BÁO CÁO NGÀY 18 THÁNG 01 NĂM 2010 CỦA THƯỜNG TRỰC ỦY BAN KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ VÀ MÔI TRƯỜNG VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LỚN CỦA DỰ ÁN LUẬT AN TOÀN THỰC PHẨM

Tài liệu phục vụ Phiên họp thứ 27 của Ủy ban thường vụ Quốc hội (19.1.2010)

Kính gửi:

Ủy ban thường vụ Quốc hội

Tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội đã thảo luận về Dự án Luật An toàn thực phẩm. Sau kỳ họp Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo Thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường chủ trì phối hợp với Ban Soạn thảo và các cơ quan hữu quan nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội để chỉnh lý dự thảo Luật.

Thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường (KHCN-MT) xin báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội về một số vấn đề lớn đã được nghiên cứu và tiếp thu, chỉnh lý trong dự thảo Luật.

1. Về quản lý an toàn thực phẩm đối với thực phẩm sản xuất, kinh doanh quy mô nhỏ lẻ

Có ý kiến đề nghị làm rõ Luật có quản lý an toàn thực phẩm (ATTP) đối với thực phẩm sản xuất, kinh doanh quy mô nhỏ lẻ hay chỉ quy định đối với thực phẩm sản xuất, kinh doanh quy mô công nghiệp.

Về vấn đề này, Thường trực Ủy ban KHCN-MT thấy rằng, ở Việt Nam, việc sản xuất, kinh doanh thực phẩm quy mô nhỏ lẻ còn phổ biến, liên quan trực tiếp tới đời sống của 9,4 triệu hộ nông dân trực tiếp sản xuất nông sản và tiểu thương kinh doanh thực phẩm quy mô nhỏ lẻ tại các chợ. Vì vậy, để phù hợp với điều kiện thực tế và đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, dự thảo Luật quy định theo hướng:

– Mọi cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm đều phải bảo đảm ATTP, việc quản lý ATTP dựa trên tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật (Điều 3); Nhà nước có chính sách khuyến khích phát triển các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất, xây dựng thương hiệu, phát triển hệ thống cung cấp thực phẩm an toàn; thực hiện lộ trình bắt buộc áp dụng hệ thống Thực hành sản xuất tốt (GMP), Thực hành nông nghiệp tốt (GAP)… (Điều 4), quy định về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong bảo đảm an toàn thực phẩm (Chương II), quy định về điều kiện bảo đảm an toàn đối với thực phẩm (Chương III)…

– Đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh quy mô nhỏ lẻ thì việc quản lý ATTP được thực hiện theo quy định của Bộ quản lý chuyên ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định tại Điều 22 của dự thảo Luật.

2. Về hạn sử dụng thực phẩm

Có ý kiến đề nghị không nên sử dụng thuật ngữ “hạn sử dụng thực phẩm” vì khái niệm này không chuẩn xác mà nên dùng các thuật ngữ như “sử dụng tốt nhất trước ngày”, “ngày sử dụng cuối”, “ngày sản xuất”.

Thường trực Ủy ban KHCN-MT nhận thấy, theo quy định của Ủy ban tiêu chuẩn thực phẩm (CODEX) tại tiêu chuẩn CODEX STAN 1-1985 thì khái niệm hạn sử dụng được dùng đối với thực phẩm gồm: “thời hạn sử dụng tốt nhất trước ngày[1], “ngày sử dụng cuối[2], “ngày sản xuất”… Thời hạn sử dụng của thực phẩm hiện nay phụ thuộc nhiều

vào công nghệ sản xuất, điều kiện bảo quản, phương pháp bảo quản thực phẩm. Tuy nhiên, ở Việt Nam khái niệm “hạn sử dụng” đã được dùng trong nhiều văn bản pháp luật. Vì vậy, để phù hợp với thông lệ quốc tế và thực tiễn của Việt Nam, dự thảo Luật đã làm rõ khái niệm “Hạn sử dụng thực phẩm là thời hạn mà thực phẩm bao gói sẵn vẫn giữ nguyên được giá trị dinh dưỡng và bảo đảm an toàn trong điều kiện bảo quản được ghi trên nhãnđể làm căn cứ để xác định các vi phạm pháp luật về ATTP.

3. Về ghi nhãn đối với thực phẩm biến đổi gen (khoản 2 Điều 45)

– Đa số ý kiến đề nghị cần phải ghi nhãn đối với tất cả thực phẩm biến đổi gen.

– Có ý kiến đề nghị chỉ cần ghi nhãn thực phẩm biến đổi gen khi tỷ lệ nguyên liệu biến đổi gen từ 3 % trở lên để giảm bớt chi phí về ghi nhãn và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam.

Về vấn đề này, Thường trực Ủy ban KHCN-MT thấy rằng, trên thế giới hiện có 2 loại ý kiến về quản lý loại thực phẩm này:

Loại ý kiến thứ nhất cho rằng: khối các nước trong Liên minh châu Âu thì có quan điểm quản lý chặt chẽ thực phẩm biến đổi gen, thực phẩm có tỷ lệ nguyên liệu biến đổi gen trên 0,9% đều phải ghi nhãn; một số nước như Nhật Bản, Nga, Hàn Quốc… thì yêu cầu ghi nhãn đối với sản phẩm có tỷ lệ nguyên liệu biến đổi gen cao hơn mức giới hạn, dao động từ 1% đến 5% tùy theo từng nước.

Loại ý kiến thứ hai cho rằng: một số nước như Mỹ, Argentina, Canada, Malaysia, Philippin và một số nước khác thì có quan điểm không ghi “thực phẩm biến đổi gen” trên nhãn thực phẩm. Việc quản lý loại thực phẩm này áp dụng như đối với thực phẩm thông thường.

Việt Nam là nước xuất khẩu nông sản thực phẩm lớn trên thế giới[3]; ngành công nghệ sinh học, đặc biệt công nghệ gen ở Việt Nam còn mới mẻ nên sản xuất thực phẩm biến đổi gen còn đang ở giai đoạn nghiên cứu, thực phẩm biến đổi gen chủ yếu là qua nhập khẩu. Vì vậy, để phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và thông lệ quốc tế, dự thảo Luật quy định khoảng giới hạn tỷ lệ nguyên liệu biến đổi gen phải ghi nhãn ở mức dao động từ 1- 5% trở lên và giao cho Chính phủ quy định cụ thể .

Vì vậy, điểm đ khoản 2 Điều 45 của dự thảo Luật được quy định như sau:

“đ) Đối với thực phẩm biến đổi gen hoặc nguyên liệu thực phẩm biến đổi gen phải ghi rõ dòng chữ "Biến đổi gen" bên cạnh tên thành phần có gen bị biến đổi khi thành phần đó vượt tỷ lệ ở mức từ 1- 5% trở lên.

Căn cứ vào kết quả nghiên cứu khoa học về mức độ an toàn của thực phẩm biến đổi gen và yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ, Chính phủ quy định cụ thể mức tỷ lệ nguyên liệu biến đổi gen trong thực phẩm bắt buộc phải ghi nhãn”.

4. Về thanh tra chuyên ngành về ATTP

– Đa số ý kiến đề nghị cần quy định về tổ chức và hoạt động của thanh tra chuyên ngành về ATTP từ Trung ương đến cấp huyện. Thanh tra ATTP thuộc ngành nào sẽ thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong phạm vi quản lý Nhà nước của ngành đó. Cần làm rõ các vấn đề về quyền hạn, trách nhiệm của thanh tra chuyên ngành; tổ chức thanh tra; trách nhiệm thanh tra của cơ quan thanh tra của từng bộ; phối hợp giữa các Bộ, ngành trong thanh tra ATTP; các chế tài xử lý kịp thời đối với các vi phạm pháp luật.

– Có ý kiến cho rằng, không cần thiết quy định về thanh tra chuyên ngành ATTP trong dự thảo Luật mà nên theo Luật Thanh tra.

Thường trực Ủy ban KHCN–MT thấy rằng, hiện tại, các văn bản luật ban hành gần đây đều quy định việc thanh tra chuyên ngành được thực hiện theo pháp luật về thanh tra. Tuy nhiên, thực tiễn giám sát cho thấy, lực lượng thanh tra chuyên ngành về ATTP còn yếu và thiếu. Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu thực tiễn về quản lý nhà nước về ATTP, dự thảo Luật cần quy định về hệ thống thanh tra chuyên ngành ATTP từ Trung ương tới địa phương, làm rõ thanh tra ATTP gồm thanh tra trong ngành y tế và ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn; nội dung thanh tra chuyên ngành ATTP; việc phối hợp giữa thanh tra chuyên ngành của các bộ với một số lực lượng khác trong công tác bảo đảm an toàn thực phẩm. Trên cơ sở đó, Chính phủ sẽ quy định cụ thể tổ chức và hoạt động của thanh tra chuyên ngành về ATTP. Theo hướng trên, dự thảo Luật đã chỉnh sửa Điều 64 và 65 quy định về thanh tra chuyên ngành về ATTP như sau:

Điều 64. Thanh tra chuyên ngành về an toàn thực phẩm

1. Thanh tra chuyên ngành về an toàn thực phẩm và việc tổ chức bộ máy thanh tra chuyên ngành về an toàn thực phẩm do ngành y tế, ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn thực hiện theo quy định của pháp luật về thanh tra.

2. Chính phủ quy định việc phối hợp hoạt động giữa các lực lượng thanh tra chuyên ngành của các Bộ, cơ quan ngang bộ với một số lượng lượng khác trong công tác bảo đảm an toàn thực phẩm.

Điều 65. Nội dung thanh tra chuyên ngành về an toàn thực phẩm

1. Việc thực hiện các quy chuẩn kỹ thuật, quy định về an toàn thực phẩm đối với sản xuất, kinh doanh thực phẩm và sản phẩm thực phẩm do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành.

2. Việc thực hiện các tiêu chuẩn do người sản xuất công bố áp dụng đối với sản xuất, kinh doanh thực phẩm và sản phẩm thực phẩm.

3. Hoạt động quảng cáo, ghi nhãn đối với thực phẩm thuộc phạm vi quản lý;

4. Hoạt động chứng nhận hợp quy, kiểm nghiệm an toàn thực phẩm.

5. Việc thực hiện các quy định khác của pháp luật về an toàn thực phẩm”.

5. Về phân công trách nhiệm của các bộ trong quản lý nhà nước về ATTP

Có 2 loại ý kiến khác nhau:

Đa số ý kiến tán thành việc giao Bộ Y tế chịu trách nhiệm trước Chính phủ quản lý nhà nước về ATTP và đề nghị cần làm rõ trách nhiệm của Bộ Y tế và các bộ quản lý chuyên ngành.

– Loại ý kiến thứ hai đề nghị nên giao cho Bộ Khoa học và Công nghệ chịu trách nhiệm trước Chính phủ quản lý nhà nước về ATTP; ý kiến khác đề nghị nên giao trách nhiệm quản lý nhà nước về ATTP cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Về vấn đề này, Thường trực Ủy ban KHCN-MT thấy rằng, ATTP liên quan trực tiếp tới sức khỏe, tính mạng của người dân nên việc quy định Bộ Y tế chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm là phù hợp.

Về vấn đề cần làm rõ trách nhiệm của Bộ Y tế và các bộ quản lý chuyên ngành, Thường trực Ủy ban KHCN-MT thấy rằng: Hiện nay, việc quản lý nhà nước về ATTP còn quá nhiều bộ tham gia (Nghị định 163/2004/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm thì quản lý nhà nước được phân công cho 8 bộ, Nghị định 79/2008/NĐ-CP quy định hệ thống tổ chức quản lý, thanh tra và kiểm nghiệm về VSATTP thì phân công cho 5 Bộ). Chính vì vậy, trong nhiều công đoạn của quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm còn có sự chồng chéo trong quản lý nhà nước, khi xảy ra vụ việc khó xác định trách nhiệm của các Bộ có liên quan như đã nêu trong Báo cáo giám sát số 225/BC-UBTVQH của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc thực hiện chính sách, pháp luật về chất lượng, vệ sinh ATTP trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 5. Vì vậy, dự thảo Luật đã tiếp thu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội về phân công trách nhiệm quản lý nhà nước về ATTP theo một số nguyên tắc sau đây:

Một là, bảo đảm việc quản lý xuyên suốt trong toàn bộ chuỗi cung cấp thực phẩm.

Hai là, hạn chế sự chồng chéo trong quản lý nhà nước về ATTP, tránh việc một cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm có nhiều cơ quan quản lý nhà nước vào thanh tra, kiểm tra.

Ba là, giảm bớt số bộ tham gia vào quản lý nhà nước về ATTP.

Bốn là, không gây xáo trộn lớn trong tổ chức hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về ATTP từ trung ương đến địa phương.

Để cụ thể hóa nguyên tắc này, có 2 phương án thể hiện sau đây:

Phương án 1: Quy định mang tính nguyên tắc về trách nhiệm của Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn trong quản lý nhà nước về ATTP với một số nhóm sản phẩm thực phẩm mà các bộ đã có kinh nghiệm và thực tiễn quản lý[4]. Bộ Công thương có trách nhiệm phối hợp với các bộ hữu quan trong quản lý nhà nước về ATTP; chủ trì trong công tác phòng, chống thực phẩm giả, gian dối thương mại trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm[5]. Các vấn đề còn có sự giao thoa, chồng lấn trách nhiệm giữa các bộ thì giao cho Chính phủ quy định cụ thể. Như vậy, khi Luật được ban hành thực hiện được ngay, tránh tình trạng chờ đợi Nghị định phân công.

Phương án 2: Quy định nguyên tắc phân công trách nhiệm quản lý nhà nước giữa các bộ; chỉ quy định rõ trách nhiệm quản lý nhà nước về ATTP của Bộ Y tế là cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ quản lý nhà nước về ATTP và giao Chính phủ phân công cụ thể.

Vấn đề này xin ý kiến Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định. Trong dự thảo Luật, phân công trách nhiệm quản lý nhà nước về ATTP thể hiện theo phương án 1 như tại các Điều 61 và Điều 62.

– Có ý kiến đề nghị trong Luật nên có quy định về Ủy ban quốc gia về An toàn thực phẩm để tham mưu cho Chính phủ quản lý nhà nước về ATTP.

Thường trực Ủy ban KHCN-MT tán thành với sự cần thiết thành lập Ủy ban này để tham mưu cho Chính phủ trong quản lý nhà nước về ATTP. Tuy nhiên, đây là vấn đề thuộc thẩm quyền của Chính phủ. Vì vậy, xin không bổ sung nội dung này vào trong dự thảo Luật.

– Có ý kiến đề nghị nên thành lập cơ quan quản lý nhà nước về ATTP theo ngành dọc.

Thường trực Ủy ban KHCN-MT thấy rằng, hiện tại hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về ATTP đã có ở Trung ương, ở địa phương. Nếu thành lập cơ quan quản lý nhà nước về ATTP theo ngành dọc sẽ gây xáo trộn lớn trong hệ thống quản lý. Vì vậy, xin được giữ như dự thảo Luật.

Ngoài các vấn đề lớn có ý kiến khác nhau nêu trên, Thường trực Ủy ban KHCN-MT cũng đã tiếp thu, chỉnh lý nhiều điều, khoản trong dự thảo Luật theo ý kiến góp ý của các vị đại biểu Quốc hội tại kỳ họp thứ 6.

Sau khi tiếp thu, chỉnh lý, dự thảo Luật gồm 12 chương, 83 điều.

Xin kính trình Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.

THƯỜNG TRỰC ỦY BAN KHOA HỌC,
CÔNG NGHỆ VÀ MÔI TRƯỜNG


[1] Nghĩa là ngày kết thúc giai đoạn mà theo bất kỳ điều kiện lưu giữ nào được quy định, sản phẩm trong thời gian đó hoàn toàn có thể đáp ứng được các yêu cầu tiếp thị và giữ nguyên được bất kỳ tiêu chí nào về chất lượng. Tuy nhiên, sau ngày đó, thực phẩm vẫn đáp ứng được yêu cầu sử dụng.

[2] Nghĩa là ngày mà kết thúc giai đoạn được tính trước theo bất kỳ điều kiện lưu giữ nào được quy định. Sau ngày đó sản phẩm sẽ không còn các thuộc tính về chất lượng mà khách hàng mong đợi.

[3] Theo con số thông kê của Bộ Công thương, năm 2008 cả nước xuất khẩu trên 10,2 tỷ USD nông sản thực phẩm. Sản phẩm thực phẩm Việt Nam có mặt trên nhiều thị trường lớn như EU, Nhật Bản, Mỹ…

[4] Nghị định 163/2004/NĐ-CP ngày 7/9/ 2004 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm; Nghị định số 79/2008/NĐ-CP ngày 18/7/ 2008 của Chính phủ quy định hệ thống tổ chức quản lý, thanh tra và kiểm nghiệm về vệ sinh an toàn thực phẩm; Nghị định 01/2008/NĐ–CP ngày 3/1/2008 của Chính phủ quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ NN-PTNT, Nghị định 188/2007/NĐ–CP ngày 27/12/2007 quy định về chức năng, nhiệm vụ , quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Y tế.

[5] Nghị định số 189/2007/NĐ–CP ngày 27/12/2007 của Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ , quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công thương.

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: