pháp điển hóa sẽ trở nên dễ dàng hơn. Hơn thế nữa, công dụng quan trọng nhất của phần mềm này là cho phép ghi lại toàn bộ quá trình pháp điển hóa, giải thích những lý do của việc sắp xếp các quy phạm pháp luật trong bộ pháp điển và cả những kiến nghị, đề xuất cho bước thực hiện pháp điển về sau. Tuy nhiên, các chuyên gia của Cộng hòa Pháp cũng lưu ý là phần mềm chỉ có ý nghĩa hỗ trợ về mặt kỹ thuật. Công việc pháp điển hóa chủ yếu vẫn phụ thuộc vào kiến thức của các chuyên gia pháp lý trong lĩnh vực pháp điển hóa.

3.1.3 Xác định phạm vi của Bộ pháp điển về tổ chức và hoạt động của Quốc hội

Cũng như kinh nghiệm ở Cộng hòa Pháp đã giới thiệu ở phần trên, việc xây dựng Bộ pháp điển về tổ chức và hoạt động của Quốc hội ở nước ta cũng được bắt đầu bằng việc xác định phạm vi của Bộ pháp điển.

Thực tế thực hiện hoạt động này cho thấy đây là quá trình phức tạp và có nhiều sự điều chỉnh. Quá trình này đặc biệt gắn bó chặt chẽ với quá trình nhận thức về khái niệm pháp điển hóa, nhất là với nguyên tắc không làm thay đổi nội dung các quy phạm pháp luật. Những vấn đề cụ thể mà nhóm chuyên gia làm việc cần phải giải quyết trong nội dung này bao gồm:

Về các quy định liên quan đến hội đồng nhân dân các cấp, theo dự định ban đầu, bộ pháp điển được thực hiện thí điểm trong hoạt động này bao gồm toàn bộ các quy phạm pháp luật về tổ chức và hoạt động của cơ quan dân cử. Tuy nhiên, trong quá trình phân tích, nhóm chuyên gia trong nước và Cộng hòa Pháp nhận thấy rằng nội dung các quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp và của Quốc hội là tương đối độc lập, chỉ có điểm tương tự về tính chất là cơ quan đại diện của các cơ quan này. Bên cạnh đó, nếu phạm vi của bộ pháp điển bao gồm cả các quy định pháp luật về tổ chức và hoạt động của Quốc hội và của Hội đồng nhân dân các cấp thì khối lượng văn bản quy phạm cần được xem xét, pháp điển hóa rất lớn. Theo thống kê sơ bộ của nhóm chuyên gia trong nước vào thời điểm tháng 12 năm 2007 thì số lượng văn bản liên quan đến tổ chức và hoạt động của Quốc hội là 20 luật, 5 nghị quyết của Quốc hội, 4 pháp lệnh, 9 nghị quyết của UBTVQH; liên quan trực tiếp đến tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân có 16 luật, 4 nghị quyết của Quốc hội, 4 pháp lệnh, 2 nghị quyết của UBTVQH, 7 nghị định của Chính phủ…[27]. Nếu thực hiện pháp điển hóa cả hai lĩnh vực này trong bài tập pháp điển này thì công việc đòi hỏi rất nhiều thời gian và công sức, không phù hợp với tính chất thí điểm của hoạt động. Vì vậy, các chuyên gia trong nước, quốc tế và Dự án ISP đã thống nhất giới hạn tiến hành pháp điển hóa văn bản này trong phạm vi các quy phạm pháp luật về tổ chức và hoạt động của Quốc hội[28].

Lý do giới hạn phạm vi của bộ pháp điển trong vấn đề này hoàn toàn mang tính kỹ thuật, phụ thuộc vào điều kiện của hoạt động thí điểm. Tuy nhiên, qua đây cũng nhận thấy rằng việc xác định phạm vi của bộ pháp điển có ý nghĩa rất đáng chú ý. Phạm vi của bộ pháp điển nếu quá lớn cũng sẽ ảnh hưởng đến quá trình pháp điển hóa nhưng nếu quá nhỏ cũng sẽ đánh mất tác dụng của hoạt động pháp điển hóa.

Về các quy định của Hiến pháp, trong quá trình rà soát các quy định về tổ chức và hoạt động của Quốc hội, một điểm dễ nhận thấy là Hiến pháp 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2001 có rất nhiều quy định về tổ chức và hoạt động của Quốc hội. Theo dự kiến ban đầu, các quy định này sẽ được đưa vào bộ pháp điển theo mục tiêu xây dựng một bộ pháp điển mang tính tham khảo, tạo điều kiện cho người sử dụng có thể tìm hiểu và so sánh giữa các quy định của luật và của Hiến pháp.

Tuy nhiên, nếu thực hiện theo hình thức này, việc thí điểm kỹ thuật pháp điển hóa về mặt hình thức được áp dụng ở Cộng hòa Pháp sẽ không còn ý nghĩa bởi vì như đã phân tích ở trên, theo cách thức pháp điển hóa về mặt hình thức, các quy định được đưa vào bộ pháp điển sẽ không còn được duy trì ở văn bản gốc. Các chuyên gia của Cộng hòa Pháp cũng nhấn mạnh nếu trong khuôn khổ pháp luật Việt Nam, các quy định của Hiến pháp chỉ có giá trị như luật thì mới có thể đưa các quy định của Hiến pháp vào bộ pháp điển. Rõ ràng điều này là không thể thực hiện được. Vì vậy, để đảm bảo tính tối cao của Hiến pháp, hai nhóm chuyên gia đã tôn trọng đến mức tối đa nguyên tắc tôn trọng thức bậc, giá trị pháp lý của các quy phạm pháp luật tức là không đưa các quy định của Hiến pháp vào bộ pháp điển. Tuy nhiên, để tạo điều kiện so sánh các quy định về tổ chức và hoạt động của Quốc hội trong các đạo luật được đưa vào Bộ pháp điển với các quy định của Hiến pháp, nhóm chuyên gia quyết định sẽ đưa vào phần chú thích (cột thứ 5 trong tài liệu làm việc)[29] những dẫn chiếu đến các điều liên quan của Hiến pháp.

Qua những tranh luận trong quá trình này, có thể nhận thấy để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc xây dựng các bộ pháp điển về sau, cần có các quy định mang tính hướng dẫn để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho hoạt động pháp điển hóa, tránh những tranh cãi mang tính nguyên tắc.

Về các quy định về pháp luật bầu cử đại biểu Quốc hội, theo đề nghị của một số chuyên gia trong nước, để bảo đảm tính toàn vẹn của các quy định về tổ chức và hoạt động của Quốc hội, các quy định về đại biểu Quốc hội sẽ được đưa vào bộ pháp điển. Tuy nhiên, một số chuyên gia cho rằng điều này chưa hoàn toàn hợp lý vì các quy định về bầu cử không liên quan nhiều đến tổ chức và hoạt động của Quốc hội mà dẫn chứng cụ thể nhất là các quy định về bầu cử đại biểu Quốc hội được quy định riêng trong đạo luật về bầu cử đại biểu Quốc hội, không được đưa thành một phần của Luật tổ chức Quốc hội. Các chuyên gia của Cộng hòa Pháp cũng chia sẻ kinh nghiệm trong việc xây dựng riêng một bộ pháp điển về hoạt động bầu cử ở nước bạn. Chính vì vậy, nhóm làm việc đã đi đến thống nhất không đưa các quy định về pháp luật bầu cử đại biểu Quốc hội vào Bộ pháp điển về tổ chức và hoạt động của Quốc hội và đưa ra kiến nghị sẽ xây dựng Bộ pháp điển về hoạt động bầu cử đại biểu của các cơ quan dân cử về sau.

Quá trình xác định phạm vi của Bộ pháp điển về tổ chức và hoạt động của Quốc hội trong vấn đề này cho thấy rõ tầm quan trọng của việc xác định giới hạn phạm vi của các bộ pháp điển. Vì hoạt động pháp điển hóa sẽ được thực hiện đối với tổng thể hệ thống pháp luật nên điều quan trọng là phạm vi của các bộ pháp điển có thể phải xác định một cách sơ bộ tổng thể trước khi thực hiện hoạt động pháp điển để tránh sự chồng lấn giữa phạm vi của các bộ pháp điển. Chẳng hạn, theo kinh nghiệm của Hoa Kỳ thì Bộ pháp điển hóa các luật của Hoa Kỳ bao gồm 50 nội dung chứa đựng tất cả các quy định pháp luật đang có hiệu lực do Nghị viện Hoa Kỳ ban hành[30]. Việc xác định rõ các đề mục nội dung như vậy sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác pháp điển hóa cũng như cập nhật, sửa đổi, bổ sung các quy định về sau.

Về những văn bản thuộc các cấp độ pháp lý khác nhau, như đã phân tích ở phần trên, về nguyên tắc, các quy phạm pháp luật dưới luật không thể được sắp xếp, sáp nhập, trộn lẫn với các quy phạm luật. Điều này có nghĩa là trong bộ pháp điển này không có các điều khoản bao gồm nội dung của quy phạm do Quốc hội ban hành và quy phạm do Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành. Tuy nhiên, đặc thù của hệ thống pháp luật nước ta là UBTVQH có thể ban hành một số văn bản pháp lệnh, nghị quyết về các nội dung thuộc thẩm quyền ban hành luật của Quốc hội theo ủy quyền của Quốc hội. Đối với những văn bản dạng này, chúng tôi cho rằng các quy phạm của chúng có thể được trộn lẫn với các quy phạm do Quốc hội ban hành mà không tạo ra những xung đột về mặt thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về sau. Chẳng hạn, một số quy định của Pháp lệnh về ký kết và thực hiện thỏa thuận quốc tế hoàn toàn có thể được sắp xếp, trộn lẫn với các quy phạm do Quốc hội ban hành về vấn đề này mà không tạo ra sự xung đột về thẩm quyền ban hành về sau do các quy định về việc kí kết và thực hiện thỏa thuận quốc tế, về bản chất thuộc thẩm quyền ban hành của Quốc hội, nhưng đã được Quốc hội ủy quyền cho Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành.

Sau khi xác định xong phạm vi của Bộ pháp điển, vấn đề tiếp theo là xác định tiêu đề của nó. Phương án được các chuyên gia trong nước đề xuất là “Bộ pháp điển về tổ chức và hoạt động của Quốc hội”. Đây là phương án phù hợp với cách gọi theo thông lệ ở nước ta. Chẳng hạn, đạo luật hiện hành về Quốc hội cũng được gọi là Luật tổ chức Quốc hội.

Về cơ bản, các chuyên gia của Cộng hòa Pháp cũng đồng ý với tên gọi này nhưng cũng đề xuất nên cân nhắc về tên gọi: “Bộ pháp điển về Quốc hội”. Lập luận để gọi tên theo cách này là do tên gọi chung về Quốc hội sẽ tạo cho bộ pháp điển có phạm vi rộng hơn, dễ thay đổi các quy định trong bộ pháp điển hơn. Hơn thế nữa, tham khảo kinh nghiệm xây dựng đề mục ở các nước cũng cho thấy tiêu đề bộ pháp điển về Quốc hội thường chỉ mang tên ngắn gọn là “Quốc hội” hoặc “Nghị viện”. Chẳng hạn, tiêu đề thứ hai của bộ pháp điển hóa các luật của Hoa Kỳ có tên là “Nghị viện”[31]. Vì vậy, tên gọi Bộ pháp điển về Quốc hội cũng có tính hợp lý nhất định.

3.1.4 Rà soát, tập hợp các văn bản quy phạm pháp luật về tổ chức và hoạt động của Quốc hội

Trên cơ sở xác định phạm vi của bộ pháp điển, hoạt động tiếp theo là tiến hành rà soát để tập hợp các văn bản quy phạm pháp luật có thể nằm trong phạm vi của bộ pháp điển.

Kinh nghiệm quan trọng là tập hợp ban đầu thường phải bao hàm một cách rộng nhất tất cả các văn bản có thể có các quy phạm thuộc phạm vi của bộ pháp điển. Điều này đảm bảo rằng quá trình rà soát sẽ không bỏ sót các quy phạm thuộc bộ pháp điển.

Việc tập hợp các văn bản quy phạm pháp luật thường được tiến hành dựa trên hai yếu tố cơ bản là: 1) kiến thức của các chuyên gia pháp điển hóa, và 2) sự trợ giúp của công nghệ thông tin.

Kiến thức của các chuyên gia trong lĩnh vực được pháp điển hóa sẽ giúp họ có tầm nhìn bao quát đối với tất cả các văn bản cần phải rà soát cũng như sự nhanh nhạy trong việc xác định những quy phạm có liên quan. Điều này là do quá trình tiếp cận lâu dài và kiến thức tích tụ được đối với lĩnh vực mà họ là chuyên gia. Chẳng hạn, việc rà soát các văn bản có thể chứa các quy phạm liên quan đến tổ chức và hoạt động của Quốc hội sẽ dễ dàng hơn nếu do một chuyên gia làm việc lâu năm trong môi trường nghị viện thực hiện. Chính vì vậy, một trong những nguyên tắc ưu tiên trong việc phá điển hóa ở Cộng hòa Pháp là việc tiến hành các bộ pháp điển trong một lĩnh vực thường được giao cho Bộ quản lý lĩnh vực tương ứng đó[32]. Đây là kinh nghiệm đáng lưu ý đối với việc tổ chức hoạt động pháp điển hóa ở nước ta trong thời gian tới.

Sự trợ giúp của công nghệ thông tin cũng là một ưu thế lớn. Với các cơ sở dữ liệu điện tử về các văn bản pháp luật, các chuyên gia về pháp điển hóa có thể tra cứu các văn bản thuộc lĩnh vực tiến hành pháp điển thông qua các từ khóa có liên quan. Chẳng hạn, trong lĩnh vực tổ chức và hoạt động của Quốc hội, các từ khóa có thể được sử dụng là “Quốc hội”, “Ủy ban thường vụ Quốc hội”, “đại biểu Quốc hội”, “hội đồng dân tộc”, các “ủy ban của Quốc hội”. Đối với điều kiện hiện nay của Việt Nam, mặc dù chưa có một cơ sở dữ liệu pháp luật quốc gia thống nhất như ở một số nước[33] nhưng một số cơ quan cũng đã tiến hành xây dựng các cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật rất hiệu quả. Chẳng hạn, cơ sở dữ liệu Lawdata của Văn phòng Quốc hội được bắt đầu xây dựng từ những năm 1993 cho đến nay có tổng số lượng văn bản quy phạm pháp luật lên đến hơn 20.000 văn bản. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiến hành thu thập các văn bản quy phạm pháp luật trong quá trình pháp điển hóa.

Trong phạm vi bài tập thí điểm này, với mục tiêu mở rộng đến mức tối đa các văn bản có thể chứa các quy phạm có liên quan đến tổ chức và hoạt động của Quốc hội, các chuyên gia đã tập hợp một danh mục 44 văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Cụ thể bao gồm:

Bảng 1: Danh mục các văn bản quy phạm pháp luật được rà soát

Stt

TÊN VĂN BẢN

LOẠI VĂN BẢN

SỐ

NGÀY THÔNG QUA

1

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992

Hiến pháp

 

15/4/1992

2

Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Luật

17/2008/QH12

12/11/1996

3

Luật bầu cử đại biểu Quốc hội

Luật

01/1997/QH9

15/4/1997

4

Luật khiếu nại, tố cáo

Luật

09/1998/QH10

02/12/1998

5

Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Luật

14/1999/QH10

12/6/1999

6

Luật tổ chức Quốc hội

Luật

30/2001/QH10

25/12/2001

7

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội

Luật

31/2001/QH10

25/12/2001

8

Luật tổ chức Chính phủ

Luật

32/2001/QH10

25/12/2001

9

Luật tổ chức Toà án nhân dân

Luật

33/2002/QH10

2/4/2002

10

Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân

Luật

34/2002/QH10

2/4/2002

11

Luật ngân sách nhà nước

Luật

01/2002/QH11

16/12/2002

12

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Luật

02/2002/QH11

16/12/2002

13

Luật hoạt động giám sát của Quốc hội

Luật

05/2003/QH11

17/6/2003

14

Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân

Luật

11/2003/QH11

26/11/2003

15

Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân

Luật

12/2003/QH11

26/11/2003

16

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo

Luật

26/2004/QH11

15/6/2004

17

Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân

Luật

31/2004/QH11

3/12/2004

18

Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế

Luật

41/2005/QH11

14/6/2005

19

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức Quốc hội

Luật

83/2007/QH11

02/4/2007

20

Luật quốc phòng

Luật

39/2005/QH11

27/06/2005

21

Luật bình đẳng giới

Luật

73/2006/ QH11

12/12/2006

22

Luật phòng, chống tham nhũng

Luật

55/2005/QH11

09/12/2005

23

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng, chống tham nhũng

Luật

01/2007/QH12

17/08/2007

24

Nghị quyết về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước CHXHCNVN năm 1992

Nghị quyết của QH

51/2001/QH10

25/12/2001

25

Nghị quyết ban hành Nội quy kỳ họp Quốc hội

Nghị quyết của QH

07/2002/QH11

16-12-2002

26

Nghị quyết ban hành Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội

Nghị quyết của QH

08/2002/QH11

16-12-2002

27

Nghị quyết ban hành Quy chế hoạt động của Uỷ ban thường vụ Quốc hội

Nghị quyết của QH

26/2004/QH11

15-6-2004

28

Nghị quyết ban hành Quy chế hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội

Nghị quyết của QH

27/2004/QH11

15-6-2004

29

Nghị quyết về dự án, công trình quan trọng quốc gia trình Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư

Nghị quyết của QH

66/2006/NQ-QH11

29-06-2006

30

Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm tòa án nhân dân

Pháp lệnh

02/2002/PL-UBTVQH11

04-10-2002

31

Pháp lệnh kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân

Pháp lệnh

03/2002/PL-UBTVQH11

04-10-2002

32

Pháp lệnh tổ chức Tòa án Quân sự

Pháp lệnh

04/2002/PL-UBTVQH11

04-11-2002

33

Pháp lệnh về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế

Pháp lệnh

33/2007/PL-UBTVQH11

20-4-2007

34

Nghị quyết về thành lập và quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu, tổ chức của Văn phòng

đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

Nghị quyết của UBTVQH

545/2007/ NQ-UBTVQH12

11/12/2007

35

Nghị quyết về chức năng, nhiệm vụ của Ban công tác đại biểu

Nghị quyết của UBTVQH

575/2008/NQ-UBTVQH12

31/01/2008

36

Nghị quyết về việc thành lập Ban công tác lập pháp

Nghị quyết của UBTVQH

369/2003/ NQ-UBTVQH11

17/3/2007

37

Nghị quyết về việc thành lập Ban dân nguyện

Nghị quyết của UBTVQH

370/2003/ NQ-UBTVQH11

17/3/2007

38

Nghị quyết sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 370/2003/ NQ-UBTVQH11 về việc thành lập Ban dân nguyện

Nghị quyết của UBTVQH

695/2008/ NQ-UBTVQH12

15/10/2008

39

Nghị quyết ban hành Quy chế lập, thẩm tra, trình Quốc hội quyết định dự toán ngân sách nhà nước, phương án phân bổ ngân sách trung ương và phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước

Nghị quyết của UBTVQH

387/2003/NQ-UBTVQH11

17/3/2003

40

Nghị quyết quy định về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức biên chế của Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội

Nghị quyết của UBTVQH

416/2003/NQ-UBTVQH11

25/9/2003

41

Nghị quyết về việc tiếp nhận, phân loại, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của cá nhân, cơ quan, tổ chức gửi Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội

Nghị quyết của UBTVQH

694/2008/NQ-UBTVQH12

15/10/2008

 

Nghị quyết ban hành Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân

Nghị quyết của UBTVQH

753/2005/NQ-UBTVQH11

02/4/2005

42

Nghị quyết liên tịch hướng dẫn về việc đại biểu Quốc hội tiếp xúc cử tri

Nghị quyết liên tịch giữa UBTVQH và Đoàn Chủ tịch UBTWMTTQVN

06/2004/NQLT/UBTVQH11-ĐCTUBTWMTTQVN

10/9/2004

43

Nghị quyết ban hành Quy chế về kỹ thuật trình bày dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội

Nghị quyết của UBTVQH

1139/2007/NQ-UBTVQH11

19/7/2007

44

Nghị quyết về quy chế đối ngoại và hợp tác quốc tế

Nghị quyết của UBTVQH

618/2008/NQ-UBTVQH12

6/8/2008

Tuy nhiên, số lượng này không phải cố định trong suốt quá trình pháp điển hóa. Phụ thuộc vào phạm vi được xác định của Bộ pháp điển và quá trình phân tích, sắp xếp các quy phạm trong bộ pháp điển, các chuyên gia pháp điển hóa có thể bổ sung thêm hoặc giảm bớt các văn bản quy phạm pháp luật. Thực tế cho thấy, số lượng văn bản cuối cùng có chứa các quy phạm được sử dụng trong bộ pháp điển (không kể các trường hợp được dẫn chiếu) là 29 văn bản[34].

Bên cạnh đó, cần lưu ý rằng đối với các văn bản quy phạm pháp luật đã được sửa đổi, bổ sung thì điều cần thiết phải tiến hành ngay là hợp nhất văn bản gốc và các văn bản qua các lần sửa đổi, bổ sung lại với nhau. Điều này đảm bảo rằng tất cả các văn bản qua các lần sửa đổi, bổ sung được thể hiện trong một hình thức duy nhất là văn bản hợp nhất. Đây là điều kiện cơ bản để sử dụng phần mềm Magi-VN trong tiến trình pháp điển hóa.

CÁC BẠN TẢI TOÀN BỘ CÔNG TRÌNH TẠI ĐÂY


[1]. Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng 2020.

[2]. Thống kê theo: Văn phòng Quốc hội, Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, http://www.vietlaw.gov.vn truy cập ngày 01/02/2009.

[3]. Nguồn: Phòng Công báo, Văn phòng Chính phủ

[4]. Thành Trung, ‘Cải cách thể chế: nhìn từ luật đầu tư’, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Thứ Năm,  10/4/2008.

[5]. Đan Thanh, ‘Lạc giữa … rừng luật’, An Ninh Thủ Đô, Thứ Ba, 27/05/2008.

[6]. Bao gồm các hoạt động: Hoạt động hỗ trợ kỹ thuật nhằm chuẩn bị và rà soát các tài liệu nghiên cứu liên quan đến hoạt động pháp điển hóa (01/03/2007 – 15/7/2007); Hội nghị tập huấn kỹ năng pháp điển hóa – kinh nghiệm Châu Âu (20, 21/06/2007); Hội thảo về pháp điển hóa – thực tiễn và kinh nghiệm (12, 13/12/2007); Đoàn công tác nghiên cứu, học tập kinh nghiệm về pháp điển hóa pháp luật ở Cộng hòa Pháp và Ủy ban Châu Âu (22-29/10/2007).

[7]. Vào năm 1997, ở Cộng hòa Pháp, nhiều bài viết trên tờ Thông tin Pháp lý – Luật Hành chính đã đề cập đến chủ đề pháp điển hóa. Nội dung của nhiều bài viết vẫn xoay quanh vấn đề cơ bản nhất của pháp điển hóa chính là khái niệm pháp điển hóa. Xem: Yves Robineau, ‘Về các hạn chế của pháp điển hóa không làm thay đổi nội dung văn bản’, Thông tin Pháp lý – Luật hành chính, số ngày 20/9/1997 (Bản dịch của Nhà pháp luật Việt – Pháp).

[8]. Về khái niệm và các nguyên tắc của hai hình thức pháp điển này, có thể tham khảo thêm: Jean Louis Bergel, ‘Principal Features and Methods of Codification’, Louisiana Law Review, Vol.48, 1988, p.1073.

[9]. Có nhiều các gọi khác nhau về hình thức pháp điển hóa này như: pháp điển hóa truyền thống, pháp điển hóa lập pháp, pháp điển hóa có tạo ra quy phạm mới v.v…. Tuy nhiên, chúng tôi lựa chọn cách gọi: Pháp điển theo nội dung (substaintive codification) theo Jean Louis Bergel với những ưu điểm về sự ngắn gọn và thể hiện rõ ràng nhất cách thức pháp điển hóa này.

[10]. R.C. Van Caenegem, ‘An Historical Introduction to Private Law’, (Cambridge University Press, 1996), pp. 1,12, Dẫn theo: Ngô Huy Cương, ‘Cải cách pháp luật ở Việt Nam: Suy nghĩ về sự cần thiết và một số định hướng cơ bản’, Nghiên cứu Lập pháp, số 8/2000.

[11]. Hay còn được gọi là pháp điển hóa không làm thay đổi nội dung văn bản.

[12]. Tham khảo thêm Điều 3, Luật số 2000-321 ngày 12 tháng 04 năm 2000 về quyền của công dân trong mối quan hệ với cơ quan hành chính của Cộng hòa Pháp.

[13]. Ví dụ như các bộ U.S.C.A (United States Code Annotated) do công ty Thompson/West thực hiện ở Hoa Kỳ.

[14]. Xem Yves Robineau, Dẫn trên, chú thích số 7.

[15]. Xem: Ban công tác lập pháp, Báo cáo kết quả làm việc của Đoàn công tác của Ban công tác lập pháp tại Cộng hòa Pháp và Ủy ban Châu Âu, ngày 8 tháng 11 năm 2007.

[16]. M. Guy Braibant, ‘Vấn đề pháp điển hóa’, Hội thảo Tổng rà soát văn bản quy phạm pháp luật, (Nhà Pháp luật Việt Pháp, tháng 4/2008).

[17]. Dẫn trên.

[18]. STAR-Vietnam, Các góp ý về đề án Tổng rà soát và đề xuất hệ thống hóa và pháp điển hóa, ngày 15 tháng 1 năm 2009.

[19]. Xem thêm: Yves Robineau, Dẫn trên, chú thích số 7.

[20]. M. Guy Braibant, Dẫn trên, chú thích số 16.

[21]. Dẫn trên.

[22]. Xem: Ban công tác lập pháp, Báo cáo kết quả làm việc của Đoàn công tác của Ban công tác lập pháp tại Cộng hòa Pháp và Ủy ban Châu Âu, ngày 8 tháng 11 năm 2007

[23]. Elsabeth Catta, ‘Các kỹ thuật pháp điển hóa: từ sáp đến si-líc’, Tin Pháp lý – Hành chính, 20 tháng 9 năm 1997.

[24]. Dẫn trên.

[25]. Dẫn trên.

[26]. Dẫn trên.

[27]. Báo cáo hoạt động của nhóm chuyên gia trong nước giai đoạn từ 1 tháng 11 đến 25 tháng 12 năm 2007.

[28]. Xem thêm Báo cáo dẫn trên.

[29]. Xem phần 4.1.7 trong Báo cáo này.

[30]. John Bentley, ‘Pháp điển hóa – Một cơ chế hiệu quả để tổ chức, biên soạn, rà soát và hệ thống hóa pháp luật thường xuyên và liên tục’, Hội thảo “Soạn thảo và đăng tải các văn bản quy phạm pháp luật ở Hoa Kỳ và việc sửa đổi Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật”, Trung tâm TT-TV-NCKH tổ chức, tháng 3/2008.

[31]. Có thể tham khảo về bộ pháp điển các luật của Hoa Kỳ tại trang web chính thức Government Printing Office tại http://www.gpoaccess.gov/uscode/browse.html.

[32]. Xem Elisabeth Catta, Dẫn trên, chú thích số 24.

[33]. Chẳng hạn, ở Cộng hòa pháp có CSDL thuộc Legifrance, ở Hoa Kỳ có CSDL thuộc Government Pringting Office.

[34]. Xem phụ lục tương ứng.

CÁC BẠN TẢI TOÀN BỘ CÔNG TRÌNH TẠI ĐÂY

SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ BỘ TƯ PHÁP

Advertisements

2 Responses

  1. Đây là một công trình công phu, nghiêm túc, đúng là nghiên cứu khoa học.

    Đề nghị đính chính họ tên tác giả là Hoàng Minh Hiếu, chứ không phải là Trần Minh Hiếu. Anh cũng là tác giả chính của báo cáo này, là người đứng đầu một nhóm của Trung tâm TT-TV-NCKH thuộc Văn phòng Quốc hội trực tiếp nghiên cứu, hoàn chỉnh báo cáo này. Còn hai vị kia chỉ đọc, góp ý vài điều mà cũng được đứng tên tác giả thì hơi bất công.

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: