ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA LUẬT QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN NHÀ NƯỚC

CƠ SỞ

Tại kỳ họp thứ hai, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (khoá XII) đã ban hành Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước và Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009. Trong quá trình xây dựng Luật này, cơ quan chủ trì soạn thảo là Bộ Tài chính đã nhận được sự hỗ trợ rất tích cực của cơ quan Hợp tác phát triển Úc (AusAID) thông qua Dự án “Hỗ trợ xây dựng và ban hành Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước”.

Trong khuôn khổ hoạt động của Dự án nêu trên, nhóm tư vấn độc lập đã tiến hành thực hiện đánh giá tác động của Dự án dựa trên các căn cứ sau:

– Báo cáo tình hình triển khai “Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước” của Bộ Tài chính;

– Báo cáo của Chính phủ về tình hình quản lý, sử dụng tài sản nhà nước năm 2009, trình Quốc hội khoá 12 tại kỳ họp thứ tư (tháng 11/2009);

– Báo cáo đánh giá, khảo sát thực tế về tác động của Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại các tỉnh, thành phố như: thành phố Hồ Chí Minh, Bình Thuận, Ninh Thuân, Lai Châu, Lào Cai và Phú Thọ.

– Kết quả các cuộc hội thảo chuyên đề về:

+ Kết quả thực hiện Quyết định số 179/2007/QĐ-TTg ngày 26/11/2007 của Thủ tướng Chính phủ về mua sắm tài sản, hàng hoá từ ngân sách nhà nước theo phương thức tập trung (tổ chức tại Bình Thuận tháng 3/2009);

+ Đề án khu hành chính tập trung (tổ chức tại Đà Lạt tháng 7/2009).

Dưới đây, nhóm tư vấn xin báo cáo khái quát về kết quả triển khai thực hiện Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước và tác động của Luật trong thực tiễn quản lý, sử dụng tài sản nhà nước của Chính phủ, các Bộ, các địa phương và các cơ quan, tổ chức, đơn vị.

Phần thứ nhất

TÌNH HÌNH QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN NHÀ NƯỚC TRƯỚC KHI BAN HÀNH LUẬT

Hiến pháp năm 1992 quy định: Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn do Nhà nước đầu tư vào xí nghiệp, công trình thuộc các ngành, lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là tài sản nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân. Đây là tiền đề, là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, ổn định và nâng cao đời sống nhân dân.

Điều 200 Bộ Luật Dân sự năm 2005 quy định: “Tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước bao gồm đất đai, rừng tự nhiên, rừng trồng có nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi tự nhiên ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác do pháp luật quy định”.

Xuất phát từ vai trò quan trọng của tài sản nhà nước trong nền kinh tế cũng như đảm bảo điều kiện phục vụ hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước, Chính phủ và các Bộ, địa phương đã quan tâm chỉ đạo công tác quản lý tài sản nhà nước; nhờ đó, đã đạt được những kết quả quan trọng, cụ thể:

Một là, Đã ban hành và tổ chức thực hiện nhiều văn bản quy phạm pháp luật giúp cho việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước từng bước đi vào nề nếp, kỷ cương, kỷ luật, công khai minh bạch và có hiệu quả, được thể hiện trên các mặt sau:

– Chính phủ đã tập trung chỉ đạo xây dựng hệ thống định mức, tiêu chuẩn đầu tư xây dựng trụ sở làm việc, tiêu chuẩn mua sắm phương tiện đi lại và các trang thiết bị phục vụ cho các cán bộ, công chức, viên chức. Đây là các căn cứ quan trọng để xây dựng và bố trí dự toán ngân sách cho đầu tư, mua sắm và kiểm soát chi tiêu, đảm bảo công bằng, hiệu quả, công khai, minh bạch. Thực tế cho thấy, sau khi các tiêu chuẩn, định mức, chế độ sử dụng tài sản nhà nước được ban hành thì việc mua sắm tài sản vượt tiêu chuẩn, định mức, sử dụng tài sản nhà nước lãng phí đã giảm đáng kể, tình trạng lạm dụng tài sản nhà nước vào việc riêng cũng đã dần được khắc phục.

– Về quản lý đất đai: Quốc hội đã ban hành Luật Đất đai năm 1993 và được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1998, 2001, đến năm 2003 Quốc hội đã ban hành Luật Đất đai mới để thay thế cho Luật Đất đai năm 1993. Theo đó, Chính phủ đã ban hành nhiều Nghị định quy định cụ thể về thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư…

– Về quản lý tài nguyên, tài sản kết cấu hạ tầng, tài sản dự trữ quốc gia và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp: Đây là lĩnh vực mới, trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và hội nhập với thế giới thì vấn đề quản lý các nguồn vật chất này, kiểm soát để khai thác có hiệu quả đang ngày càng trở nên quan trọng và cấp thiết, đòi hỏi phải được điều chỉnh bằng các văn bản quy phạm pháp luật. Nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, trong những năm vừa qua, Chính phủ đã trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành Luật Khoáng sản, Luật Đê điều, Luật Dầu khí, Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật Di sản văn hoá, Luật Đường sắt, Luật Doanh nghiệp, Luật Tài nguyên nước, Pháp lệnh về Khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi, Pháp lệnh Dự trữ quốc gia… Theo đó đã xác lập được các nguyên tắc cơ bản, quan trọng trong quản lý, sử dụng tài sản nhà nước ở những lĩnh vực này.

Hai là, Nhà nước đã thực hiện kiểm kê nắm được tổng quan về số lượng, giá trị và cơ cấu phân bố sử dụng tài sản nhà nước trong khu vực hành chính sự nghiệp và tài sản nhà nước trong các doanh nghiệp. Các Bộ và địa phương đã bước đầu kiểm soát được việc sử dụng tài sản nhà nước, hạn chế dần việc sử dụng tài sản không đúng mục đích, lãng phí, thất thoát.

Cơ chế quản lý tài sản nhà nước đang từng bước được hình thành theo tinh thần đổi mới, gắn với thị trường. Theo đó, các hoạt động mua, bán tài sản nhà nước, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cho thuê đất dần theo sát giá thị trường, cơ chế này cho phép huy động được một bộ phận quan trọng nguồn lực tiềm năng cho đầu tư phát triển; đồng thời góp phần ngăn chặn tiêu cực, chống thất thoát lãng phí. Bên cạnh đó còn từng bước thực hiện công khai hoá việc sử dụng tài sản nhà nước, tạo lập cơ sở, môi trường pháp lý căn bản cho việc thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước về tài sản. Đây là những nội dung rất cơ bản để Nhà nước thực hiện quản lý đầu tư, xây dựng mới, cải tạo, mua sắm, điều chuyển, thu hồi, bán, chuyển đổi hình thức sở hữu và thanh xử lý tài sản nhà nước.

Ba là, Xuất phát từ thực tế sử dụng tài sản nhà nước trong những năm qua, đặc biệt là nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước còn nhiều lãng phí, Chính phủ đã chỉ đạo thực hiện sắp xếp lại nhà, đất trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đúc rút kinh nghiệm để triển khai ra áp dụng trên phạm vi cả nước. Theo chính sách này, toàn bộ trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh được bố trí, sắp xếp lại theo nguyên tắc: Di dời các cơ sở sản xuất kinh doanh gây ô nhiễm môi trường ra các khu công nghiệp, khu kinh tế. Cơ quan, đơn vị được chủ động sắp xếp lại nhà, đất được giao theo đúng chức năng, nhiệm vụ và phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của địa phương; số nhà, đất dôi dư được phép bán, chuyển nhượng hoặc chuyển mục đích sử dụng, từ đó đã tạo ra nguồn tài chính mới để đầu tư xây mới, cải tạo, nâng cấp trụ sở làm việc hoặc được sử dụng để đầu tư xây dựng cơ sở sản xuất kinh doanh mới, đầu tư chiều sâu, tăng thêm năng lực sản xuất kinh doanh; giành quỹ đất có lợi thế thương mại cho hoạt động kinh doanh, thương mại, dịch vụ, du lịch; đồng thời giành quỹ đất để xây dựng các công trình phúc lợi xã hội như trường học, bệnh viện và các công trình phúc lợi quan trọng khác của địa phương… góp phần chỉnh trang quy hoạch lại đô thị theo hướng hiện đại. Kết quả ban đầu cho thấy chính sách này mang lại kết quả quan trọng cả về kinh tế và xã hội.

Bốn là, Quản lý tài sản nhà nước từ chỗ thụ động với công tác lập và chấp hành ngân sách nhà nước thì nay đã chủ động gắn với công tác lập và chấp hành ngân sách nhà nước, việc xây dựng dự toán ngân sách nhà nước được căn cứ trên cơ sở nhu cầu đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản phục vụ hoạt động của các cơ quan, đơn vị. Đồng thời, tài sản nhà nước bước đầu đã gắn giá trị với hiện vật, đảm bảo phù hợp với quá trình đầu tư xây dựng mới, mua sắm và sử dụng tài sản.

Năm là,Thực hiện phân cấp rõ ràng nhiệm vụ quản lý Nhà nước đối với tài sản nhà nước giữa Chính phủ và chính quyền địa phương các cấp; giữa các cơ quan có chức năng quản lý Nhà nước về tài sản và các cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản nhà nước; đồng thời xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng cấp trong quản lý, trách nhiệm của từng đơn vị trong sử dụng tài sản đảm bảo cho việc sử dụng tài sản nhà nước đi dần vào nề nếp, kỷ cương và minh bạch.

Bên cạnh kết quả đã đạt được nêu trên, công tác quản lý tài sản nhà nước cũng còn một số tồn tại, yếu kém, thể hiện ở một số mặt chủ yếu sau:

Một là, Pháp luật về quản lý đối với một số lĩnh vực tài sản còn chưa đủ, thiếu đồng bộ, chưa điều chỉnh bao quát hết các quan hệ về tài sản trong kinh tế thị trường, tính pháp lý chưa cao như tài sản nhà nước tại các cơ quan, đơn vị, tổ chức, tài sản được xác lập quyền sở hữu Nhà nước…, dẫn đến thiếu môi trường pháp lý minh bạch, đầy đủ để quản lý tài sản nhà nước một cách có hiệu quả, tiết kiệm; ở một số nơi còn xảy ra tình trạng sử dụng lãng phí, thất thoát tài sản nhà nước, gây bức xúc trong công luận và dư luận.

Hai là, Mặc dù đã có nhiều tiến bộ song việc nhìn nhận tài sản nhà nước (nhất là đất đai) như một nguồn lực tài chính thực thụ vẫn chưa được thừa nhận ở một số ngành, địa phương, đơn vị hoặc nếu có được nhận thức đúng thì cơ chế phát huy nguồn lực này vẫn còn hạn chế và thiếu đồng bộ.

Ba là, Vẫn còn tình trạng sử dụng tài sản nhà nước sai mục đích, lãng phí, thể hiện tập trung ở:

– Một bộ phận đất đai, trụ sở làm việc của các cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp, nhất là tại các đô thị còn bị sử dụng sai mục đích như: bỏ trống, cho thuê, sử dụng để kinh doanh, dịch vụ… Một số trường hợp thực hiện mua sắm, điều chuyển, thanh lý… tài sản nhà nước sai thẩm quyền, sai tiêu chuẩn, chế độ dẫn đến thất thoát tài sản nhà nước.

– Trong đầu tư xây dựng mới, mua sắm tài sản: Tình trạng đầu tư, mua sắm vượt tiêu chuẩn định mức, vượt mức giá cho phép vẫn còn tồn tại mặc dù đã hạn chế đáng kể. Tình trạng sử dụng tài sản nhà nước lãng phí, sai mục đích còn lớn.

Bốn là, Kỷ cương phép nước chưa thật nghiêm minh, chế tài xử lý những sai phạm về quản lý, sử dụng trụ sở làm việc; mua sắm sử dụng xe ô tô công, trang thiết bị… còn chưa kịp thời, có trường hợp còn dùng quỹ công để bồi thường thiệt hại do việc mua sắm, sử dụng tài sản sai dẫn đến tác dụng răn đe bị hạn chế.

Năm là, Tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước về tài sản nhà nước còn nhiều hạn chế, thiếu tính chuyên nghiệp, bị động. Quy trình nghiệp vụ quản lý chưa khoa học và lạc hậu. Tổ chức bộ máy cơ quan thực thi nhiệm vụ quản lý Nhà nước về tài sản nhà nước chưa được chú trọng kiện toàn.

Phần thứ hai

TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI THỰC HIỆN LUẬT

1. Xây dựng và ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật.

Xuất phát từ mong muốn phát huy nguồn lực tiềm năng từ đất đai, tài sản nhà nước cho công cuộc phát triển đất nước. Được sự đồng thuận cao của Quốc hội và các đại biểu Quốc hội, Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước đã được Quốc hội thông qua vào tháng 6/2008 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009. Quốc hội cũng giao Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật này. Thực hiện nhiệm vụ đã được Quốc hội giao, ngày 03/6/2009 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 52/2009/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật, theo đó Nghị định đã quy định đầy đủ và chi tiết về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại các cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập từ khâu đầu tư xây dựng, mua sắm, thuê tài sản đến chế độ bảo dưỡng, sửa chữa tài sản và thu hồi, điều chuyển, bán, thanh lý tài sản; chế độ báo cáo, công khai, kiểm tra tài sản nhà nước; sắp xếp lại, xử lý tài sản nhà nước tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị.

Bên cạnh các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành trước khi Luật được thông qua đến nay vẫn còn hiệu lực thi hành, cùng với Nghị định số 52/2009/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo ra hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về mua sắm, quản lý và sử dụng tài sản nhà nước khá đầy đủ và đồng bộ.

Đến hết năm 2009, Chính phủ, các Bộ, các địa phương đã xây dựng và ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật sau đây:

Các văn bản của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ:

– Nghị định số 52/2009/NĐ-CP ngày 03/6/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước;

– Nghị định số 106/2009/NĐ-CP ngày 16/11/2009 của Chính phủ quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại lực lượng vũ trang nhân dân;

– Quyết định số 115/2008/QĐ-TTg ngày 27/8/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy định về công khai quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và tổ chức được giao quản lý, sử dụng tài sản nhà nước;

– Quyết định số 140/2008/QĐ-TTg ngày 21/10/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc sắp xếp lại, xử lý nhà, đất thuộc sở hữu Nhà nước.

Các văn bản của Bộ Tài chính:

– Thông tư số 245/2009/TT-BTC ngày 31/12/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 52/2009/NĐ-CP;

– Thông tư số 07/2009/TT-BTC ngày 15/01/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn mẫu biểu thực hiện công khai quản lý, sử dụng tài sản nhà nước và báo cáo số liệu tình hình quản lý, sử dụng tài sản nhà nước;

– Thông tư số 175/2009/TT-BTC ngày 9/9/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Quyết định số 140/2008/QĐ-TTg.

Các văn bản của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương:

– Nghị quyết của Hội đồng nhân dân về phân cấp quản lý, sử dụng tài sản nhà nước trên địa bàn (60/63 tỉnh);

– Quy chế công khai quản lý, sử dụng tài sản nhà nước trên địa bàn.

Các đơn vị trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản nhà nước:

– Quy chế về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại đơn vị;

– Tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản đặc thù tại đơn vị.

Các văn bản đang trình Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ:

– Nghị định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước của cơ quan Việt Nam tại nước ngoài;

– Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về tiêu chuẩn, định mức sử dụng phương tiện vận tải của cơ quan Việt Nam tại nước ngoài;

– Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về tiêu chuẩn, định mức sử dụng phương tiện đi lại tại các cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp và các công ty Nhà nước (sửa đổi);

– Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về tiêu chuẩn, định mức sử dụng trụ sở làm việc tại các cơ quan Nhà nước và các đơn vị sự nghiệp (sửa đổi).

Nhận xét

1. Mặc dù Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước mới được ban hành trong thời gian ngắn, với khối lượng văn bản chính sách khá đồ sộ, bao quát hết các vấn đề về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước đã cho thấy quyết tâm của Chính phủ và các Bộ trong việc xây dựng khuôn khổ pháp lý cần thiết cho việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước theo đúng quy định của Luật; Đồng thời cũng cho thấy sự đồng thuận cao của chính quyền các địa phương trong việc triển khai thi hành Luật.

2. Các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật (mặc dù ban hành chậm hơn so với dự kiến như sẽ nêu ở phần dưới) nhưng khá chi tiết và đồng bộ. Chúng tôi xin nhấn mạnh điểm này vì quản lý, sử dụng tài sản nhà nước rất phức tạp do nhiều yếu tố như tài sản được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó nguồn ngân sách nhà nước chỉ là một nguồn; Có loại tài sản xác định được giá trị, song cũng có nhiều loại tài sản chưa hoặc rất khó xác định được giá trị; Đồng tiền Việt Nam không ổn định nên kể cả trường hợp xác định được giá trị của tài sản song vẫn chênh lệch rất lớn với giá thị trường.

3. Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước lần đầu tiên được Quốc hội ban hành. Do tính chất phức tạp và phạm vi điều chỉnh rộng nên mặc dù khi thiết kế cũng như khi ban hành, Ban soạn thảo và các đại biểu Quốc hội đều mong muốn “quy định chi tiết” ngay trong Luật để các quy phạm có tính pháp lý cao và tránh gây áp lực cho Chính phủ khi hướng dẫn thi hành song vẫn còn quá nhiều điểm phải quy định chi tiết mới thực hiện được. Vì vậy, mặc dù Chính phủ, các Bộ và địa phương có nhiều cố gắng song vẫn không tránh khỏi các hệ quả không mong muốn sau đây:

Một là, Tiến độ ban hành các văn bản chậm hơn so với yêu cầu, thậm chí chậm hơn thời hạn Luật có hiệu lực thi hành; kể cả Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật (chậm 06 tháng) và Thông tư của Bộ Tài chính hướng dẫn Nghị định này (chậm 01 năm). Đến hết năm 2009, vẫn còn hai văn bản cấp Chính phủ vẫn chưa được ban hành, đó là: Nghị định của Chính phủ về quản lý, sử dụng tài sản của Nhà nước Việt Nam tại nước ngoài và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô tại các cơ quan Việt Nam ở nước ngoài.

Chúng tôi được biết rằng sở dĩ có sự chậm trễ như trên là vào tháng 6/2009, Quốc hội Việt Nam đã ban hành Luật Cơ quan đại diện trong đó có một số nội dung có liên quan đến tài sản của cơ quan Việt Nam tại nước ngoài. Vì vậy, để tránh mâu thuẫn giữa các văn bản của Chính phủ, việc ban hành Nghị định của Chính phủ về quản lý, sử dụng tài sản Việt Nam tại nước ngoài phải chậm lại, song điều đó cũng cho thấy sự thiếu đồng bộ và tích cực của các cơ quan được giao soạn thảo cũng như trong hoạt động của các cơ quan giúp Quốc hội thẩm định và giám sát thi hành hai Luật này.

Hai là, Sự chậm trễ của các cơ quan được giao hướng dẫn thi hành Luật phần nào ảnh hưởng đến việc thực thi Luật. Như trên đã nêu, mặc dù đã có sự cải cách khi xây dựng Luật nhằm tránh cho Chính phủ phải hướng dẫn thi hành toàn bộ Luật mà chỉ hướng dẫn một số điều của Luật. Tuy nhiên, số điều cần hướng dẫn không phải là số ít mà bao gồm tới 16 nội dung. Vì vậy, không thể tránh khỏi sự lúng túng của các cấp thừa hành khi chưa có văn bản hướng dẫn.

Ba là, Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước đã đưa ra 6 nguyên tắc về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước, đó là: (1) Mọi tài sản nhà nước đều được Nhà nước giao cho cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý, sử dụng; (2) Quản lý nhà nước về tài sản nhà nước được thực hiện thống nhất, có phân công, phân cấp rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng cơ quan nhà nước và trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan nhà nước; (3) Tài sản nhà nước phải được đầu tư, trang bị và sử dụng đúng mục đích, tiêu chuẩn, định mức, chế độ, bảo đảm công bằng, hiệu quả, tiết kiệm; (4) Tài sản nhà nước phải được hạch toán đầy đủ về hiện vật và giá trị theo quy định của pháp luật. Việc xác định giá trị tài sản trong quan hệ mua, bán, thuê, cho thuê, liên doanh, liên kết, thanh lý tài sản hoặc trong các giao dịch khác được thực hiện theo cơ chếthị trường, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; (5) Tài sản nhà nước được bảo dưỡng, sửa chữa, bảo vệ theo chế độ quy định và (6) Việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước được thực hiện công khai,minh bạch; mọi hành vi vi phạm chế độ quản lý, sử dụng tài sản nhà nước phải được xử lý kịp thời, nghiêm minh theo quy định của pháp luật.

Trong các nguyên tắc trên, nguyên tắc (4) và nguyên tắc (6) được coi là các nguyên tắc tiên tiến, thể hiện rõ phương thức mới về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước trong nền kinh tế thị trường. Song khi hướng dẫn vẫn còn chưa rõ ràng, thậm chí vẫn còn chưa dứt khoát. Ví dụ như các văn bản của Chính phủ và của Bộ Tài chính hướng dẫn về bán tài sản nhà nước vẫn còn cho phép “bán chỉ định”, điều này vừa có thể dẫn đến thiệt hại cho Nhà nước (thông thường bán đấu giá sẽ cho kết quả cao hơn bán chỉ định) vừa không tạo ra sự công khai, minh bạch cần thiết cho lĩnh vực hết sức nhạy cảm này.

2. Phổ biến và tuyên truyền Luật.

Chính phủ đã giao Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp thực hiện phổ biến và tuyên truyền về nội dung của Luật này tới các cấp chính quyền, các đơn vị cơ sở.

Theo hệ thống hành chính, các Bộ, các địa phương đã thực hiện tập huấn Luật đến các đơn vị cơ sở, theo đó Bộ Tài chính tổ chức tập huấn cho các cơ quan trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Tiếp đó, các Bộ, các tỉnh, thành phố tổ chức tập huấn theo ngành hoặc tới các huyện, xã trực thuộc.

Cụ thể, Bộ Tài chính đã tổ chức 4 cuộc tập huấn để phổ biến, tuyên truyền Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành cho 559 đại biểu đến từ các Bộ, tổ chức Trung ương, Sở Tài chính và Hội đồng nhân dân các tỉnh tại Huế (24 – 25/6/2009 cho các tỉnh miền Trung), tại thành phố Hồ Chí Minh (2 – 3/7/2009 cho các tỉnh phía Nam), tại Sơn La (9 – 10/7/2009 cho các tỉnh phía Bắc) và tại Hà Nội (16/7/2009) cho các Bộ, cơ quan Trung ương. Ngoài ra, Bộ Tài chính còn hỗ trợ cho các tỉnh tập huấn đến từng cơ quan, đơn vị quản lý, sử dụng tài sản nhà nước trên địa bàn địa phương.

Tuy nhiên, quá trình nêu trên chỉ thực hiện trôi chảy ở phần nhiệm vụ của Bộ Tài chính, còn đối với các địa phương thì hầu hết mới chỉ thực hiện được ở các tỉnh lớn hoặc các tỉnh có sự hỗ trợ về giảng viên của Bộ Tài chính. Đối với các Bộ thì chỉ có khoảng 1/4 số đơn vị thực hiện tập huấn Luật này.

Đối với công tác tuyên truyền, tương tự như các Luật khác, có thể nói là công tác tuyên truyền nội dung của Luật tới các tầng lớp nhân dân kể cả cán bộ, công chức còn rất hạn chế. Đa số người dân chỉ khi có các vấn đề liên quan mới quan tâm đến Luật này. Để tạo điều kiện dễ dàng và thuận lợi cho mọi tổ chức, cá nhân quan tâm có đầy đủ thông tin khi thực hiện các vấn đề có liên quan đến tài sản nhà nước cũng như thực hiện quyền giám sát của mình, Bộ Tài chính mở trang WEB về cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản nhà nước và trang thông tin điện tử về tài sản nhà nước. Trang WEB này cho phép cập nhật kịp thời và chính xác sự hình thành và biến động tài sản nhà nước trên phạm vi quốc gia, đồng thời có khả năng kết nối vào hệ thống TABMIS đang được Bộ triển khai trên diện rộng.

Phần thứ ba

TÁC ĐỘNG CỦA LUẬT ĐỐI VỚI QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN NHÀ NƯỚC NÓI RIÊNG VÀ QUÁ TRÌNH QUẢN LÝ KINH TẾ – XÃ HỘI NÓI CHUNG

Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước được Quốc hội thông qua ngày 3/6/2008 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009. Đây là một trong những Luật đầu tiên được xây dựng theo nguyên tắc áp dụng được ngay mà không cần chờ các văn bản hướng dẫn thi hành dưới Luật. Do đó, ngay từ ngày 01/01/2009, các Bộ, địa phương đã triển khai thi hành Luật. Báo cáo của Chính phủ và kết quả khảo sát, đánh giá cho thấy các quy phạm của Luật đã đi ngay vào thực tiễn, góp phần đưa công tác quản lý, sử dụng tài sản nhà nước có chuyển biến rõ rệt, thể hiện trên các mặt sau:

1. Về mua sắm, đầu tư và trang bị tài sản nhà nước tại các cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp.

Luật có hiệu lực thi hành trong bối cảnh Quốc hội, Chính phủ đang thắt chặt chi tiêu công, nhằm đối phó với suy thoái và suy giảm kinh tế trên phạm vi toàn cầu, cũng như khu vực và quốc gia. Chính vì thế, các điều khoản của Luật về mua sắm, đầu tư, trang bị tài sản nhà nước được thi hành rất nghiêm ngặt. Trong đó, điều thành công dễ nhận thấy nhất là việc mua sắm và sử dụng xe ô tô công. Báo cáo của Bộ Tài chính cho thấy, trong cả nước năm 2009 hầu như không phát hiện được các vụ mua sắm ô tô công vượt tiêu chuẩn chế độ. Thậm chí điều này còn dẫn đến sự khó khăn của các Bộ và các địa phương trong việc thay thế các xe ô tô đã hết thời hạn sử dụng. Một điểm khác được sự đồng thuận rất cao của dư luận là tình trạng sử dụng xe công vào các mục đích riêng đã chấm dứt hoặc nếu còn thì buộc phải chuyển sang các hình thức đối phó tinh vi hơn như thay biển số xe…

Theo báo cáo của Bộ Tài chính, số xe ô tô mua sắm từ nguồn tài chính công, trong năm 2009 chỉ bằng 2/3 so với số bình quân của những năm trước. Đối với việc mua sắm các tài sản khác có giá trị lớn như máy móc chuyên dùng, điều hoà cũng có tình trạng tương tự. Riêng đối với việc xây dựng trụ sở làm việc của các cơ quan Nhà nước, chỉ được thực hiện từ ngày 1/7/2009 với dự toán ngân sách hết sức hạn chế.

Một kết quả quan trọng khác cũng được ghi nhận, đó là hầu hết tài sản nhà nước được mua sắm dưới hình thức đấu thầu (từ 100 triệu đồng trở lên). Mặc dù dư luận vẫn phát hiện tình trạng thiếu minh bạch trong đấu thầu như tạo ra các nhà thầu giả, hoặc gây sức ép với người cùng tham gia đấu thầu, song chuyển biến trên cũng thực sự đáng ghi nhận.

Bên cạnh đó, Chính phủ cũng cho triển khai thí điểm phương thức mua sắm tài sản, hàng hoá từ ngân sách Nhà nước theo phương thức tập trung. Bước đầu đạt được những kết quả khích lệ thể hiện trên các mặt chủ yếu sau:

– Đáp ứng được yêu cầu trang bị hiện đại, đồng bộ về tài sản, góp phần đổi mới công nghệ quản lý theo hướng cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước, đặc biệt là việc trang bị thiết bị công nghệ thông tin, trang thiết bị chuyên dùng trong ngành kho bạc nhà nước, y tế, giáo dục. Từng bước chuyên nghiệp hoá công tác mua sắm tài sản nhà nước, hạn chế việc các cơ quan, đơn vị không có chuyên môn phải đi mua sắm tài sản; từ đó giảm bớt được thời gian, việc mua sắm được thuận lợi, đúng pháp luật.

– Góp phần vào việc thực hành tiết kiệm, phòng chống tham nhũng, lãng phí. Qua việc triển khai mua sắm tập trung ở các Bộ, địa phương trong năm 2008 đã tiết kiệm được khoản kinh phí đáng kể. Theo báo cáo chưa đầy đủ của các Bộ, địa phương, số giảm chi mua sắm tài sản, hàng hoá theo phương thức tập trung năm 2008 so với dự toán được duyệt là trên 80 tỷ đồng.

– Tăng cường tính công khai, minh bạch, tạo điều kiện cho nhiều nhà thầu cung cấp tài sản, hàng hoá tham gia; cơ chế công khai, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm được quy định chặt chẽ; từ đó góp phần vào việc phòng, chống tham nhũng trong mua sắm tài sản nhà nước theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3 (khoá X).

Tuy nhiên, mặc dù với các ưu điểm rõ rệt như đã nêu ở trên, phương thức mua sắm tập trung vẫn chưa thực sự được các Bộ, các địa phương đón nhận. Số lượng các Bộ, địa phương tiếp tục đăng ký mở rộng thí điểm mua sắm tập trung rất hạn chế. Bộ Tài chính cũng lo ngại khi Thủ tướng Chính phủ quyết định chuyển sang thực hiện chính thức trên cả nước (dự kiến vào năm 2012) sẽ gặp nhiều khó khăn, trở ngại cả về tư tưởng cũng như về kỹ thuật.

2. Sắp xếp lại và xử lý tài sản nhà nước tại các cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp.

Chịu ảnh hưởng của quá trình phát triển lịch sử trải qua hai cuộc chiến tranh, hệ thống tài sản nhà nước của các cơ quan Nhà nước được hình thành từ nhiều nguồn: Đầu tư từ ngân sách, tiếp quản của chính quyền cũ, vay nợ, viện trợ từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước… Mặt khác, với sự thay đổi thể chế kinh tế cũng tạo ra sự biến động lớn trong tổ chức bộ máy của Nhà nước cũng như nhiệm vụ, chức năng của các Bộ, các đơn vị mà trong nhiều trường hợp việc bố trí tài sản nhà nước để phục vụ cho hoạt động không điều chỉnh kịp dẫn đến tình trạng nơi thừa, nơi thiếu về tài sản.

Để phát huy được nguyên tắc hiệu quả tiết kiệm trong quản lý, sử dụng tài sản nhà nước theo quy định của Luật, Chính phủ chủ trương sắp xếp lại, xử lý tài sản nhà nước trong khu vực công với các nội dung chủ yếu như sau:

Chính phủ yêu cầu tất cả các Bộ, địa phương phải tổ chức rà soát kê khai, lập phương án sắp xếp lại, xử lý nhà, đất thuộc phạm vi quản lý. Theo đó, nhà, đất dôi dư, cho mượn, cho thuê không đúng quy định thì cho phép chuyển sang sử dụng vào mục đích khác có hiệu quả hơn hoặc chuyển nhượng. Nếu không tự xử lý được thì Nhà nước thu hồi. Điểm nổi bật trong chính sách của Chính phủ về sắp xếp lại, xử lý nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước là cho phép các cơ quan nhà nước, kể cả các đơn vị sự nghiệp được phép chuyển nhượng và sử dụng số tiền thu được do chuyển nhượng không chỉ đối với tài sản gắn liền với đất mà kể cả giá trị quyền sử dụng đất. Đây là một chính sách kích thích rất mạnh vì các cơ quan này được giao đất không thu tiền. Xét về mặt quản lý ngân sách thì chính sách này cũng có một vài điểm chưa phù hợp khi cho phép các cơ quan của Trung ương được sử dụng tiền thu được từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước thì khoản thu này thuộc nguồn thu của ngân sách địa phương. Tuy nhiên, Bộ Tài chính đã hướng dẫn khi sử dụng nguồn thu này, đơn vị phải được Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân hoặc Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp chấp thuận. Chính vì thế nên khi triển khai trên thực tế đã không xảy ra vướng mắc nào đáng kể.

Kết quả cho thấy việc triển khai thực hiện sắp xếp lại, xử lý nhà, đất thuộc sở hữu Nhà nước đã có 68 Bộ, cơ quan trung ương, 17 Tổng công ty Nhà nước và 44 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện báo cáo kê khai và đề xuất phương án sắp xếp lại, xử lý nhà, đất với tổng số 66.098 cơ sở nhà, đất, tổng diện tích đất trên 5.278 triệu m2 và tổng diện tích nhà trên 89 triệu m2.

Các Bộ, cơ quan trung ương, Tổng công ty Nhà nước và địa phương đã có phương án sắp xếp lại, xử lý tổng thể đối với 40.679 cơ sở nhà, đất (đạt tỷ lệ 61,5%); Ban chỉ đạo 09 các tỉnh, thành phố đã thông qua phương án sắp xếp lại, xử lý đối với 29.314 cơ sở nhà, đất (đạt tỷ lệ 44,3%); Bộ Tài chính và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh đã phê duyệt 24.267 cơ sở nhà, đất (đạt tỷ lệ gần 36,7%). Số tiền thu được từ bán tài sản trên đất và chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất trên 18 ngàn tỷ đồng, trong đó: khối trung ương là 338 tỷ đồng; khối Tổng công ty Nhà nước là 730 tỷ đồng; khối địa phương trên 17 ngàn tỷ đồng.

Thông qua việc sắp xếp lại, xử lý nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước đã đạt được các mục tiêu cơ bản, tạo ra sự chuyển biến tích cực về nhận thức, nâng cao tinh thần trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong việc quản lý, sử dụng các cơ sở nhà, đất thuộc sở hữu Nhà nước đúng mục đích, hiệu quả, tiết kiệm; Khai thác được quỹ nhà, đất dôi dư để đưa vào sử dụng có hiệu quả hoặc bán để tạo nguồn vốn cho đầu tư phát triển; Góp phần thực hiện quy hoạch, cải tạo, chỉnh trang đô thị, đảm bảo môi trường.

3. Về xử lý tài sản nhà nước

Bên cạnh việc sắp xếp lại, xử lý nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước, Chính phủ khuyến khích và tạo điều kiện để các Bộ, địa phương, các đơn vị phát huy quyền chủ động trong việc xử lý tài sản nhà nước được giao dưới các hình thức chủ yếu như sau:

3.1. Điều chuyển từ nơi thừa sang nơi thiếu.

Qua kết quả rà soát tại các Bộ, địa phương đã thực hiện điều chuyển tài sản thuộc phạm vi quản lý. Trong đó, đáng chú ý là các Bộ mới được hình thành trên cơ sở sát nhập từ các Bộ cũ như Bộ Bưu chính viễn thông, Bộ Văn hoá, thể thao và du lịch, Bộ Thông tin và truyền thông, Bộ Công thương… đã thực hiện có kết quả phương thức điều chuyển để đảm bảo vận hành bộ máy mới mà không phải tăng chi ngân sách Nhà nước. Đồng thời, Chính phủ cũng chỉ đạo quyết liệt việc xem xét xử lý tài sản của các dự án kết thúc. Theo đó, Bộ Tài chính đã phối hợp với các Bộ có liên quan xử lý theo hình thức điều chuyển 62 xe ô tô của các dự án kết thúc; cụ thể: Bộ Giao thông vận tải thực hiện điều chuyển 01 xe với nguyên giá gần 800 triệu cho Bộ Tư pháp; Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn thực hiện điu chuyển 60 xe với tổng nguyên giá trên 50 tỷ đồng; Bộ Lao động Thương binh và Xã hội thực hiện điều chuyển 01 xe với nguyên giá trên 300 triệu đồng. Các Bộ, địa phương đã thực hiện điều chuyển xe ô tô từ nơi thừa sang nơi thiếu giữa các cơ quan, đơn vị trong phạm vi quản lý là 16 xe với giá trị còn lại gần 8 tỷ đồng.

Việc điều chuyển tài sản kịp thời đã góp phần xử lý hiệu quả, tiết kiệm tài sản nhà nước, giúp các Bộ, địa phương có phương tiện để phục vụ công tác trong điều kiện ngân sách hạn hẹp và việc mua mới xe ô tô theo quy định hiện hành còn bị hạn chế.

3.2. Thu hồi, thanh lý và tiêu huỷ tài sản không còn sử dụng.

Các Bộ, địa phương và các đơn vị cũng đẩy mạnh xử lý các tài sản không cần dùng hoặc hết hạn sử dụng để làm trong sạch hệ thống kế toán tài sản và thu hồi phần giá trị còn lại. Bộ Giao thông vận tải đã xắp xếp lại tài sản của các trạm thu phí, xử lý dứt điểm tài sản của các dự án xây dựng cầu, đường từ nhiều năm trước. Bộ Y tế cũng tập trung xử lý thuốc dự trữ đã hết hạn sử dụng… Đáng chú ý là, lần đầu tiên các Bộ, địa phương đã thực hiện tiêu huỷ các tài sản không còn giá trị sử dụng buộc phải tiêu huỷ (văn hoá phẩm ngoài luồng, dược phẩm không còn giá trị sử dụng…).

Tuy nhiên, việc thanh lý tài sản chưa thực hiện được đúng theo quy định về thời hạn sử dụng, đặc biệt là đối với xe ô tô công. Báo cáo khảo sát cho thấy, tại nhiều địa phương, các đơn vị vẫn còn phải sử dụng các xe ô tô công đã hết thời hạn sử dụng theo quy định. Mặc dù có nguyên nhân khách quan là Chính phủ hạn chế mua sắm như đã nêu ở phần trên, song đây cũng là nguyên nhân hạn chế kết quả thực hiện nhiệm vụ của một số đơn vị cũng như tăng chi phí vận hành, sửa chữa và tác động xấu đến môi trường.

3.3. Công khai quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.

Chính phủ cho rằng công khai việc quản lý, sử dụng các nguồn lực công (kể cả ngân sách và tài sản) là một trong những giải pháp quan trọng nhằm phòng chống tham nhũng, lãng phí. Ngay từ khi Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước chưa có hiệu lực thi hành, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 115/2008/QĐ-TTg ngày 27/8/2008 về chế độ công khai quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.

Theo báo cáo nhanh của các Bộ và các địa phương, tất cả các đơn vị trực thuộc đã triển khai thực hiện chế độ công khai và báo cáo quản lý, sử dụng tài sản nhà nước. Kết quả bước đầu cho thấy, việc công khai tài sản nhà nước đã có tác dụng rõ rệt trong việc làm minh bạch hệ thống quản lý tài sản, nâng cao khả năng giám sát của cán bộ, công chức và người dân đối với việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.

3.4. Xây dựng và vận hành Trung tâm quản lý, khai thác dữ liệu quốc gia về tài sản nhà nước.

Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả và tiết kiệm chi phí của việc công khai và báo cáo quản lý, sử dụng tài sản nhà nước, Bộ Tài chính đã triển khai xây dựng và vận hành hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản nhà nước. Nếu hệ thống này vận hành trôi chảy thì toàn bộ hệ thống dữ liệu về tài sản nhà nước sẽ được tập trung kiểm soát tại Bộ Tài chính (giai đoạn 1 mới thực hiện đối với trụ sở làm việc, xe ô tô và tài sản có giá trị từ 500 triệu đồng trở lên, dự kiến đến năm 2013 sẽ mở rộng ra đối với toàn bộ tài sản cố định và kết nối với chương trình TABMIS của Chính phủ).

Theo báo cáo của Bộ Tài chính, đến thời điểm hiện nay có 2/3 tổng số các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã cập nhật số liệu vào hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản nhà nước; đối với các Bộ, cơ quan Trung ương thì số lượng ít hơn (mới có 4/26 Bộ) song được biết Bộ Tài chính đã có những giải pháp quyết liệt để thúc đẩy tiến độ thực hiện vì Bộ Tài chính đã cam kết với Chính phủ sẽ báo cáo ra Quốc hội vào tháng 6/2010 số liệu tổng thể về tài sản nhà nước trên phạm vi cả nước theo đúng quy định của Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.

Chúng tôi cho rằng việc vận hành hệ thống này rất quan trọng vì nó cho phép tổng hợp nhanh và kịp thời số lượng và chất lượng của tài sản nhà nước trên phạm vi cả nước. Trên cơ sở hệ thống này sẽ thay thế từng bước hệ thống báo cáo cũ dựa trên giấy tờ vừa tốn kém, vừa rất khó tổng hợp, không kịp thời.

Phần thứ tư

RỦI RO VÀ BIỆN PHÁP GIẢM THIỂU RỦI RO

Như trên đã trình bày, Luật có phạm vi điều chỉnh rộng, tác động đến tất cả các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội cũng như công dân. Trong 1 năm thi hành chưa thể bộc lộ hết kết quả cũng như hạn chế.

Tuy nhiên, qua báo cáo của Chính phủ cũng như khảo sát thực tế tại một số tỉnh, thành phố, chúng tôi thấy nổi lên một số rủi ro sau:

1. Hệ thống pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước mặc dù về cơ bản là dược ban hành đồng bộ, song vẫn tạo ra sự khác biệt, chồng chéo với hệ thống pháp luật chuyên ngành khác như pháp luật về đất đai, pháp luật về quản lý doanh nghiệp, pháp luật về bán đấu giá tài sản… Luật cũng chưa bao hết toàn bộ hệ thống tài sản nhà nước như tài sản tại doanh nghiệp Nhà nước, tài nguyên, tài sản kết cấu hạ tầng… nên phần nào bị hạn chế tác dụng.

2. Luật đã đưa ra những phương thức quản lý tài sản nhà nước mới, gắn với thị trường, như mua bán thông qua đấu giá, cho phép cơ quan được đi thuê trụ sở, mua sắm tài sản theo phương thức tập trung, giao vốn và tài sản cho đơn vị sự nghiệp công lập… Khi vận hành trong thực tế, những cơ chế này xung đột với cơ chế cũ vận hành từ nhiều năm, nên không tránh khỏi lúng túng, hạn chế kết quả. Thậm chí còn có những động thái không muốn thi hành cơ chế mới.

3. Tài sản nhà nước được hình thành từ nhiều nguồn, hệ thống sổ sách kế toán được phản ánh đơn nhất bằng tiền Việt Nam với sc mua không ổn định, gây sự khó khăn cho việc theo dõi và quản lý tài sản nhà nước một cách hệ thống. Đặc biệt là việc tiền tệ hoá các tài sản có hình thái hiện vật như tài nguyên, rừng, tài sản kết cấu hạ tầng…

4. Các công cụ hỗ trợ về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước như hệ thống tư vấn, thẩm định giá, kiểm toán còn yếu, chưa có vị trí pháp lý đáng tin cậy đối với các cơ quan Nhà nước và xã hội.

5. Tổ chức bộ máy quản lý tài sản nhà nước chưa được thống nhất ở trung ương và các địa phương. Đến nay còn trên 50% các tỉnh, thành phố chưa có tổ chức quản lý công sản độc lập. Sự gắn kết chỉ đạo giữa hệ thống công sản ở trung ương với các địa phương còn rời rạc, chưa tạo ra một hệ thống đủ sức đảm đương công việc.

Kiến nghị các giải pháp khắc phục:

Để phát huy kết quả tác động của việc triển khai Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước, trên cơ sở đánh giá của bản Báo cáo này, Nhóm tư vấn xin kiến nghị một số giải pháp nhằm khắc phục các rủi ro nêu trên như sau:

1. Bổ sung, sửa đổi Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước theo hướng mở rộng phạm vi điều chỉnh theo đúng phạm vi tài sản nhà nước được quy định tại Hiến pháp. Chúng tôi biết rằng đây là vấn đề rất khó khăn vì sẽ tạo ra xung đột giữa các Luật như: Luật Đất đai, Luật Tài nguyên, Luật Dầu khí, Bộ luật Hàng hải… Tuy nhiên, để đảm bảo sự đồng bộ, nhất quán thì cần phải có lộ trình để hoàn thiện Luật này hoặc nghiên cứu hình thành Bộ Luật về tài sản công.

2.Thường xuyên rà soát để bổ sung kịp thời các văn bản pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước để đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra.

3. Chính phủ cần nghiên cứu, ban hành các quy định về quản lý tài sản và vốn của các doanh nghiệp khi cổ phần hoá, vừa đảm bảo quyền lợi của Nhà nước khi chuyển sang hình thức sở hữu mới, vừa không cản trở hoạt động của các doanh nghiệp cổ phần.

4. Nâng cấp hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản nhà nước đảm bảo vận hành trong khuôn khổ hệ thống TABMIS và IMIS.

5. Chính phủ xem xét tổ chức bộ máy quản lý tài sản nhà nước, thống nhất từ trung ương đến các địa phương. Trước mắt phải tập trung kiện toàn hệ thống quản lý công sản của các Bộ và các địa phương, nhất là các tỉnh, thành phố có khối lượng tài sản nhà nước lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh. Song song với công tác kiện toàn tổ chức bộ máy thì công tác đào tạo cán bộ có chuyên môn sâu về quản lý tài sản nhà nước cũng được đặt ra hết sức quan trọng và cấp thiết.

6. Các nhà tài trợ tiếp tục ủng hộ Chính phủ trong việc triển khai thi hành Luật cũng như bổ sung, sửa đổi Luật này khi cần thiết thông qua các dự án độc lập và dự án hỗn hợp với sự tham gia của các tổ chức song phương và đa phương./.

SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỤC QUẢN LÝ CÔNG SẢN – BỘ TÀI CHÍNH (THÔNG TIN VỀ TÁC GIẢ CHƯA ĐƯỢC CẬP NHẬT)

Advertisements

One Response

  1. Trang tin pháp luật rất hữu ích cho mọi người
    http://trangtinphapluat.com/

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: