Ý NGHĨA CỦA VIỆC GIA NHẬP WTO ĐỐI VỚI CHÍNH PHỦ VÀ CÁC DOANH NGHIỆP

MUTRAP

1. Bản chất của WTO

Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) được thành lập vào ngày 1 tháng 1 năm 1995 và là một bước phát triển toàn diện của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT). WTO quản lý các Hiệp định thương mại do các Thành viên ký kết, đặc biệt là Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT), Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (GATS) và Hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs). Các quy định và thủ tục của WTO tạo ra một khuôn khổ cho việc trao đổi hàng hóa, dịch vụ và sở hữu trí tuệ. Các nguyên tắc và quy định được các Thành viên đàm phán thông qua các cuộc thảo luận chính thức và không chính thức khác trong các diễn đàn khác nhau của WTO và các vòng đàm phán thương mại đa phương định kỳ như Vòng đàm phán Đôha vì sự phát triển hiện nay (DDA).

Các Thành viên WTO có trình độ kinh tế khác nhau, từ những nền kinh tế kém phát triển nhất cho tới những nền kinh tế phát triển nhất. Sự thành công của tổ chức này được thể hiện ở sự phát triển liên tục số lượng các nước tham gia. Kể từ khi tổ chức này được thành lập, đã có hai mươi hai nước – kể cả Việt Nam – gia nhập WTO, đưa tổng số Thành viên lên tới 150 (tới thời điểm tháng 10 năm 2007), chiếm trên 90% tổng thương mại toàn cầu. Các Thành viên mới của châu Á gia nhập WTO trước Việt Nam là Trung Quốc và Đài Loan, hai nền kinh tế gia nhập năm 2001 và 2002, Ácmênia (2003), Campuchia (2004) và Nêpan (2004).

WTO coi việc không phân biệt đối xử, mở cửa thị trường và cạnh tranh toàn cầu trong thương mại quốc tế sẽ thúc đẩy phúc lợi quốc gia tại tất cả các nước là triết lý nền tảng của mình. Một lý do khiến WTO tồn tại là các hạn chế về chính trị đã ngăn cản các Chính phủ áp dụng các chính sách thương mại hiệu quả hơn, và thông qua sự trao đổi có đi có lại các cam kết tự do hóa, các nước có thể vượt qua các hạn chế chính trị này. Các quy định và thủ tục của WTO (www.wto.org) được xây dựng dựa trên một số nguyên tắc chung, các nguyên tắc này có thể được tóm tắt dưới đây:

Đối xử tối huệ quốc (MFN): Nguyên tắc không phân biệt đối xử này quy định rằng việc nhập khẩu khẩu hàng hóa và dịch vụ từ một Thành viên WTO sẽ được đối xử không kém thuận lợi hơn việc nhập khảu hàng hóa và dịch vụ từ bất kỳ Thành viên nào khác. Đối xử MFN là vô điều kiện. Trên thực tiễn, trong hầu hết các trường hợp điều này có nghĩa một nước không thể áp dụng mức thuế nhập khẩu đối với sản phẩm nhập khẩu từ một Thành viên cao hơn so với mức thuế áp dụng đối với sản phẩm tương tự từ bất kỳ Thành viên nào khác. Các Khu vực Mậu dịch tự do như Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và liên minh thuế quan nếu thỏa mãn một số điều kiện nhất định sẽ được coi là ngoại lệ của nguyên tắc MFN.

Đối xử quốc gia: Nguyên tắc không phân biệt đối xử này quy định rằng sản phẩm và dịch vụ nhập khẩu sẽ được hưởng đối xử không kém thuận lợi hơn đối xử dành cho sản phẩm tương tự trong nước. Trên thực tiễn, nguyên tắc này quy định các Chính phủ không được phân biệt đối xử đối với hàng nhập khẩu khi áp dụng các luật lệ và quy định trong nước, như các quy định về thuế hay bảo vệ người tiêu dùng và môi trường. Tuy nhiên, sự phân biệt đối xử đối với hàng nhập khẩu vẫn có thể được thực hiện thông qua các biện pháp tại biên giới, đặc biệt là thuế quan. Đối với thương mại dịch vụ, việc dành đối xử quốc gia không phải là tự động do nguyên tắc này phải được đàm phán trong từng phân ngành hay thậm chí từng dịch vụ cụ thể.

Chỉ áp dụng thuế quan để kiểm soát thương mại: để tạo điều kiện mở cửa thị trường và đảm bảo khả năng có thể dự đoán được của thương mại hàng hóa, WTO yêu cầu các Thành viên chỉ thực hiện hạn chế thương mại thông qua thuế quan thay cho hạn ngạch, các kế hoạch định hướng hay các biện pháp phi thuế quan khác.

Giảm dần các rào cản thương mại thông qua đàm phán: kể từ khi hệ thống GATT/WTO ra đời vào năm 1946, các Thành viên đã tiến hành 8 vòng đàm phán đa phương để loại bỏ dần các rào cản thương mại. Trong giai đoạn đầu, các cuộc đàm phán thương mại đa phương tập trung vào việc giảm thuế quan. Dần dần, các Thành viên này đã mở rộng phạm vi của GATT/WTO sang các biện pháp phi thuế quan như tiêu chuẩn, trợ cấp gây bóp méo thương mại hoặc các biện pháp tự vệ tạm thời (chống bán phá giá và thuế đối kháng) cũng như mua sắm chính phủ. Vòng đàm phán gần đây nhất là vòng Uruguay (1986-1994), đã mở rộng đáng kể các quy tắc của WTO sang các lĩnh vực mới như thương mại dịch vụ, các chính sách tác động tới sở hữu trí tuệ và các quy định về đầu tư nước ngoài ảnh hưởng tới thương mại. Hiện nay, các cuộc đàm phán trong Vòng đàm phán đa phương lần thứ 9, Vòng đàm phán Đôha vì sự phát triển (DDR) được bắt đầu vào năm 2001 đang được tiến hành. Bảo hộ nông nghiệp tại các nước phát triển là nội dung cản trở chính của vòng đàm phán này.

Minh bạch hóa: Luật và quy định của các nước ảnh hưởng tới ngoại thương và đầu tư nước ngoài phải được công bố và cung cấp cho tất cả các bên, các thủ tục để thực thi luật lệ và quy định phải công khai. Hơn nữa, quy chế thương mại của mỗi Thành viên phải được WTO rà soát định kỳ để đảm bảo sự tuân thủ với các quy định của WTO.

Giải quyết tranh chấp: Để thực hiện chức năng giám sát các quy tắc đã được thỏa thuận trong các Hiệp định của mình, WTO có cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các Thành viên.

Bất kỳ quốc gia hoặc lãnh thổ hải quan có đầy đủ thẩm quyền quản lý các mối quan hệ thương mại quốc tế của mình cũng có thể gia nhập WTO. Hiện nay, hơn 75% các quốc gia và lãnh thổ hải quan trên thế giới là Thành viên của tổ chức này và hơn 10% quốc gia, tổ chức nữa đang trong quá trình gia nhập.

2. Bối cảnh và phương thức gia nhập WTO

Để trở thành Thành viên WTO, một nước hoặc vùng lãnh thổ phải tuân theo các thủ tục công khai, rõ ràng và quá trình gia nhập của Việt Nam cũng đã được thực hiện theo các thủ tục này. Các điều kiện gia nhập WTO phải được thỏa thuận giữa nước gia nhập và các Thành viên WTO (Điều XII). Tiến trình gia nhập thường phải thông qua một số bước, trong đó đàm phán gia nhập là giai đoạn thực chất cuối cùng. Tóm lại, các thủ tục liên quan là Chính phủ thông báo mong muốn trở thành Thành viên WTO của mình thông qua việc gửi một bức thư thông báo cho Tổng giám đốc (trên thực tế, nước xin gia nhập sẽ phải yêu cầu trở thành quan sát viên trước khi gửi thư). Sau khi nhận được thư, Tổng giám đốc WTO sẽ thành lập một Ban công tác bao gồm các Thành viên WTO có quan tâm để xem xét đơn xin gia nhập. Chính phủ nước xin gia nhập sẽ phải đệ trình một bản Bị vong lục mô tả cơ chế ngoại thương của mình. Trên cơ sở tài liệu này, Ban công tác sẽ thảo luận và làm rõ cơ chế thương mại của nước xin gia nhập, thường là thông qua các câu hỏi cụ thể dựa trên bản Bị vong lục cũng như kinh nghiệm thực tế của các doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh (trong quá trình gia nhập, Việt Nam đã nhận được khoảng 3500 câu hỏi của các Thành viên Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO). Những câu hỏi đó tập trung cụ thể xem cơ chế thương mại của nước xin gia nhập có phù hợp với các quy tắc của WTO hay không. Các quy định và thực tiễn không phù hợp với WTO phải được điều chỉnh hoặc tuân theo các điều khoản được đàm phán cụ thể.

Các nước đang gia nhập WTO phải chấp nhận (i) một gói cam kết chung, được gọi là “cam kết cả gói” và (ii) thỏa thuận được với tất cả các Thành viên WTO có yêu cầu nhượng bộ bổ sung để họ ủng hộ nước gia nhập. Yêu cầu (ii) thường được thỏa thuận thông qua các cuộc đàm phán song phương diễn ra trước khi gia nhập. Các cuộc đàm phán gia nhập WTO được tiến hành giữa nước xin gia nhập và tất cả các Thành viên WTO muốn tăng cường tiếp cận thị trường nước xin gia nhập. Trong tiến trình gia nhập, nước xin gia nhập đàm phán các biểu nhượng bộ về thuế quan và các cam kết cụ thể về thương mại dịch vụ với các nước có quan tâm.

Mỗi Thành viên WTO có quyền đặt ra yêu cầu cụ thể về thuế quan, các biện pháp phi thuế và quy định ảnh hưởng tới thương mại dịch vụ với nước xin gia nhập. Tuy nhiên, chỉ một nhóm nhỏ các Thành viên WTO sử dụng công cụ này, hầu hết các Thành viên khác không đóng vai trò gì hoặc tự xác định sẽ tham gia hạn chế vào các cuộc họp của Ban công tác. Không phải tất cả các khía cạnh của tiến trình gia nhập WTO đều hoàn toàn minh bạch. Đặc biệt, thường có rất ít thông tin về các cuộc đàm phán song phương được đề cập ở trên, trong các cuộc đàm phán này, các vấn đề phi kinh tế cũng có thể được xem xét, ví dụ như trong trường hợp các cuộc đàm phán song phương Việt Nam – Hoa Kỳ được thảo luận dưới đây.

Khi các cuộc đàm phán song phương mở cửa thị trường và đàm phán đa phương kết thúc, Báo cáo của Ban công tác được chuyển cho Đại Hội đồng. Dự thảo Quyết định và Nghị định thư gia nhập cũng như biểu thuế quan và biểu cam kết cụ thể về dịch vụ đã được thỏa thuận sẽ được bổ sung vào Báo cáo. Lời văn của Hiệp định WTO quy định rằng, muốn trở thành Thành viên phải có sự chấp thuận của ít nhất 2/3 số Thành viên WTO. Tuy nhiên, quy tắc bỏ phiếu này chỉ mang tính lý thuyết, do vào năm 1995 các Thành viên WTO đã quyết định không áp dụng các điều khoản cho phép bỏ phiếu về việc gia nhập hoặc yêu cầu miễn trừ mà thay vào đó phải tiếp tục áp dụng nguyên tắc đồng thuận (WT/L/93). Nguyên tắc đồng thuận được áp dụng trong việc quyết định trường hợp gia nhập của Việt Nam cũng như hầu hết các vấn đề khác của WTO. Nguyên tắc này cho phép một nước dù có khối lượng thương mại rất nhỏ cũng có thể cản trở các thỏa thuận của WTO. Đồng thuận không có nghĩa là tất cả các nước phải đồng ý mà là không có ai phản đối.

Sự ra đời của WTO đã khiến cho các điều kiện gia nhập ngày càng chặt chẽ hơn giai đoạn GATT trước đây và các cuộc đàm phán của Việt Nam đã bị ảnh hưởng rất rõ bởi xu hướng này. Các nước xin gia nhập WTO bị yêu cầu phải ràng buộc biểu thuế của họ ở mức bằng hoặc xấp xỉ mức thuế áp dụng. Hơn nữa, các nước mới gia nhập phải tự do hóa việc tiếp cận thị trường nội địa của họ nhiều hơn đáng kể so với giai đoạn trước năm 1995. Có một số lý do giải thích cho việc tại sao tiến trình gia nhập WTO lại “phức tạp” hơn trước đây.

Trước hết, phạm vi của Hiệp định WTO đã mở rộng hơn nhiều so với GATT. Bên cạnh lĩnh vực truyền thống của GATT là thương mại hàng hóa, WTO điều chỉnh cả thương mại dịch vụ, các vấn đề về sở hữu trí tuệ và các biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại.

Thứ hai, có thể thấy sự thay đổi quan điểm đáng kể của các cường quốc thương mại, đặc biệt là Hoa Kỳ. Trước khi Liên bang Xô Viết sụp đổ vào cuối những năm 80 của thế kỷ trước, Washington sẵn sàng chấp nhận các chính sách thương mại có thể tổn hại tới các lợi ích thương mại của mình để đổi lấy các ưu tiên trong chính sách đối ngoại (Kostecki, 1979). Từ thập kỷ 90 của thế kỷ trước, việc theo đuổi các quyền lợi kinh tế quốc gia trở nên quan trọng hơn, cho thấy đã có nhiều quan tâm hơn tới các thỏa thuận thương mại cụ thể (VanGrasstek, 1995, Naray, 2000).

Thứ ba, các cường quốc thương mại chính ngày càng coi việc gia nhập WTO là một bước đi lớn của nước xin gia nhập nhằm hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu. Việc trở thành Thành viên WTO là một cách để khuyến khích nước gia nhập xóa bỏ các chính sách kinh tế mang tính can thiệp, thay vào đó là việc áp dụng các cách tiếp cận ít mang tính bảo hộ và theo định hướng thị trường nhiều hơn. Việc này giải thích tại sao tiến trình gia nhập sẽ hiệu quả nhất khi tiến hành song song với một chương trình cải cách trong nước. Khía cạnh này trở nên đặc biệt quan trọng trong các cuộc đàm phán gia nhập của những nước như Trung Quốc, Nga hoặc Việt Nam, những nước mà khối lượng thương mại hiện tại hoặc trong tương lai rất có thể sẽ ảnh hưởng lớn tới hệ thống thương mại trong các thập kỷ tới.

Cuối cùng, và cũng liên quan tới lý do trên, rõ ràng là các Thành viên WTO có xu hướng muốn nước gia nhập đưa ra các cam kết cao hơn các quy định ghi trong lời văn của các Hiệp định WTO, hay còn gọi là hiện tượng “WTO cộng”. Ví dụ, một số nền kinh tế đang chuyển đổi đã bị yêu cầu phải đưa ra các cam kết và báo cáo về tiến trình tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước trong khi đó GATT/WTO hoàn toàn không quy định gì về vấn đề này (Kostecki,1979, Bernier, 1982). Một ví dụ của yêu cầu này là hiện nay vấn đề sở hữu ngành năng lượng vẫn là nội dung cản trở tiến trình gia nhập WTO của Nga, ngay cả khi Việt Nam đã gia nhập tổ chức này. Việc Nam cũng bị yêu cầu phải đưa ra các cam kết liên quan tới cổ phần hóa trong tiến trình gia nhập của mình.

Vấn đề cốt lõi trong các cuộc đàm phán gia nhập nằm ở chỗ nước muốn gia nhập là bên “bị động”. Điều này có nghĩa nước này có nghĩa vụ phải đàm phán với các Thành viên hiện tại của WTO và thông thường có rất ít quyền trong quá trình đàm phán này. Nói cách khác, tiến trình gia nhập mang tính bất cân bằng, theo nghĩa nước gia nhập không thể đưa ra các yêu cầu về quyền lợi bổ sung, vượt quá những gì đang được quy định trong các Hiệp định hiện tại của WTO trong khi các Thành viên WTO có thể – và thường thực hiện – đưa ra các yêu cầu cao hơn mức độ hiện tại (Hoekman, Kostecki, 2001). Trong một số trường hợp, các nước xin gia nhập bị yêu cầu phải thực hiện các nghĩa vụ thậm chí cao hơn mức độ cam kết của các Thành viên hiện tại. Một ví dụ tiêu biểu là mức độ cam kết về thuế, trong khi quy tắc phổ biến hiện nay là mức độ cam kết phải toàn diện và thuế ràng buộc không cao hơn hai lần mức thuế áp dụng bình quân gia quyền theo khối lượng nhập khẩu áp dụng tại các nước OECD (khoảng 10%). Trong khi mức độ cam kết bình quân của các Thành viên đang phát triển là khoảng 20% đối với các dòng thuế cam kết (rất nhiều dòng thuế chưa cam kết). Các ví dụ khác là yêu cầu xóa bỏ trợ cấp hàng nông sản trong khi rất nhiều Thành viên phát triển của WTO, kể cả EU và Hoa Kỳ, vẫn duy trì các khoản trợ cấp này, ngoài ra còn có cả các cam kết về dịch vụ toàn diện hơn so với các cam kết trong Vòng đàm phán Uruguay cũng như việc yêu cầu thực hiện đầy đủ các cải cách cần thiết (thay vì thực hiện quá trình chuyển đổi một cách từ từ) trở thành một điều kiện của tiến trình gia nhập.

3. Lịch sử mối quan hệ giữa Việt Nam và WTO

Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam có một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trong đó Nhà nước đóng vai trò chủ đạo cho tới tận giữa những năm 80 của thế kỷ trước. Kể từ năm 1986, dưới chính sách “Đổi mới”, tăng cường định hướng thị trường và hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu đã trở thành mục tiêu chính của Việt Nam. Tiến trình cải cách tập trung vào việc tái cơ cấu các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ trong nước, tổ chức lại hệ thống hành chính và thiếp lập các mối quan hệ kinh tế với thế giới. Nhằm tăng cường các mối quan hệ kinh tế với khu vực, Việt Nam đã gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn hợp tác Á – Âu và Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á -Thái Bình Dương (APEC). Việt Nam cũng duy trì các mối quan hệ thương mại chặt chẽ với Trung Quốc, được điều chỉnh theo Hiệp định Thương mại năm 1991 và các hiệp ước hợp tác kinh tế khác. Tham gia vào các thể chế khu vực nói trên tạo ra bước hội nhập đầu tiên của Việt Nam vào hệ thống thương mại để chuẩn bị cho việc trở thành Thành viên WTO.

Các mối quan hệ của Việt Nam với WTO được bắt đầu vào năm 1995 với việc nộp yêu cầu gia nhập chính thức. Vào tháng 1 năm 1995, Đại hội đồng của WTO đã thành lập Ban công tác để xem xét đơn xin gia nhập của Việt Nam. Ban công tác đã tiến hành 14 cuộc họp trong giai đoạn gần 12 năm – một quá trình đàm phán gia nhập khá dài. Các thành viên của Ban công tác gồm Áchentina, Úc, Braxin, Brunây, Bungari, Campuchia, Canađa, Chilê, Trung Quốc, Côlômbia, Croatia, Cuba, Cộng hòa Đôminíc, Ai Cập, En Sanvađo, Liên minh châu Âu và các Thành viên của mình, Honđuras, Hồng Kông, Ixơlen, Ấn Độ, Inđônêxia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Cộng hòa Kyrgyzxtanxtan, Malaysia, Mêhicô, Marốc, Myanma, Niu Dilân, Na Uy, Pakistan, Panama, Paraguay, Philíppin, Rumani, Singapo, Sri Lanka, Thụy Sỹ, Đài Loan, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Hoa Kỳ và Uruguay (www.wto.org).  Việt Nam đã chuẩn bị bản Bị vong lục về chế độ ngoại thương của mình vào năm 1996 nhưng phải tới tận năm 1998 thì kế hoạch cho các cuộc họp định kỳ của Ban công tác mới được đưa ra. Các cuộc đàm phán diễn ra chậm chạp do các lo ngại về chính trị, nhu cầu cần có những thay đổi hệ thống quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam và các Thành viên WTO đặt ra yêu cầu Việt Nam phải đưa ra các nhượng bộ lớn.

Bảng 1

Các mốc lớn trong quan hệ của Việt Nam với WTO

1994 Hoa Kỳ dỡ bỏ lệnh cấm vận thương mại đối với Việt Nam và thiết lập quan hệ ngoại giao bình thường vào năm 1995. Điều này đã thúc đẩy việc mở cửa nền kinh tế Việt Nam.

1995 Việt Nam nộp đơn gia nhập WTO vào tháng 1 năm 2005.

1996 Bắt đầu cuộc gặp thường kỳ của Ban công tác về việc Việt

Nam gia nhập WTO.

1998 Các cơ quan quản lý Việt Nam quyết định đẩy nhanh tiến trình gia nhập WTO.

2001 Phiên đàm phán đa phương lần thứ 9 của WTO/GATT – vòng đàm phán Đôha vì sự phát triển – được khởi động vào tháng 11 năm 2001.

2002 Việt Nam đưa ra Bản chào đầu tiên đối với hàng hóa và dịch vụ.

2004 Việt Nam đưa ra Bản chào sửa đổi tham vọng hơn về tiếp cận thị trường vào tháng 6 năm 2004 tại phiên họp lần thứ 8 của Ban công tác, Bản chào này thể hiện một bước đột phá trong đàm phán gia nhập WTO.

2004 Bắt đầu các cuộc đàm phán song phương với các Thành viên WTO. Một Thỏa thuận đột phá được ký kết với Liên minh châu Âu.

2005 Ký thỏa thuận với Trung Quốc về việc Việt Nam gia nhập WTO.

2006 Hoa Kỳ và Việt Nam ký Hiệp định song phương về các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam, đây là Hiệp định song phương cuối cùng và dường như là khó khăn nhất trong số 28 Hiệp định song phương với các Thành viên WTO.

2002 – 2006 Các cơ quan quản lý Việt Nam đã rà soát sâu rộng hầu hết luật và quy định của Việt Nam trong các lĩnh vực liên quan tới WTO cũng như các lĩnh vực khác và đã đưa kế hoạch hành động liên quan tới WTO vào Kế hoạch phát triển năm năm 2006 – 2010 (SRV, 2006)

2007 Việt Nam trở thành Thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới vào ngày 11 tháng 1 năm 2007.

2007 Chính phủ Việt Nam đưa ra chương trình hành động thực thi các cam kết gia nhập WTO.

Vào năm 2002, Việt Nam đưa ra Bản chào đầu tiên về mở cửa thị trường hàng hóa và dịch vụ, sau đó Bản chào sửa đổi vào tháng 7 năm 2004 mang tính tham vọng hơn. Cả hai Bản chào đều được các Thành viên WTO hoan nghênh. Sau một số vòng đàm phán, các đối tác thương mại của Việt Nam đồng ý bắt đầu dự thảo Báo cáo của Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO và tiến hành các cuộc đàm phán song phương cần thiết để đạt được thỏa thuận gia nhập giữa các bên.

Việt Nam tiến hành các cuộc đàm phán song phương với 28 Thành viên WTO, bao gồm cả Liên minh châu Âu (tính là một Thành viên mặc dù Liên minh này đại diện cho 25 nước), Hoa Kỳ và Trung Quốc. Thỏa thuận với Hoa Kỳ ký vào tháng 5 năm 2006 là thỏa thuận song phương cuối cùng và có lẽ là thỏa thuận song phương khó khăn nhất mà Việt Nam đã đàm phán. Việc ký kết thỏa thuận này cho phép Tổng thống Hoa Kỳ có thẩm quyền cần thiết để dành cho Việt Nam quy chế “quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn” (PNTR) – đây là điều kiện tiên quyết cho phép Hoa Kỳ công nhận Việt Nam là một Thành viên WTO.

Trọng tâm cải cách kinh tế và chính sách phát triển dựa vào xuất khẩu của Việt Nam đã khiến cho quá trình gia nhập, vốn kéo dài và rất phức tạp, trở nên đơn giản hơn. Việc ký kết Hiệp định Thương mại song phương với Hoa Kỳ (BTA) và tham gia Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) rất hữu ích trong bối cảnh này do các thỏa thuận này đã khởi động quá trình tự do hóa và tiến trình “phi điều tiết hóa” (US Aid,

2007). Tuy nhiên, điều này không có nghĩa rằng các cuộc đàm phán mở cửa thị trường là dễ dàng. Các bên đã phải mất rất nhiều thời gian và đàm phán diễn ra rất căng thẳng trước khi đạt được thỏa thuận gia nhập. Bộ trưởng Trương Đình Tuyển và đoàn đàm phán Việt Nam do Thứ trưởng Thương mại Lương Văn Tự đã tập trung toàn bộ sức lực vào các cuộc đàm phán gia nhập, thường phải làm việc thâu đêm, đặc biệt trong giai đoạn cuối cùng của các cuộc đàm phán gia nhập.

Quyết tâm trở thành Thành viên WTO của Việt Nam có thể đã được thúc đẩy bởi kinh nghiệm thành công của các nền kinh tế hướng về xuất khẩu tại khu vực Đông Á, những thay đổi hệ thống tại các nước thuộc Liên bang Xô Viết cũ và sự quan tâm của Trung Quốc đối với tổ chức này. Có thể một động lực nữa là quyết tâm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc tạo ra việc làm cho hơn 1 triệu lao động mới gia nhập thị trường lao động mỗi năm tại Việt Nam, thực hiện xóa đói giảm nghèo và đạt được mục tiêu tiêu tham vọng là đưa Việt Nam trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020 (SRV, 2006).

Trong quá trình gia nhập WTO của mình, Việt Nam đã không nhận được nhiều đối xử đặc biệt và khác biệt từ các Thành viên WTO. Việt Nam đã phải thực hiện các bước cụ thể trước, trong và sau giai đoạn đàm phán để có thể tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức nhằm hỗ trợ quá trình phát triển của mình. Các nỗ lực này được một số nhà tài trợ và tổ chức quốc tế hỗ trợ thông qua việc cung cấp các chương trình xây dựng năng lực và kinh nghiệm (một trong số các chuyên gia dày dạn kinh nghiệm hỗ trợ Việt Nam trong những ngày đầu của tiến trình gia nhập là Ông Arthur Dunkel, cựu Tổng giám đốc của WTO và ông Trần Văn Thìn, cựu đại sứ của EC tại GATT). Nhờ có sự kết hợp phù hợp giữa các nỗ lực và dự án của Việt Nam và quốc tế, các mục tiêu phát triển của Việt Nam trong tiến trình gia nhập WTO đã được làm rõ và Việt Nam đã đưa ra được các chiến lược đàm phán phù hợp. Cụ thể hơn, các cơ quan Việt Nam đã đưa ra các bước đi để thực hiện mục tiêu này.

Trước hết, ngay trong giai đoạn gia nhập đầu tiên, Việt Nam đã dự đoán được các cam kết đa dạng trong WTO sẽ đòi hỏi cải cách nền kinh tế trong nước tới mức nào và những thay đổi đó sẽ đóng góp vào quá trình phát triển theo cách nào. Việt Nam xác định dệt may, giầy dép, nông nghiệp, thủy sản và du lịch là những ngành có thể được hưởng lợi ngay từ các chương trình cải cách này và đã xây dựng ưu tiên đàm phán của mình, có tính tới những ngành có tiềm năng có lợi thế so sánh.

Thứ hai, các cơ quan quản lý Việt Nam đã nhận thấy tiến trình gia nhập WTO có thể kéo dài và phức tạp, do đó đã nỗ lực để tập hợp đủ hỗ trợ trong nước cho tiến trình gia nhập này. Yếu tố thứ hai được ủng hộ bởi các cuộc tham vấn ở cấp chính trị và tầm nhìn rõ ràng về chi phí, lợi ích và các ưu tiên trong các cuộc đàm phán gia nhập. Xây dựng một chiến lược đàm phán phù hợp gồm cả các vấn đề vượt quá thẩm quyền của Bộ Thương mại và Chính phủ đã có quan điểm chung về chiến lược đàm phán gia nhập WTO. Rõ ràng, vấn đề này không bị coi là một quyết định kỹ trị do một nhóm quan chức kiểm soát mà đã được rất nhiều cơ quan chính phủ và Đảng Cộng sản xem xét cũng như được tham vấn với các ngành trong nước. Việt Nam đang đạt được nhiều tiến bộ trong việc xây dựng một tiến trình mở, chính thức để đảm bảo quyền của các hiệp hội doanh nghiệp và các tổ chức dân sự trong việc xây dựng các văn bản pháp lý.

Thứ ba, do thời gian kéo dài, độ phức tạp cao và phạm vi rất rộng của Thỏa thuận gia nhập, Chính phủ Việt Nam đã xây dựng một “lộ trình” xác định các hoạt động khác nhau trong quá trình gia nhập và giai đoạn thực thi. Thông tin chi tiết về các cấu phần của “lộ trình” này nằm trong Nghị quyết tháng 2 năm 2007 về việc ban hành Chương trình hành động của Chính phủ để thực thi Nghị quyết 4 Hội nghị Trung ương X về một số chủ chương và chính sách lớn để phát triển nhanh và bền vững cho nền kinh tế khi Việt Nam gia nhập WTO (Nghị quyết số 16/2007/CP-NQ của Chính phủ) và trong Kế hoạch phát triển kinh xã hội 5 năm 2006 – 2010 (SRV, 2006).

4. Cơ hội và thách thức khi gia nhập WTO: Tổng quan

Một nền kinh tế muốn phát triển xuất khẩu các sản phẩm chế biến thay vì nguyên liệu và tận dụng các nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDIs) trên thực tế không có lựa chọn nào khác ngoài việc tham gia hệ thống thương mại của WTO. Lý do nằm ở chỗ “con dấu gia nhập WTO” được cộng đồng doanh nghiệp quốc tế coi là một dấu hiệu về sự vận hành bình thường trong các mối quan hệ kinh tế toàn cầu. Có thể đưa ra nhiều lý do kinh tế, luật pháp và chính trị để giải thích tại sao gia nhập WTO lại cần thiết đến thế và việc gia nhập sẽ đem lại những cơ hội và thách thức nào cho Việt Nam.

Đối với một số người, lý do quan trọng nhất để gia nhập WTO là nhằm hội nhập nền kinh tế quốc gia vào nền kinh tế toàn cầu. Mọi người kỳ vọng rằng với việc gia nhập WTO, Việt Nam có thể tiếp cận các thị trường xuất khẩu và nhập khẩu một cách ổn định và dễ dự đoán hơn, từ đó, số lượng và chất lượng hàng hóa, dịch vụ xuất nhập khẩu sẽ tăng theo. Gia nhập WTO cũng thúc đẩy quá trình tự do hóa nhập khẩu, từ đó cho phép tiếp cận với các đầu vào nhập khẩu (công nghệ, trang thiết bị và phương pháp quản lý hiện đại) cũng như hàng hóa tiêu dùng đa dạng và rẻ hơn; các đầu vào nhập khẩu rất quan trọng đối với một nền kinh tế đang hiện đại hóa nhanh chóng như Việt Nam.

Một lợi ích kinh tế nữa từ việc gia nhập WTO là tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Gia nhập WTO sẽ khiến các doanh nghiệp tin tưởng hơn vì Việt Nam sẽ được coi là một điểm đến an toàn cho các nhà đầu tư. Có bằng chứng cho thấy rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài lớn (ví dụ như Intel) đã quan tâm hơn tới Việt Nam khi Việt Nam chuẩn bị trở thành Thành viên của WTO. Chỉ trong vòng 9 tháng sau khi gia nhập WTO, các doanh nghiệp nước ngoài đã cam kết sẽ đầu tư gần 6,5 tỷ Đôla Mỹ vào các dự án đầu tư mới tại Việt Nam (số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2007). Hơn nữa, việc trở thành Thành viên của WTO khuyến khích sử dụng nhiều hơn các tài sản thuộc sở hữu trí tuệ, dẫn tới các điều kiện tốt hơn để đạt được thành công về kinh tế thông qua chất lượng sản phẩm cao hơn, sự sáng tạo và kỹ năng tiếp thị hiện đại (xây dựng thương hiệu, cấp phép, nhượng quyền và các dịch vụ hỗ trợ sản phẩm tốt hơn).

Lợi ích pháp lý của việc tiếp cận một hệ thống thương mại dựa trên pháp quyền và sử dụng quá trình giải quyết tranh chấp trong WTO cũng thường được nhắc đến như một lý do quan trọng cho việc gia nhập WTO của Việt Nam. Các cuộc tham vấn, đàm phán và trung gian hòa giải cũng như giải quyết tranh chấp dựa trên quy tắc rõ ràng sẽ rất quan trọng đối với các quốc gia không có tiếng nói quan trọng trong thương mại bằng các Thành viên như Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu, Nhật Bản hoặc Trung Quốc. Gia nhập WTO cho thấy các mối quan hệ thương mại của Việt Nam với các cường quốc thương mại sẽ được bảo vệ bởi các quy tắc và thủ tục của hệ thống thương mại đa phương, rất nhiều lợi ích cụ thể của hệ thống này sẽ được đề cập dưới đây.

Gia nhập WTO cũng được thúc đẩy bởi các lý do chính trị. Đặc biệt, đối với các nước trong giai đoạn chuyển đổi như Việt Nam thì WTO là một công cụ giúp Chính phủ duy trì được chính sách thương mại minh bạch và tự do nhờ vào vai trò nội địa của hệ thống thương mại đa phương, hệ thống này đẩy mạnh các lợi ích xuất khẩu nhiều hơn so với lợi ích thu được từ các ngành thay thế nhập khẩu. Trở thành Thành viên WTO đem lại cơ hội để đảm bảo việc thực hiện các bước tự do hóa cơ chế thương mại thông qua chấp nhận các nghĩa vụ ràng buộc về mặt pháp lý đối với các mức thuế, loại bỏ các hạn chế định lượng hoặc loại bỏ trợ cp (Michalopoulos,2002). Gia nhập WTO cũng là một công cụ để thể hiện cam kết của nước gia nhập trong việc hòa nhập các nền kinh tế theo định hướng thị trường vào cộng đồng quốc tế, một điều kiện tiên quyết cho sự phát triển thương mại quốc tế.

Tương tự như vậy, yếu tố chính trị đóng một vai trò quan trọng tại nhiều Thành viên WTO khi quyết định có chấp nhận một nước mới gia nhập hay không. Ví dụ, đối với Hoa Kỳ, nước dành cho Việt Nam đối xử Tối huệ quốc tuân thủ theo WTO (theo thuật ngữ của Hoa Kỳ là Quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn), thì quyết định này được mô tả “là một trong số các bước đi mà Hoa Kỳ thực hiện trong lĩnh vực thương mại và chính sách đối ngoại để bình thường hóa quan hệ với Việt Nam đồng thời đưa quan hệ hiện nay của hai nước vượt qua cuộc chiến tranh Việt Nam” (Báo cáo CRS của Quốc hội Hoa Kỳ, 2006).

5. Mở rộng thị trường cho hàng xuất khẩu của Việt Nam

Lý do chủ yếu và trực tiếp khiến Việt Nam muốn gia nhập WTO là tìm cách thúc đẩy xuất khẩu nông thủy sản, dệt may, quần áo và dầy dép cũng như các mặt hàng sản xuất trong nước khác. Đặc biệt, các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) của Việt Nam – những doanh nghiệp có ít nguồn lực để đối phó với những vấn đề phức tạp về thể chế – rất có thể sẽ được hưởng lợi nhờ khả năng tiếp cận thị trường xuất khẩu tốt hơn. Tác động tới xuất khẩu là tích cực vì khi gia nhập WTO, Việt Nam sẽ được hưởng một môi trường ổn định và bình đẳng hơn ở nước ngoài, có nhiều khả năng hơn trong việc kiện lại các thực tiễn thương mại không bình đẳng và có cơ hội để đảm bảo rằng các cuộc đàm phán của WTO trong tương lai sẽ đem lại các cơ hội xuất khẩu cho các sản phẩm mà Việt Nam quan tâm (bốn thị trường xuất khẩu chính chiếm hơn một nửa kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đều là các Thành viên của WTO). Cũng có thể hy vọng rằng việc gia nhập sẽ không chỉ thúc đẩy doanh số xuất khẩu các mặt hàng quyền thống sang các thị trường hiện tại mà còn tăng xuất khẩu các sản phẩm mới sang các thị trường mới (xem them chi tiết tại Chương II-VII).

Về cơ bản, có ba lý do chính khiến cho việc gia nhập WTO sẽ dẫn tới tăng cường tiếp cận thị trường. Thứ nhất, Việt Nam sẽ được các Thành viên WTO dành đối xử MFN đầy đủ và lâu dài và điều này là một cải thiện đáng kể. Mặc dù Việt Nam đã được hưởng đối xử MFN tạm thời với Hoa Kỳ và các đối tác thương mại khác nhưng đối xử MFN dựa trên cơ sở WTO là một thỏa thuận ưu đãi. Điều này là một mốc rõ ràng cho việc chuyển từ môi trường mang tính đơn phương và tự nguyện (ví dụ các cuộc thảo luận tại Quốc hội Hoa Kỳ trước khi gia hạn đối xử MFN hàng năm), nơi việc lạm dụng sức mạnh kinh tế vì lý do chính trị thực sự là một mối đe dọa, sang một mối quan hệ đối tác thương mại dựa trên các quy tắc rõ ràng, nơi các vấn đề thương mại được giải quyết một cách minh bạch, tuân theo các luật lệ của WTO (xem Hộp 1).

Hộp 1

WTO và Đối xử MNF tại Hoa Kỳ

Hiện nay, các nước chưa tham gia WTO có thể được nhiều quốc gia, kể cả Hoa Kỳ, đơn phương dành đối xử MFN trong thương mại nhưng không có gì đảm bảo rằng họ sẽ tiếp tục được hưởng đối xử này. Ví dụ, tại Hoa Kỳ, việc dành đối xử MFN cho Nga và một số nền kinh tế trong giai đoạn chuyển đổi khác, gồm cả Trung Quốc và Việt Nam trước khi các nước này gia nhập WTO, từ trước tới nay phụ thuộc vào việc các nền kinh tế này có tuân theo một Dự luật có tên là Tu chính án Jackson- Vanik hay không, Tu chính án này sửa đổi Bộ luật Thương mại năm 1974 của Hoa Kỳ liên quan tới quyền tự do nhập cư và một số quyền công dân khác. Quốc hội Hoa Kỳ rà soát định kỳ và quá trình rà soát này này tạo cơ hội cho một số chính trị gia yêu cầu các nhượng bộ chính trị để đổi lại việc họ đồng ý dành đối xử MFN có điều kiện và “lâu dài”.

Khi Ácmênia, Cộng hòa Kyrgyzxtan và Mông Cổ gia nhập WTO, Hoa Kỳ đã sử dụng quyền không áp dụng đối xử WTO theo Điều XIII của WTO, tức là Hoa Kỳ không dành cho các nước này đối xử MFN vô điều kiện và do đó trên thực tế không chấp nhận tư cách Thành viên WTO của các nước này. Tương tự như vậy, đối với Trung Quốc và Việt Nam, Chính quyền Hoa Kỳ đã tiến hành các cuộc đàm phán song phương liên quan tới quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn và đã điều chỉnh các quy định pháp lý tương tự, trước khi các cuộc đàm phán gia nhập kết thúc.

Nguồn: Horlick & Shea, 2002, Michalopoulos, 2002 và các báo cáo khác

Ngoài tác động trực tiếp là tiếp cận thị trường được đảm bảo hơn, gia nhập WTO cũng sẽ xóa tan sự hoài nghi về xuất khẩu phổ biến trong cộng đồng doanh nghiệp ở các nước đang phát triển (Langhammer and Lücke, 1999). Sự hoài nghi, bi quan về xuất khẩu cũng rất phổ biến tại Việt Nam trong những năm 90 của thế kỷ trước, khi mà các nhà xuất khẩu vốn đang tăng trưởng nhanh chóng tại Việt Nam phải đối mặt với các rào cản bảo hộ chống lại hàng nông sản và các sản phẩm chế tạo có hàm lượng lao động cao. Vòng đàm phán Uruguay đã đem lại những tiến triển, cả đối với các nước phát triển nơi mà Hiệp định Nông nghiệp và Hiệp định hàng dệt may đã cải thiện điều kiện tiếp cận thị trường cho hàng xuất khẩu từ các nước đang phát triển cũng như đối với bản thân các nước đang phát triển đã tự do hóa cơ chế nhập khẩu của họ một cách đơn phương hoặc trong khuôn khổ cam kết từ Vòng đàm phán Uruguay (Anderson, 2002 và Kheir-El-Din, 2002). Khi các chính sách cải cách, Đổi mới đã tạo ra nhiều lựa chọn về mặt chính sách ngành, rõ ràng điều quan trọng là Việt Nam cần có khả năng tiếp cận thị trường để đảm bảo phát triển xuất khẩu.

Thứ hai, việc áp dụng đầy đủ Hiệp định Dệt may vào năm 2005 đã đem lại một lợi thế lớn cho Việt Nam. Tuy nhiên, chỉ khi gia nhập WTO, Việt Nam mới có thể tận dụng đầy đủ lợi ích từ việc loại bỏ dần cơ chế hạn ngạch mà các nước phát triển duy trì trước đây. Đặc biệt, trong số những lợi ích của việc gia nhập WTO có việc giảm thuế nhập khẩu và loại bỏ hạn ngạch của Hoa Kỳ và EU áp dụng đối với xuất khẩu hàng dệt may (tới giữa năm 2010, mặt hàng này sẽ chiếm khoảng 15% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam). Điều này có ý nghĩa quan trọng không chỉ do dệt may là mặt hàng xuất khẩu lớn thứ 2 của Việt Nam, sau dầu thô, mà còn do việc gia nhập WTO sẽ khiến Việt Nam tham gia sân chơi chung với các nhà xuất khẩu khác, những người đã không bị áp dụng hạn ngạch kể từ đầu năm 2005, khi mà hệ thống thương mại toàn cầu 30 tuổi với truyền thống “đàm phán các ngoại lệ đối với GATT/WTO mà các bên đều chấp nhận” đã bị phá bỏ. Các biện pháp phi thuế quan khác (đặc biệt là tự nguyện hạn chế xuất khẩu – VER) cũng được xóa bỏ nhờ vào tiến trình đàm phán tự do hóa của Vòng Uruguay, ví dụ như hạn ngạch song phương của EU đối với hàng tiêu dùng, sắt thép hoặc nông sản nhập khẩu vào Việt Nam.

Thứ ba, có thể lập luận rằng các biện pháp chống bán phá giá và đối kháng mà các cường quốc áp dụng chống lại các “nền kinh tế phi thị trường” (NME) của WTO như Việt Nam cần phải chịu các quy tắc chặt chẽ hơn so với các trường hợp không phải là Thành viên WTO.

Rõ ràng, việc Việt Nam bị coi là nền kinh tế thị trường trong vòng 12 năm không phải là yếu tố thuận lợi cho các nhà xuất khẩu Việt Nam. Quy tắc này thể hiện một mức độ ngờ vực nhất định đối với bản chất thị trường của hệ thống kinh tế Việt Nam cũng như mối lo ngại của rất nhiều nhà sản xuất nước ngoài về sự phát triển xuất khẩu của Việt Nam. Do bị coi là nền kinh tế phi trường, các đối tác thương mại của Việt Nam có nhiều điều kiện hơn trong việc đưa ra các vụ kiện chống bán phá đối với các nhà xuất khẩu Việt Nam do giá so sánh được được sử dụng trong việc xác định phá giá là giá của các nước “tương tự”, không nhất thiết có các điều kiện kinh tế giống với Việt Nam. Việt Nam, giống như các nền kinh tế đang chuyển đổi khác, kể cả Trung Quốc, đã phải đối mặt với các điều khoản phân biệt đối xử liên quan tới quá trình xác định phá giá cả trong giai đoạn trước khi gia nhập WTO. Vấn đề này đặc biệt quan trọng vì (i) các nhà xuất khẩu của Việt Nam dễ phải đối mặt với các biện pháp chống bán phá giá hơn so với các nhà xuất khẩu từ các nền kinh tế thị trường; và (ii) biên độ phá giá áp dụng đối với các nền kinh tế phi thị trường thường cao hơn (Langhammer và Lücke,1999). Một lý do của kết quả này là các quyết định về giá của các công ty tại các nền kinh tế phi thị trường thường không liên quan tới chi phí sản xuất thực tế. Một lý do nữa có thể là trong các cuộc điều tra chống bán phá giá, các Chính phủ thường có quyền tự do trong việc ước tính giá trong nước của một sản phẩm xuất xứ từ một nền kinh tế phi thị trường căn cứ vào giá “thông thường” của sản phẩm tương tự tại một nền kinh tế so sánh (tương tự). Cơ cấu chi phí tại nước so sánh càng khác với Việt Nam thì cách tiếp cận này càng không phù hợp. Do đó, tác động của việc gia nhập WTO đối với các cuộc điều tra chống bán phá giá đối với các nhà xuất khẩu Việt Nam phụ thuộc vào tầm quan trọng tương đối của hai tác động đề cập ở trên. Nếu như các quyết định về giá của các nhà xuất khẩu Việt Nam bị bóp méo toàn bộ thì việc trở thành Thành viên của WTO có thể cũng không có tác động đáng kể nào ngoài việc hành vi của các doanh nghiệp Việt Nam trong tương lai sẽ mang tính định hướng thị trường nhiều hơn. Tuy nhiên, nếu việc lựa chọn nước tham chiếu/so sánh bóp méo phán quyết một cách không công bằng, Việt Nam được lợi khi các cuộc điều tra chống bán phá giá sẽ phải tuân thủ các nguyên tắc chặt chẽ hơn, đặc biệt khi mà các số liệu về giá và chi phí của nhà sản xuất được sử dụng thay vì sử dụng nước tham chiếu. (Thông tin chi tiết hơn về vấn đề này được đề cập tại Chương IV).

Tóm lại, các nguyên tắc chặt chẽ hơn từ việc gia nhập WTO sẽ đem lại cho Việt Nam (a) lựa chọn để lập luận rằng trong một số tình huống cụ thể, đặc biệt, thì “các điều kiện của nền kinh tế thị trường chiếm ưu thế” (b) vị thế nhất định trong các cuộc tham vấn và tranh chấp thương mại đa phương, cho phép Việt Nam sử dụng các quy tắc của WTO trong quan hệ với các Thành viên khác khi quyền lợi của Việt Nam đã bị ảnh hưởng và sân chơi không hoàn toàn bình đẳng. Hơn nữa, Việt Nam cũng có thể liên minh với các nền kinh tế phi thị trường khác trong WTO – ví dụ như Trung Quốc. Cuối cùng, Nghị định thư gia nhập WTO của Việt Nam hạn chế thời gian áp dụng các thủ tục chống bán phá giá phân biệt đối xử đối với Việt Nam trong thời hạn 12 năm, đồng thời Việt Nam có nghĩa vụ cải cách hơn nữa hệ thống trợ cấp và định giá của mình.

6. Tự do hóa thương mại tại Việt Nam

Các nhà phân tích kinh tế nhấn mạnh lợi ích quan trọng của việc các nền kinh tế thực hiện tự do hóa nhập khẩu có thể tiếp cận thị trường trong nước tốt hơn, đặc biệt khi các thiết bị nhập khẩu cũng như các đầu vào sản xuất có giá rẻ hơn, hàng nhập khẩu đa dạng hơn. Thông qua việc giảm và ràng buộc thuế nhập khẩu, loại bỏ hạn ngạch nhập khẩu và cải cách các biện pháp hạn chế khác, các chính sách của Việt Nam sẽ có độ tin cậy cao hơn và môi trường kinh doanh trong nước được cải thiện, điều này sẽ đem lại lợi ích trong nước đang kể, quá trình này được giải thích ngắn gọn tại Hộp 2.

Liên quan tới các cam kết mở cửa thị trường, có bằng chứng rõ ràng rằng cái mà những người theo chủ nghĩa trọng thương thường gọi một cách không chính xác là “giá của việc gia nhập” – xét từ các nhượng bộ về mở cửa thị trường – đang ngày càng tăng. Các nhượng bộ của Việt Nam khi gia nhập cũng theo xu hướng này do Việt Nam đã đưa ra các nhượng bộ quan trọng về thuế quan, loại bỏ các hạn chế định lượng và xóa bỏ trợ cấp xuất khẩu đối với hàng động sản cũng như rất nhiều khoản trợ cấp trong nước khác. Chi tiết các điều kiện gia nhập WTO của Việt Nam và các cam kết mở cửa thị trường khá vực tạp, nằm trong khoảng 880 trang tài liệu.

Hộp 2

Tại sao tự do hóa thương mại không nhất thiết phải là

“cái giá để gia nhập”?

Khái niệm cốt lõi của thương mại quốc tế là chi phí cơ hội. Việc sản xuất (tiêu dùng) một sản phẩm có chi phí là không sản xuất (tiêu dùng) được sản phẩm khác. Một lý thuyết kinh tế quan trọng đã khẳng định rằng thương mại đem lại lợi ích nhờ việc tối thiểu hóa các chi phí cơ hội thông qua phân chia lao động quốc tế, lý thuyết này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chuyên môn hóa giữa các nước. Lấy một ví dụ đơn giản, giả sử rằng người dân ở Pescatia rất giỏi về đánh bắt cá nhưng lại bị bắt buộc phải dành thời gian để trồng lúa (nghề mà họ không thực hiện hiệu quả bằng đánh bắt cá). Mỗi giờ trồng lúa có chi phí có hội cao xét về số lượng cá bị bỏ qua, nhưng họ không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc dành thời gian để trồng lúa. Giả sử những người dân Agria rất giỏi trồng lúa nhưng không có tài đánh bắt cá. Khi đó, chi phí cơ hội cao xét từ khía cạnh thời gian không được dùng để trồng lúa. Nếu hai nước có thể trao đổi thương mại với nhau thì họ có thể tập trung vào ngành nghề mà mình thực hiện tốt nhất.

Các nhà kinh tế nói rằng các nước sẽ chuyên môn hóa theo lợi thế so sánh của mình. Điều này sẽ đảm bảo rằng tổng sản lượng được sản xuất sẽ tăng ở cả hai nước và mỗi nước sẽ có khả năng tiêu dùng lúa gạo và cá nhiều hơn khi không có thương mại. Quyết định chuyên môn hóa vào ngành nào phụ thuộc vào việc một nước thực hiện một ngành nghề nào là tốt nhất so với các ngành nghề khác. Người dân Pescatia có thể là những nông dân giởi hơn nông dân ở Agria, do mỗi giờ làm nghề nông thì người dân Pescatia thu hoạc được vụ mùa có năng suất cao hơn. Tuy nhiên, nếu mỗi giờ người dân Pescatica làm nghề nông có chi phí cao hơn xét từ lượng cá bị bỏ qua so với mỗi giờ làm nghề nông ở Agria, khi đó Pescatia nên chuyên môn hóa việc đánh bắt. Vấn đề không phải là lợi thế tuyệt đối mà là lợi thế tương đối. Thương mại quốc tế tạo cơ hội cho các nước chuyên môn hóa sản xuất theo lợi thế so sánh của họ.

Thuế quan. Bản chào mở cửa thị trường của Việt Nam cam kết giảm mức thuế quan bình quân giản đơn khoảng 11,4% đối với tất cả các loại hàng hóa và ràng buộc hầu như toàn bộ tất cả các dòng thuế với khoảng thời gian thực hiện là 7 năm. Các cam kết thuế có ý nghĩa khá lớn đối với nhiều dòng thuế. Một yếu tố đặc biệt quan trọng của gói cam kết này là việc các nhượng bộ sẽ làm giảm mức độ bảo hộ thực tế đối với hàng nông sản của Việt Nam. Mức thuế ràng buộc bình quân đối với nông sản được giảm từ mức 25,2% xuống còn 21%, đưa mức thuế cam kết của Việt Nam thấp hơn mức của các Thành viên WTO trong khu vực như Thái Lan và Philíppin (Báo cáo phát triển năm 2006 của Việt Nam). (thông thi chi tiết về thuế quan xem tại Chương III).

Trợ cấp. Việt Nam bị yêu cầu phải cắt giảm tất cả các khoản trợ cấp, kể cả trợ giá và do đó sẽ làm tăng giá thị trường. Các cam kết của Việt Nam trong WTO cũng bao gồm việc loại bỏ các khoản trợ cấp liên quan tới thương mại đối với sản xuất công nghiệp và đầu tư trước năm 2013, đồng thời trợ cấp cho ngành dệt may sẽ bị xóa bỏ ngay sau khi gia nhập. Các cam kết trợ cấp còn bao gồm cả việc loại bỏ hoàn toàn trợ cấp xuát khẩu đối với nông sản cho các mặt hàng cà phê, chè, rau quả và thịt lợn ngay tại thời điểm gia nhập WTO và các nghĩa vụ tự do hóa khác (xem phân tích sâu hơn tại Chương III dưới đây).

Thương mại nhà nước. Các hoạt động thương mại nhà nước cũng bị thay đổi đáng kể và quyền kinh doanh được dành cho các doanh nghiệp tư nhân – cả các doanh nghiệp trong và doanh nghiệp nước ngoài. Chính phủ Việt Nam hiện đang thực hiện quá trình cải cách đầy khó khăn đối với nhiều doanh nghiệp nhà nước hoạt động từ cơ chế ngoại thương tập trung trước đây (Diem, Ngo Van, 2007 and Son, Nguyen, 2007).

Liên quan tới cái “giá” để gia nhập WTO xét về mặt các nhượng bộ thuế quan, cần phải chú ý rằng ngành sản xuất hàng hóa trong nước của Việt Nam không phải cạnh tranh hoàn toàn với bên ngoài vì (a) vẫn tồn tại sự bảo hộ đáng kể đối với rất nhiều dòng thuế và (b) trong rất nhiều trường hợp, Việt Nam được hưởng linh hoạt đáng kể để bảo hộ các ngành nhạy cảm. Đặc biệt, Việt Nam có thể tăng hầu hết các dòng thuế của mình kể cả sau khi gia nhập WTO vì các mức thuế ràng buộc trong rất nhiều trường hợp lại cao hơn mức thuế áp dụng hiện hành. (Ràng buộc cao hơn hiện hành tức là mức thuế ràng buộc trong biểu cam kết WTO lại cao hơn mức thuế đang áp dụng thực tế). Hơn nữa, rất nhiều quá trình tự do hóa tại Việt Nam đã diễn ra trước khi gia nhập WTO, khi mà Việt Nam thực thi các thỏa thuận khu vực ký kết trước năm 2007. Do đó, rất nhiều nhượng bộ thuế quan mà Việt Nam đưa ra có thể sẽ có tác động thấp hơn những gì các con số ở phía trên thể hiện. (Xem thêm chi tiết tại Chương III dưới đây).

Chính phủ Việt Nam cũng có thể giúp các nhà sản xuất hàng nông sản đối phó với việc loại bỏ trợ cấp xuất khẩu đối với nông sản bằng việc duy trì các “hỗ trợ bóp méo thương mại”, mức duy trì này có thể nhiều hơn mức tiêu chuẩn mà WTO cho phép dành cho các nước đang phát triển. Tương tự, một số sản phẩm như trứng, đường, muối và lá thuốc là tiếp tục được bảo hộ một phần thông qua hạn ngạch thuế quan (TRQs), phương pháp áp dụng mức thuế quan cao đối với lượng nhập khẩu vượt quá một mức “hạn ngạch” nhập khẩu.

Bức tranh tổng quan về các cam kết dịch vụ (tức là các nhượng bộ theo GATS) cũng cho thấy một tình hình tương tự xét về cái “giá phải trả” để gia nhập WTO (Tài liệu WT/ACC/VNM/48/Add.2, ngày 27 tháng 10 năm 2006). Các cam kết chính trong lĩnh vực dịch vụ bao gồm hạn chế mức góp vốn của nước ngoài trong các ngành dịch vụ (ví dụ phía nước ngoài được chiếm 100% trong ngành kế toán ngay sau khi gia nhập hay phía nước ngoài được chiếm 100% sau 5 năm kể từ ngày gia nhập) (Xem thêm Chương VI). Về số lượng các phân ngành dịch vụ (danh mục phân loại của WTO bao gồm 160 phân ngành) mà các nước cam kết như một tiêu chí để so sánh về “giá phải trả” khi gia nhập WTO từ quan điểm trọng thương, chúng ta có thể nhận thấy các nước kém phát triển là thành viên sáng lập WTO chỉ cam kết khoảng 20 phân ngành. Số lượng trung bình các phân ngành mà các nước đang phát triển và phát triển cam kết lần lượt là 44 và 108. Việt Nam đã cam kết mở cửa 11 ngành và khoảng110 phân ngành dịch vụ (có thể thấy khá rõ đây chỉ là một đánh giá sơ bộ về giá phải trả “liên quan tới dịch vụ” để gia nhập và con số này không nói lên bản chất và mức độ tự do hóa). Tuy nhiên, tương tự như đối với hàng hóa, các ngành dịch vụ của Việt Nam không hoàn toàn phải đối mặt với cạnh tranh từ nước ngoài do nhiều ngành dịch vụ của Việt Nam vẫn duy trì hạn chế đối với sự tham gia của nước ngoài.

Rất khó có thể dự đoán liệu Việt Nam có tự do hóa cơ chế thương mại của mình ở mức độ tương tự hay không nếu như không gia nhập WTO. Về mặt kinh tế, đã được chứng minh được quá trình tự do hóa trong nước làm tăng hiệu quả nhiều hơn so với việc cải thiện khả năng tiếp cận thị trường nước ngoài, do đó, lợi ích thu được từ việc Việt Nam gia nhập WTO sẽ lớn hơn so với việc không gia nhập. Việc các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam có vượt quá các thỏa thuận hiện hành của WTO hay không phụ thuộc phần lớn vào diễn giải chủ quan. Thứ nhất, một số nghĩa vụ WTO cộng đề cập tới các luật lệ chỉ liên quan tới quá trình tham vấn hoặc báo cáo cho WTO. Các nghĩa vụ khác là nghĩa vụ cơ bản, ví dụ như việc Việt Nam chấp nhận xóa bỏ trợ cấp xuất khẩu nông sản ngay sau khi gia nhập trong khi các khoản trợ cấp này vẫn được nhiều Thành viên sáng lập ra WTO áp dụng. Thật đáng tiếc là các cam kết WTO cộng và WTO trừ dẫn tới việc phân biệt các Thành viên do các cam kết này tạo ra hệ thống thương mại đa phương gồm nhiều mức khác nhau.

Rõ ràng, các cam kết mở cửa thị trường mà Việt Nam đưa ra cũng sẽ tạo thách thức đáng kể như nhau đối với các nhà sản xuất và cung cấp dịch vụ trong khu vực tư nhân cũng như khu vực nhà nước và sẽ đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy các nỗ lực cải cách kinh tế trong tương lai.

7. Chính sách trong nước và gia nhập WTO

Bên cạnh tự do hóa thương mại, gia nhập WTO là một cam kết pháp lý có tác động sâu rộng tới nhiều chính sách kinh tế trong nước. Những thay đổi về mặt chính sách mà các nước mới gia nhập áp dụng khi gia nhập WTO thường liên quan tới nhiều biện pháp trong nước. Đối với Việt Nam, thực tế đã chứng minh cần đưa ra các cải cách toàn diện để các quy định và chính sách trong nước của Việt Nam phù hợp với các quy tắc của WTO. Trong quá trình đàm phán gia nhập WTO, Việt Nam về cơ bản đã điều chỉnh lại toàn bộ hệ thống pháp lý đối với các hoạt động thương mại và các thủ tục pháp lý (US Aid, 2007). Đặc biệt, cần tăng cường minh bạch hóa và thúc đẩy một hệ thống pháp trị. Trong cam kết “cả gói” của mình, Việt Nam đồng ý đưa ra một số biện pháp chính sách cụ thể như tự do hóa các biện pháp kiểm soát giá và cải cách các mức thuế tiêu thụ đặc biệt và tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước. Việt Nam cũng đồng ý tuân thủ với các quy tắc của WTO về sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm (SPS), rào cản kỹ thuật đối với thương mại (TBT), ưu đãi đầu tư, giá trị hải quan, cấp phép nhập khẩu, Quy tắc xuất xứ và thủ tục chống bán phá giá. Các biện pháp được soạn thảo nhằm hạn chế vai trò của một nền kinh tế do Nhà nước dẫn dắt cũng bao gồm việc tự do hóa quyền kinh doanh ngoại thương. Những cải thiện nữa bao gồm thiết lập điểm hỏi đáp dịch vụ, TBT và SPS. Tất cả các nội dung này sẽ được trình bày chi tiết hơn tại các chương tiếp theo. Bây giờ chúng ta sẽ chuyển sang phần tác động của việc gia nhập WTO đối với Chính phủ Việt Nam.

Khó thực hiện chính sách bảo hộ hơn. Tăng cường tiếp cận thị trường ở nước ngoài và được quốc tế công nhận khi gia nhập WTO có thể hỗ trợ Chính phủ vượt qua những ý kiến của các nhóm trong nước phản đối tự do hóa thương mại và cải cách theo cơ chế thị trường. Khi trở thành Thành viên của WTO, việc phản đối một biện pháp chính sách cụ thể nào đó sẽ khiến câu hỏi về một số lợi ích tiềm năng của việc gia nhập WTO xuất hiện một cách tự nhiên và điều này sẽ tạo điều kiện cho các cơ quan chức năng dễ dàng hơn trong việc tìm kiếm sự ủng hộ chính trị đầy đủ nhằm thực hiện quá trình tái điều tiết. Do đó, độ tin cậy của một Chính phủ có tư tưởng cởi mở của Việt Nam sẽ được tăng cường nếu như Chính phủ có thể “tự vượt qua chính mình” thông qua việc trở thành Thành viên WTO (Francois và Martin, 2007). Tác động quốc tế của việc không thực hiện các cải cách đã cam kết sẽ là rất lớn về mặt chính trị đối với Chính phủ, do đó Chính phủ rất có thể sẽ thực hiện đầy đủ các chính sách cải cách của mình. Hơn nữa, nếu như sự thống nhất về chính sách giữa Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế và WTO được cải thiện, các cam kết khi gia nhập WTO có thể sẽ thúc đẩy các điều khoản tương tự trong các chương trình chuyển đổi mà IMF hoặc Ngân hàng Thế giới tài trợ trong các lĩnh vực như ổn định kinh tế vĩ mô, cán cân thanh toán, trợ cấp hoặc chính sách tư nhân hóa. Chính phủ cần phân tích kỹ tác động của tự do hóa thương mại không chỉ đối với nền kinh tế mà đổi với tổng thể toàn xã hội. Điều này đòi hỏi phải thiết lập và cải thiện các thể chế an sinh xã hội nhằm tạo điều kiện cho họ có thể hỗ trợ một số nhóm doanh nghiệp và dân cư cụ thể, đặc biệt những người nghèo, những người mà hiện nay rất có thể là người chịu thua thiệt trong quá trình toàn cầu hỏa.1

Chính sách kinh tế phải phù hợp với các quy định của WTO. Gia nhập WTO thường khuyến khích việc quản lý kinh tế dựa trên các quy định pháp lý, việc cải cách toàn diện hệ thống pháp luật của Việt Nam đã diễn ra và rất có thể sẽ tiếp tục trong nhiều năm tới. Trước tiên, quá trình này cho thấy các luật lệ, quy định và quyết định hành chính đã minh bạch hơn. Các quy tắc của WTO khuyến khích việc công bố nhanh chóng trên tạp chí chính thức tất cả các luật và quyết định hành chính áp dụng chung cũng như thông tin liên hệ cần phải công khai cho công chúng trước khi các luật, quyết định này có hiệu lực. Bên cạnh đó, các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cũng bị yêu cầu phải dành cho các cá nhân trong và ngoài nước cơ hội nhận xét các dự thảo văn bản pháp luật do các cơ quản lý Trung ương và địa phương đề xuất. Thứ hai, quá trình này cho thấy Việt Nam phải duy trì một hệ thống các cơ quan xét xử tư pháp và hành chính cho phép khiếu nại các quyết định hành chính đối với các vấn đề mà WTO điều chỉnh. Tất cả các quyết định như vậy sẽ có thể được khiếu kiện ra tòa và các bên sẽ được thông báo bằng văn bản về quyết định liên quan tới việc khiếu kiện đó cũng như lý do khiếu kiện. Cuối cùng, Việt Nam được yêu cầu phải quản lý một cách thống nhất, khách quan và hợp lý tất cả các luật, quy định và các thủ tục hành chính áp dụng chung ở cả cấp Trung ương và địa phương. Việc thực thi hiệu quả tất cả các cam kết này – những cam kết vốn đầu tiên được đưa ra theo các nghĩa vụ trong BTA và sau đó được củng cố, mở rộng thông qua việc áp dụng các quy tắc của WTO – sẽ đòi hỏi phải tăng cường đáng kể hệ thống pháp luật và thể chế của Việt Nam. Rõ ràng rằng các chủ thể kinh tế, kể cả tư nhân và nhà nước – tham gia vào hoạt động thương mại, đầu tư hoặc nghiên cứu và phát triển trong một nền kinh tế dựa trên các nguyên tắc thị trường cần có một sự đảm bảo cơ bn về quyền sở hữu trí tuệ, thực thi hợp đồng, bảo vệ chống lại các hành vi phản cạnh tranh, sự vận hành của thị trường tài chính và chứng khoán cũng như khuôn khổ pháp luật vững chắc cho việc thành lập, hoạt động và giải thể của các đơn vị kinh tế khác nhau. Do đó, Việt Nam đã bắt đầu thực hiện các chương trình lớn nhằm xây dựng thể chế và pháp luật, luật quản lý công và chống tham nhũng. Có thể nói rằng quá trình gia nhập WTO, trước đó là việc thực hiện các cam kết trong BTA là chất xúc tác chính cho quá trình cải cách hệ thống trong hệ thống pháp luật, quản lý và hành chính. Những bước tiến này tạo nền tảng vững chắc cho việc thực hiện mục tiêu của Việt Nam là xây dựng một quốc gia xã hội chủ nghĩa dựa trên cơ sở pháp trị và cải cách xã hội theo định hướng thị trường cũng như phát triển khu vực tư nhân một cách tổng thể. Các doanh nghiệp nhà nước sẽ mang định hướng thị trường nhiều hơn hoặc sẽ được cổ phần hóa; đặc điểm của quá trình này là cách tiếp cận hỗ trợ các hoạt động kinh doanh nhiều hơn của các cơ quan quản lý Trung ương và địa phương, nỗ lực giảm quan liêu trong việc xử lý các vấn đề kinh tế cũng như tăng cường minh bạch. Các tổ chức kinh doanh trong và ngoài nước đóng vai trò tư vấn nhiều hơn trong việc hoạch định chính sách và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nhiều hơn sẽ đẩy nhanh xu hướng này. (Khía cạnh pháp lý của việc Việt Nam gia nhập WTO sẽ được thảo luận trong Chương VII).

Những ưu đãi theo từng ngành cụ thể sẽ dần dần được loại bỏ. Gia nhập WTO sẽ giúp giảm sự phân biệt đối xử, tạo thuận lợi cho một số ngành cụ thể trong nền kinh tế Việt Nam. Các chính sách ngày càng thống nhất đối với tất cả các ngành từ lâu đã là mục tiêu của quá trình tự do hóa thuế quan trong các vòng đàm phán liên tiếp của GATT. Trên thực tế, các mức thuế thống nhất sẽ góp phần làm giảm sự khác biệt giữa mức thuế bảo hộ thực tế (tức là bảo hộ giá trị gia tăng) trong các ngành khác nhau và do đó cải thiện việc phân bổ các nguồn lực. Điều này đặc biệt đúng đối với một nền kinh tế đang trong giai đoạn chuyển đổi như Việt Nam, nơi mà hệ thống chính trị đang tiếp tục phát triển. Như kinh nghiệm của nhiều nền kinh tế chuyển đổi đã chỉ ra, với việc các cơ quan quản lý đang thay đổi bản chất của mình, các nhóm ngành thường thành lập các nhóm vận động hành lang nhiều quyền lực và nếu như không được kiểm tra, giám sát, có thể các ngành này sẽ được Chính phủ dành được lợi ích đặc biệt (Olson, 2000, McMenamin, 2002, Kostecki, 2007). Rủi ro của các hành vi tìm kiếm lợi ích đó tại Việt Nam được giảm thiểu nhờ các quy tắc cụ thể của WTO. Phân tích sâu về các nhượng bộ thuế quan của Việt Nam (Chương III) cho thấy các cam kết WTO đã làm giảm đáng kể sự khác biệt giữa mức bảo hộ hiệu quả giữa các ngành khác nhau trong nền kinh tế Việt Nam.

Cần thiết phải thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Khi gia nhập WTO, Việt Nam cũng giống như bất kỳ Thành viên nào khác của WTO phải chấp nhận áp dụng toàn bộ Hiệp định về Quyền sở hữu trí tuệ liên quan tới Thương mại (TRIPS). Điều này đòi hỏi có sự cải thiện đáng kể hệ thống bảo hộ sở hữu trí tuệ (IP) của Việt Nam để hệ thống này tương thích với các yêu cầu của Hiệp định TRIPs. Những thay đổi này liên quan tới cả khuôn khổ pháp lý và thể chế tại Việt Nam, việc áp dụng nguyên tắc MFN và đối xử quốc gia đối với các doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài, các tiêu chuẩn về nội dung đối với bảo hộ sở hữu trí tuệ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong quá trình gia nhập và sau khi gia nhập WTO. Nhờ có những thay đổi quan trọng này, các quy định pháp luật hiện hành tại Việt Nam nhìn chung phù hợp với các yêu cầu của WTO và nhiều khả năng sẽ có cải thiện hơn nữa trong việc thực thi. (Xem thảo luận sâu hơn về vấn đề này tại Chương V dưới đây).

Chính sách thống nhất giữa các vùng. Tại các nước có nhiều khuynh hướng phân chia theo vùng, quan điểm của Chính quyền Trung ương và sự hội nhập của thị trường quốc gia sẽ được củng cố khi gia nhập WTO. Các chính sách liên quan tới thương mại về cơ bản sẽ giống nhau giữa các vùng, địa phương, điều này có nghĩa cả nhà sản xuất và người tiêu dùng sẽ được hưởng lợi nhờ tăng cường cạnh tranh và tính kinh tế nhờ quy mô của một thị trường không bị phân chia. Hơn nữa, ngay cả khi Việt Nam vẫn bị phân tách về mặt kinh tế do chi phí vận tải, hạn chế về di chuyển lao động và sự khác biệt trong mức độ phát triển giữa các vùng, việc gia nhập WTO đảm bảo rằng các nhà cung cấp trong nước và nước ngoài được quyền bình đẳng trong việc tiếp cận tất cả các khu vực của nền kinh tế Việt Nam và có thể đóng góp vào sự phát triển của các vùng trong tương lai.

Cách tiếp cận cân bằng đối với hội nhập khu vực. Việc trở thành Thành viên WTO giúp việc hội nhập kinh tế khu vực trở nên hài hòa hơn (Việt Nam đang tham gia vào quá trình này) theo các nguyên tắc của hệ thống thương mại đa phương. Khía cạnh này rất quan trọng trong bối cảnh Việt Nam tham gia Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA), và các Khu vực Mậu dịch tự do khác đang được đàm phán với Hàn Quốc và Nhật Bản. Đối với một nước không phải là mục tiêu địa chính trị của Trung Quốc hoặc Nhật Bản, việc trở thành Thành viên của WTO tạo ra một mức chuẩn để kiểm tra tính tương thích của các thỏa thuận khu vực với tổng thể quá trình tự do hóa. Quá trình này có thể giúp Việt Nam thu thập lợi ích hiệu quả dự kiến nhờ việc tiếp tục hội nhập sâu vào hệ thống thương mại đa phương. Sự bổ sung giữa tính khu vực và toàn cầu trong quá trình hội nhập dựa trên WTO là rất quan trọng khi thành viên của một nhóm khu vực áp dụng cách tiếp cận “cả nhóm” để gia nhập WTO một cách đồng thời như trường hợp của Đông Nam và Trung Á.2

Củng cố định hướng quốc tế. Gia nhập WTO khiến cho Việt Nam trở nên hấp dẫn hơn đối với các nhà xuất khẩu và đầu tư trực tiếp nước ngoài. Nó cũng cho phép các doanh nghiệp Việt Nam phát triển các hoạt động quốc tế của mình. Điều này không chỉ nhờ vào tác động tâm lý, các chính sách trong nước cởi mở và hợp lý hơn cùng quá trình phi điều tiết hóa mà còn nhờ vào sự chấp nhận các quy tắc của WTO về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Xu hướng này dẫn tới sự phụ thuộc lẫn nhau nhiều hơn giữa Việt Nam và các nước khác, cho thấy Chính phủ Việt Nam và Chính phủ các nước này sẽ tăng cường tham vấn về các vấn đề chính sách kinh tế khác nhau và hoạch định các chính sách của mình với nhận thức rõ ràng về tác động quốc tế của các chính sách này. Cụ thể hơn, quá trình này cũng đòi hỏi Việt Nam duy trì một mạng lưới các chuyên gia về WTO tại các Bộ ngành thuộc Chính phủ và một nhóm các nhà ngoại giao tại Geneva và một số nơi khác để đảm bảo việc tham gia tích cực vào các vấn đề WTO và bảo vệ quyền lợi của mình tại các diễn đàn thương mại ở cấp đa phương, khu vực và song phương.

Hầu như không có nghi ngờ gì đối với việc quá trình gia nhập WTO sẽ ảnh hưởng tới quá trình hoạch định chính sách kinh tế tại Việt Nam và tạo động lực cho tăng trưởng phát triển kinh tế và xã hội. Tổng thu nhập bình quân đầu người (GDP) của Việt Nam đã tăng 5,9% một năm trong suốt giai đoạn 1993-2005 và đã đạt mức tăng 8% vào các năm 2005 và 2006. Một trong những lý do quan trọng dẫn tới thành công này là quá trình tự do hóa kinh tế: máy móc và thiết bị nhập khẩu rẻ hơn, tiếp cận các dịch vụ có chất lượng của nước ngoài, thị trường nội địa trở nên cạnh tranh hơn và Việt Nam trở nên hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Xu hướng phát triển này cũng rất quan trọng nếu xét từ khía cạnh tỷ lệ đói nghèo của Việt Nam đã giảm từ 57% vào năm 1995 xuống xòn

20% và tốc độ tăng trường cao – so với những diễn biến tại nhiều nước khác – chỉ làm tăng sự phân biệt giàu nghèo chút ít. Trên thực tế, chỉ số Gini về bình đẳng chỉ ở mức 0,37 vào năm 2004 (Báo cáo Phát triển Việt Nam năm 2006). Điều này cho thấy “phần bánh” mà khu vực nghèo nhất của Việt Nam thu được tiếp tục tăng kể từ khi Việt Nam bắt đầu tiến hành các cải cách liên quan tới WTO, dẫn tới tăng trưởng kinh tế cao hơn và các chính sách xã hội hiệu quả hơn.

8. Tác động tới doanh nghiệp

Có nhiều bằng chứng cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam đã phản ứng tích cực trước những thuận lợi mà quá trình gia nhập WTO đem lại. Phản ứng của các doanh nghiệp đối với các cam kết gia nhập WTO phụ thuộc vào hai yếu tố quan trọng. Thứ nhất, mức độ tự do hóa các rào cản đối với thương mại và các nhà xuất khẩu của Việt Nam cũng như các nhà doanh nghiệp nước ngoài xuất khẩu sang Việt Nam gặp phải. Thứ hai, mức độ nhận thức và khả năng của các doanh nghiệp Việt Nam trong việc tận dụng cơ hội tăng cường khả năng tiếp cận các thị trường nước ngoài và khả năng điều chỉnh trong môi trường cạnh tranh cao hơn tại thị trường trong nước. Nói cách khác, việc gia nhập WTO có thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam hay không không chỉ phụ thuộc vào những thay đổi tích cực trong việc tiếp cận thị trường do quá trình gia nhập WTO đem lại mà còn phụ thuộc vào các hành động cụ thể của Chính phủ Việt Nam và các doanh nghiệp. Đặc biệt, thành công xuất khẩu sẽ phụ thuộc vào thông tin kinh doanh, cơ sở hạ tầng cho các nhà xuất khẩu và tinh thần doanh nghiệp của họ. Cả Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ đều nhận thức đầy đủ về các vấn đề này, như được thể hiện trong Nghị quyết và Chương trình hành động năm 2007 liên quan tới việc Việt Nam gia nhập WTO (Chính phủ Việt Nam năm 2007). Nghị quyết này kêu gọi tăng cường hỗ trợ kỹ thuật cho các doanh nghiệp Việt Nam để tận dụng cơ hội và điểu chỉnh trước những thay đổi về thể chế do việc gia nhập WTO đem lại.

Phản ứng chiến lược. Tuy nhiên, gia nhập WTO không phải là một “thần dược” đối với nhiều doanh nghiệp Việt Nam. Trên thực tế, trong một số khía cạnh quan trọng, gia nhập có thể làm tăng thách thức mà các doanh nghiệp trong nước gặp phải. Loại bỏ trợ cấp và giảm thuế nhập khẩu được coi là sẽ khiến một số ngành trong nước gặp nhiều khó khăn hơn và sẽ phải điều chỉnh. Rất nhiều cam kết cắt giảm thuế quan đã được thực thi và các cam kết khác sẽ được thực hiện trong tương lai gần. Quá trình này đòi hỏi các doanh nghiệp phải giám sát những sự thay đổi và đề ra phản ứng chiến lược hợp lý (ở mức độ công ty, phản ứng chiến lược đề cập tới phản ứng trước những điều chỉnh cơ cấu ở cấp kinh tế vĩ mô). Rõ ràng, các mức thuế suất bình quân không có ý nghĩa nhiều đối với các doanh nghiệp, từng doanh nghiệp phải tự mình xem xét các dòng thuế cụ thể và phân tích khả năng cạnh tranh của mình tại từng thị trường xuất khẩu cụ thể. Trong quá trình này, cần phải xem xét kỹ các cam kết trong các thỏa thuận hội nhập khu vực mà Việt Nam đã tham gia trước khi có thể phân tích đầy đủ quá trình tự do hóa mà WTO đem lại xét về khía cạnh thị trường. Ví dụ, trong khuôn khổ Hiệp định ASEAN – Trung Quốc, Việt Nam đã cam kết từ năm 2008 sẽ áp dụng thuế suất 0% đối với thịt lợn nhập khẩu và trong bối cảnh này, bất kỳ cam kết cắt giảm nào đối với thịt bò trong WTO trong thời điểm hiện nay sẽ không có ý nghĩa quan trọng trên thực tế vì rất ít Thành viên WTO có khả năng cạnh tranh với Trung Quốc đối với mặt hàng này. Do đó, các công ty cần bổ sung các thông tin liên quan tới WTO vào dữ liệu thông tin thị trường của mình và cân nhắc những diễn biến trong hệ thống WTO khi xem xét các lựa chọn chiến lược dài hạn (ITC, 2001). Ví dụ, quá trình tự do hóa thương mại đa biên có thể làm xói mòn những ưu đãi thuế quan mà Việt Nam được hưởng tại một số nước phát triển nhất định nhờ quy chế đối xử đặc biệt và khác biệt. Sự xói mòn này có thể làm giảm khả năng cạnh tranh do tác động phân hóa thương mại của các thỏa thuận hội nhập khu vực. Ví dụ, trường hợp một số nhà sản xuất hàng dệt may của Việt Nam đang gặp phải cạnh tranh ngày càng tăng trên thị trường EU sau khi một số nước Đông Âu có ngành sản xuất hàng dệt may lớn gia nhập EU.

Các cuộc đàm phán dịch vụ cũng tạo ra nhiều thách thức cho Việt Nam, tuy nhiên trong lĩnh vực dịch vụ thì một số cam kết WTO trong một số ngành/phân ngành, ví dụ như ngân hàng và bảo hiểm, đã được tự do hóa ở một số Hiệp định khác như Hiệp định Thương mại song phương (BTA) giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Tương tự như đối với hàng hóa, các nhà quản lý khi phân tích các cam kết WTO phải so sánh chúng với các cam kết khu vực. Liên quan tới vấn đề sở hữu, một yếu tố quan trọng là cần phân tích chính xác những lĩnh vực cho phép nước ngoài chiếm sở hữu đa số ngay tại thời điểm gia nhập hoặc sau một giai đoạn chuyển tiếp nhất định. Có thể tham khảo rất nhiều thông tin liên quan trên các trang thông tin điện tử của Bộ Tài chính tại Hà Nội.

Hộp 3

Chiến lược kinh doanh trước những diễn biến mới trong hệ thống

Thương mại: Một số vấn đề cho các doanh nghiệp Việt Nam

1. Có những cơ hội tiếp cận thị trường mới nào ở nước ngoài mà các cuộc đàm phán WTO cũng như các thỏa thuận thương mại khu vực hoặc song phương đem lại, doanh nghiệp cần có chiến lược gì để tận dụng các cơ hội này? Có cần điều chỉnh chiến lược sản phẩm, giá và đa dạng hóa tại các thị trường xuất khẩu hay không?

2. Những thay đổi trong môi trường pháp lý ở nước ngoài ảnh hưởng như thế nào tới vị thế của doanh nghiệp? Cụ thể, (i) tác động của quá trình hội nhập khu vực đối với vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp (ii) tác động của việc giảm ưu đãi đối với doanh nghiệp do Chính phủ các nước đưa ra các cam kết trong WTO là như thế nào (iii) Có những thay đổi nào trong các quy định pháp lý về TBT, SPS hoặc sở hữu trí tuệ mà doanh nghiệp cần phản ứng?

3. Doanh nghiệp cần phản ứng như thế nào trước việc các doanh nghiệp nước ngoài tăng cường cạnh tranh trên thị trường nội địa? Cần có quy trình quản lý nào? Doanh nghiệp có thể tiếp cận các đầu vào nào với giá rẻ hơn nhờ quá trình tự do hóa thương mại?

4. Doanh nghiệp cần điều chỉnh chiến lược như thế nào để phù hợp với môi trường pháp lý mới tại Việt Nam đối với quyền sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn kỹ thuật và vệ sinh dịch tễ?

5. Những nguy cơ nào từ việc bị coi là bán phá giá cũng như các biện pháp đối kháng đối với doanh nghiệp và có thể giảm thiểu các nguy cơ này như thế nào? Trong những tình huống nào thì doanh nghiệp hoặc hiệp hội ngành có thể bắt đầu chống bán phá giá hoặc chống đối khác chống lại các công ty nước ngoài hoạt động tại Việt Nam?

6. Các doanh nghiệp cần quan tâm tới các đề xuất cụ thể nào về tự do hóa thương mại hoặc bảo hộ nào? Các doanh nghiệp khác có thể quan tâm tới các vấn để nào để ủng hộ quan điểm của doanh nghiệp? Có thể áp dụng chiến lược phổ biến nào để kêu gọi các hành động phù hợp với WTO nhằm hỗ trợ một ngành cụ thể trong nước hoặc doanh nghiệp?

7. Hiệp hội doanh nghiệp có thể đóng vai trò mới nào trong quá trình hoạch định chính sách? Cụ thể, các hiệp hội doanh nghiệp có thể đóng vai trò hữu ích như thế nào trong việc thu thập thông tin kinh tế, đào tạo, phát triển chiến lược xuất khẩu của một ngành cụ thể, tìm kiếm đối tác quốc tế, phổ biến thông tin, v.v…? Doanh nghiệp có thể yêu cầu những hỗ trợ nào từ Chính phủ hoặc các tổ chức quốc tế nhằm tài trợ cho các dự án, quá trình điều chỉnh cơ cấu hoặc phát triển xuất khẩu của mình?

Yêu cầu hỗ trợ. Các Hiệp hội doanh nghiệp cần được tư vấn để điều chỉnh cách tiếp cận của họ trong việc yêu cầu trợ cấp. Các công ty sẽ không thể yêu cầu Chính phủ trợ cấp xuất khẩu cho hàng hóa sản xuất trong nước do Việt Nam đã cam kết loại bỏ các khoản trợ cấp này. Tuy nhiên, các doanh nghiệp Việt Nam có thể xin được hỗ trợ đối với một số dự án nghiên cứu và phát triển (R&D), xúc tiến xuất khẩu của một số cơ quan chính phủ chuyên trách, v.v… Các doanh nghiệp cũng nên biết rằng có những loại trợ cấp phù hợp với quy định của WTO. Tuy nhiên, những người chuẩn bị yêu cầu trợ cấp cần nắm vững các quy định của WTO để có cơ sở phù hợp. Các công ty luật của Việt Nam sẽ có nhiều thị trường cho dịch vụ tư vấn các vấn đề liên quan tới WTO trong lĩnh vực này cũng như các lĩnh vực khác như thủ tục chống bán phá giá, định giá hải quan và tiêu chuẩn kỹ thuật, v.v…

Các vấn đề sở hữu trí tuệ. Giám đốc các doanh nghiệp sản xuất hàng nhái hoặc vi phạm các quy định về sở hữu trí tuệ sẽ có nhiều khả năng bị truy tố hình sự và dân sự tại Việt Nam. Nguy cơ này đang tăng lên do các công ty nước ngoài ngày càng có cách tiếp cận chủ động hơn đối với việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của họ tại Việt Nam và các cơ quan quản lý của Việt Nam đã đạt được tiến bộ trong việc thực thi các sáng kiến pháp luật khác nhau để thực thi các cam kết TRIPs của Việt Nam. Các quy tắc pháp lý chặt chẽ hơn về sở hữu trí tuệ đã tạo điều kiện cho nhiều doanh nghiệp Việt Nam bảo hộ các sáng chế và tài sản marketing của họ hoặc tìm đối tác với các chủ sở hữu tài sản trí tuệ nước ngoài. Do các công ty Việt Nam đang ngày càng quan tâm nhiều hơn tới việc bảo vệ các bằng sáng chế, thương hiệu và các quyền sở hữu trí tuệ của họ cũng như việc đảm bảo hàng xuất khẩu của mình tuân thủ các quy tắc về sở hữu trí tuệ của nước ngoài, do đó cũng có nhu cầu sử dụng các nhà tư vấn trong lĩnh vực kinh doanh và các chuyên gia pháp lý. Rõ ràng, việc tăng cường cải thiện bảo vệ sở hữu trí tuệ tại Việt Nam đã có tác động tích cực tới đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDIs) của nhiều công ty công nghệ cao đồng thời cũng là những doanh nghiệp sử dụng nhiều tài sản trí tuệ. Các nhà xuất khẩu Việt Nam sẽ có nhận thức cao hơn về thương hiệu và học được các kỹ năng xây dựng thương hiệu, hình ảnh và các kỹ năng tiếp thị khác nhằm để nâng giá sản phẩm của mình trên các thị trường toàn cầu. Giáo dục, đào tạo thực hành và nghiên cứu tiếp thị là các ưu tiên khẩn thiết đối với nhiều ngành trong nước. (Xem thêm Chương V).

Các tiêu chuẩn kỹ thuật và vệ sinh dịch tễ. Việc mở rộng xuất khẩu của các nhà sản xuất Việt Nam thường bị cản trở bởi các tiêu chuẩn kỹ thuật và vệ sinh dịch tễ, các tiêu chuẩn này được các Hiệp định của WTO điều chỉnh. Có thể cần tổ chức các chương trình thâm nhập thị trường thông qua các quy định kỹ thuật cho các ngành cụ thể của Việt Nam theo từng vấn đề nhằm thúc đẩy các cơ hội xuất khẩu thông qua việc xác định các lĩnh vực có thể tuân thủ được các tiêu chuẩn trong ngắn hạn hoặc xác định các vấn đề cần phải đàm phán với các Thành viên liên quan nhằm đưa ra các quy tắc và thủ tục khác nhau (nhưng tương đương), tạo điều kiện cho xuất khẩu của Việt Nam (ITC, 2001).

Hỗ trợ doanh nghiệp. Việc Việt Nam gia nhập WTO tạo ra nhu cầu cần hỗ trợ doanh nghiệp. Một mặt, nhiều hiệp hội ngành, phòng Thương mại và Công nghiệp và các tổ chức chuyên môn cần thực thi các chính sách tích cực nhằm bảo vệ quyền lợi của các thành viên trong quá trình đưa ra chính sách. Các công ty nước ngoài đầu tư tại Việt Nam cũng có thể trở thành thành viên của các hiệp hội doanh nghiệp trong nước. Điều này sẽ thay đổi xu hướng xây dựng liên minh trong chính sách thương mại và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nước ngoài tiếp cận các nhà hoạch định chính sách. Một minh họa về các cơ hội cho doanh nghiệp là hiện nay các bên quan tâm đã có một khoảng thời gian “hợp lý” (60 ngày) để bình luận các dự thảo văn bản pháp luật của Việt Nam.

Rất nhiều cải cách khác từ quá trình gia nhập WTO đem lại lợi ích cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước sẽ được thực thi tại Việt Nam trong những năm tới (Ngo Van Diem và các tác giả khác, 2007). Ví dụ, Luật Doanh nghiệp thống nhất và Luật Đầu tư chung có hiệu lực vào năm 2007 đã đưa ra một khuôn khổ quy tắc chung cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước, tạo cơ sở cho việc khuyến khích và bảo hộ tất cả các hình thức đầu tư. Việc Nam cũng đã đạt được tiến bộ trong việc hài hòa hóa các quy tắc về quyền kinh doanh, qua đó thủ tục đăng ký sẽ giống nhau cho các doanh nghiệp kinh doanh trong và ngoài nước – một sự thay đổi chính sách sẽ khuyến khích các nhà đầu tư mới vào Việt Nam.

9. Kết luận

WTO có lẽ là tổ chức kinh tế quốc tế duy nhất yêu cầu các quốc gia phải tuân thủ chương trình cải cách và tự do hóa kinh tế với quy mô lớn như thế. Trở thành Thành viên WTO không phải là một sự bước đi dễ dàng cho cả Chính phủ nước gia nhập và cộng đồng doanh nghiệp của nước này. Các cuộc đàm phán gia nhập đã rất khó khăn cho cả Việt Nam cũng như các thành viên WTO, thể hiện ở quá trình đàm phán kéo dài tới 12 năm. Quá trình đàm phán gia nhập phức tạp và kéo dài đã kết thúc thành công nhờ vào sự quan tâm liên tục của Chính phủ và nhân dân Việt Nam tới tiến trình này cũng như thiện chí của các nước Thành viên WTO trong việc chào đón Việt Nam trở thành một Thành viên mới. Nói một cách đơn giản: các bên đều khó có lựa chọn nào khác ngoài việc kết thúc tiến trình gia nhập WTO của Việt Nam.

Trong tiến trình đàm phán gia nhập, các nhà hoạch định chính sách có quan điểm về cải cách thương mại rộng hơn là chỉ quan tâm tới những thay đổi về mức thuế quan, các hạn chế định lượng và sự biến đổi về giá so sánh do những thay đổi đó tạo nên. Mối quan tâm lới nhất là những sự thay đổi sâu sắc hơn về xu hướng hành xử trong khu vực nhà nước tại Việt Nam và trong mối quan hệ giữa Chính phủ với khu vực tư nhân và nền kinh tế thế giới. Trong giai đoạn 5 năm trước khi gia nhập WTO, Việt Nam đã đưa ra những thay đổi cơ bản trong khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động thương mại cũng như các thủ tục hành chính và tư pháp. Việt Nam đã sửa đổi đáng kể các văn bản pháp luật điều chỉnh các hoạt động kinh tế và điều chỉnh rất nhiều khía cạnh của hệ thống pháp luật nói chung. Đôi khi có lập luận rằng đóng góp chính của tiến trình gia nhập WTO đối với một nền kinh tế mới gia nhập không phải là tự do hóa thương mại hay tuân thủ với các quy định của WTO mà là mức độ đóng góp của quá trình cải cách đối với việc tạo ra môi trường thể chế có chất lượng cao (Rodrik, 2002). Trường hợp của Việt Nam phù hợp với quan điểm trên do quá trình gia nhập đã đóng góp vào việc tạo ra các điều kiện thể chế tiên quyết cho một nền kinh tế thị trường và cơ chế khắc phục cho việc ổn định kinh tế vĩ mô.

Việt Nam cũng đã thực hiện tự do hóa đáng kể đối với thuế nhập khẩu và thương mại dịch vụ, đã tiến hành điều chỉnh cơ sở hạ tầng và chuyển đổi hệ thống kinh tế phù hợp với các quy tắc của WTO. Rất nhiều hạn ngạch nhập khẩu đã bị loại bỏ, thuế quan và trợ cấp đã được giảm, nhiều cam kết mới được đưa ra trong các ngành dịch vụ then chốt (ví dụ dịch vụ tài chính) cũng như đối với tiêu chuẩn kỹ thuật và vệ sinh dịch tễ. Việt Nam cũng đã tăng cường việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ (bao gồm cả việc xét xử hình sự nếu quy mô vi phạm lớn), định giá hải quan và tiếp tục chương trình tư nhân hóa hay “cổ phần hóa”. Tuy nhiên, những thay đổi đó khó có thể coi là tạo ra gánh nặng cho nền kinh tế Việt Nam (nhưng một số người theo tư tưởng bảo hộ có thể coi đó là “cái giá” của việc gia nhập WTO) do những thay đổi này được đưa ra nhằm tăng năng suất thông qua một sân chơi bình đẳng hơn giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân cũng như giữa các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài. Do đó, các quy tắc mới có thể được coi là sẽ giúp các cơ quan quản lý Việt Nam vượt qua được những điểm yếu của rất nhiều nước có thu nhập thấp trong phương thức quản lý của họ. Các quy tắc này yêu cầu một mức độ nhất định đối với các yếu tố minh bạch hóa, khả năng dự đoán và hành vi theo pháp quyền cũng như không phân biệt đối xử trong các chính sách, lĩnh vực thường mang tính tùy tiện và đem lại lợi ích cho một nhóm người tại các nền kinh tế mới nổi. Các cơ quan quản lý của Việt Nam đã thành công trong việc quản lý sự thay đổi về cơ cấu này đồng thời vẫn đảm bảo tăng trưởng kinh tế cao và tăng thu nhập bình quân đầu người đáng kể trong khi không làm thay đổi sự bình đẳng kinh tế.

Việt Nam tận dụng được các cơ hội mở cửa thị trường và các quy tắc của WTO trong việc tăng cường xuất khẩu và thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Một trong số các động lực của việc gia nhập WTO đối với Việt Nam là nhu cầu gia tăng xuất khẩu nhờ được tiếp cận nhiều hơn các thị trường xuất khẩu, đặc biệt đối với nông sản, dệt may, quần áo, thủy sản cũng như tạo ra các cơ hội cho một số lĩnh vực xuất khẩu mới, có tiềm năng. Tương tự như vậy, một trong số các động lực chính nữa cho việc gia nhập WTO là hy vọng thu hút thêm nhiều vốn đầu tư nước ngoài từ các công ty tiên phong và tạo ra việc làm cho giới trẻ Việt Nam.

Tại thời điểm khi Việt Nam mới gia nhập WTO được khoảng 1 năm, còn quá sớm để đưa ra kết luận cuối cùng về tác động của việc gia nhập đối với nền kinh tế Việt Nam. Hơn nữa, do nhiều thay đổi pháp lý mới được thực hiện gần đây, rất khó có thể tách biệt tác động của việc Việt Nam tham gia các thoả thuận thương mại khu vực như Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA) khỏi tác động của việc trở thành Thành viên của WTO.3 Tuy nhiên, những số liệu ban đầu cho thấy việc trở thành Thành viên của WTO đã đem lại lợi ích cho nền kinh tế Việt Nam. Về tổng quan, Việt Nam đã cân bằng được giữa “giá” phải trả để gia nhập và lợi ích thu được. Việt Nam đã thành công trong việc hướng tới một môi trường chính sách có chất lượng cao hơn, gửi các tín hiệu rõ ràng tới các nhà sản xuất và các nhà đầu tư, loại bỏ các hành vi trục lợi, hạn chế việc lãng phí các tài nguyên kinh tế và duy trì ổn định xã hội.

Rõ ràng, gia nhập WTO sẽ giúp Việt Nam đẩy mạnh cải cách pháp lý, kinh tế và thể chế xã hội. Tác động trước mắt của việc gia nhập WTO và những yêu cầu thay đổi cụ thể có thể được tóm tắt như sau:

– Gia nhập WTO sẽ tăng khả năng tiếp cận của Việt Nam vào thị trường dệt may của Hoa Kỳ; tuy nhiên sẽ không trực tiếp mở rộng quy mô thị trường;

– Gia nhập WTO sẽ giúp Việt Nam trở thành một điểm đến hấp dẫn hơn đối với đầu tư nước ngoài, điều này sẽ đóng góp vào việc tăng sản lượng, việc làm, tăng trưởng và phát triển công nghệ;

– Gia nhập WTO sẽ đòi hỏi hiện đại hóa hệ thống hành chính và pháp luật của Việt Nam nhằm phù hợp với các tiêu chuẩn quôc tế, khuyến khích các hoạt động kinh doanh trong và ngoài nước;

– Gia nhập WTO sẽ tạo điều kiện cho Việt Nam có tiếng nói trong WTO và các quyền của Việt Nam trong WTO sẽ được bảo vệ về mặt pháp lý;

-Yêu cầu cao hơn về minh bạch hóa (công khai dự thảo văn bản pháp luật và quy định để các bên quan tâm nhận xét); yêu cầu nhiều cải cách thể chế và pháp luật hơn.

Tuy nhiên, ở một số khía cạnh, BTA đi xa hơn WTO như trong lĩnh vực đầu tư: thủ tục cấp phép rút gọn, bảo hộ đầu tư mạnh hơn và giải quyết tranh chấp tốt hơn. Trong khi tác động của BTA mang tính chất song phương thì việc gia nhập WTO dẫn tới các lợi ích chung như: xét về tác động, chúng ta có thể thấy tác động trực tiếp của BTA đối với các nhà xuất khẩu của Việt Nam là rất lớn do Hoa Kỳ giảm mạnh thuế nhập khẩu đối với hàng xuất khẩu từ Việt Nam; tác động trực tiếp của việc gia nhập WTO đối với các nhà xuất khẩu Việt Nam là hạn chế, các Thành viên WTO không bị yêu cầu mở cửa thêm thị trường cho các nhà xuất khẩu Việt Nam; có tác động trực tiếp lớn từ việc loại bỏ hạn ngạch dệt may của Hoa Kỳ đối với các nhà xuất khẩu Việt Nam.

– Gia nhập WTO sẽ tăng cạnh tranh tại Việt Nam đối với một số hàng hóa và dịch vụ và có thể tác động tới một số nhóm quyền lợi nhưng sẽ đem lại lợi ích chung cho toàn bộ đất nước.

Bên cạnh những thuận lợi này, các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam cũng sẽ đem lại những thách thức như:

– Phát triển nguồn nhân lực và khả năng thể chế trong khu vực nhà nước và tư nhân để thực thi các luật, quy định mới một cách hiệu quả;

– Nhu cầu cần phân tích tác động kinh tế – xã hội của việc gia nhập WTO đối với tất cả các ngành nhằm xác định các chính sách để giúp các doanh nghiệp, nông dân và công nhân tại Việt Nam để tận dụng đầy đủ các lợi ích của WTO và giảm các chi phí trong quá trình điều chỉnh đối với những ngành dễ bị tổn thương;

– Đẩy mạnh tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam.

Cần cải cách hệ thống pháp luật hơn nữa để có thể thực thi đầy đủ các cam kết WTO:

– Hoàn thiện các văn bản pháp lý để thực thi các luật mới được thông qua

– Điều chỉnh nhiều luật và quy định mới được thông qua để hoàn toàn tuân thủ các yêu cầu của WTO cũng như đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam

– Cân nhắc các luật “chung” nhằm điều chỉnh, sửa đổi đồng thời một vài luật và quy định liên quan tới cùng một vấn đề

– Cần có luật để tăng cường thể chế và thủ tục hành chính nhằm thực thi các cam kết WTO và xây dựng các luật trong nước như:

Luật về Ngân hàng Nhà nước; Luật về Tổ chức của Tòa án; Luật về Tổ chức của Viện kiểm sát; Luật Ban hành các văn bản pháp luật (và Luật về luật trong nước); có thể chuẩn bị Bộ luật Tố tụng dân sự mới; Luật Khiếu nại, tố cáo, có thể hình thành hệ thống toà án hành chính mới; các luật để khuyến khích các thủ tục pháp lý “minh bạch”ở cấp Trung ương và địa phương.

Các Chương tiếp theo sẽ phân tích cam kết gia nhập WTO, nhấn mạnh ý nghĩa của việc gia nhập WTO và trong nhiều trường hợp đưa ra khuyến nghị để thực thi chính xác các cam kết, tận dụng cơ hội từ việc trở thành Thành viên WTO.

Chú thích:

1 MUTRAP II đang thực hiện một nghiên cứu trong khuôn khổ chương trình HOR-9, chương trình này nhằm đánh giá tác động sau một năm gia nhập WTO đối với Việt Nam.

2. Chương trình HOR-2 của MUTRAP sẽ tập hợp các cam kết của Việt Nam theo ASEAN, APEC, ASEM và các thỏa thuận khác và sẽ xem xét mối liên hệ của chúng với các cam kết WTO. Nghiên cứu HOR-11 của MUTRAP sẽ được công bố trên trang thông tin điện tử của MUTRAP: www.mutrap.org.vn.

3.  Về tổng thể, các cam kết của Việt Nam trong WTO khác với BTA ở những khía cạnh sau:

– WTO yêu cầu cao hơn vì phải áp dụng đầy đủ đối với tất cả các Thành viên thông qua nguyên tắc MFN;

– Yêu cầu cắt giảm thuế nhập khẩu sâu và rộng hơn;

– Có nghĩa vụ loại bỏ trợ cấp xuất khẩu;

– Tự do hóa dịch vụ nhiều hơn.

SOURCE: VIỆT NAM GIA NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI – GIẢI THÍCH CÁC ĐIỀU KIỆN GIA NHẬP, MUTRAP II DỰ ÁN HỖ TRỢ THƯƠNG MẠI ĐA BIÊN MULTILATERAL TRAD. 2008 ASSISTANCE PROJECT. NHÀ XUẤT BẢN LAO ĐỘNG – XÃ HỘI

ĐỌC TOÀN VĂN TÀI LIỆU TẠI ĐÂY (SỬ DỤNG PHẦN MỀM ĐỌC FILE PDF)

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: