CÁC KHÍA CẠNH PHÁP LÝ CỦA QUÁ TRÌNH GIA NHẬP WTO

PETER NARAY & NGUYỄN KHÁNH NGỌC

Giới thiệu

Trong quá trình đàm phán bất kỳ điều ước quốc tế nào, bên cạnh các cân nhắc về chính trị quyết định sự cần thiết và mục tiêu của điều ước, các khía cạnh pháp lý có tầm quan trọng đặc biệt. Đối với các nước theo cách tiếp cận “nhất nguyên” đối với các điều ước quốc tế, tức là các điều ước quốc tế đã ký kết có thể được áp dụng trực tiếp trong hệ thống luật pháp trong nước thì các điều ước quốc tế là một nguồn luật quan trọng. Dù một Thành viên WTO có cách tiếp cận pháp lý như thế nào đối với với các điều ước quốc tế mà Thành viên này tham gia, WTO coi việc thực hiện các nghĩa vụ trong WTO là yếu tố có tầm quan trọng quyết định, thể hiện ở quy định "Mỗi Thành viên sẽ đảm bảo việc các luật, quy định và thủ tục hành chính tuân thủ với các nghĩa vụ của Thành viên đó…”126.

Theo Luật Đàm phán, ký kết và gia nhập các Điều ước quốc tế của Việt Nam năm 2005 (“Luật Điều ước”) thì các điều ước quốc tế mà Việt Nam là Thành viên được thừa nhận là có hiệu lực pháp lý để áp dụng trực tiếp trong nội luật nếu như các cơ quan có thẩm quyền quyết định áp dụng trực tiếp và sẽ được ưu tiên áp dụng trong trường hợp luật trong nước quy định khác127. Do đó, không thể hiểu hết tác động pháp lý của việc trở thành Thành viên WTO cũng như các cam kết trong Tổ chức này nếu như không biết rõ hiệu lực pháp lý của các cam kết và cách thức các cam kết này được thực thi trong nội luật. Một công cụ pháp lý quan trọng đối với WTO là Nghị quyết số 71/2006/QH11 ngày 29/11/2006 của Quốc hội về việc phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định WTO của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (Nghị quyết phê chuẩn số 71). Một yếu tố nữa cũng quan trọng là năm 2001 Việt Nam đã trở thành Thành viên của Công ước Viên năm 1969 về Điều ước quốc tế, Công ước được thừa nhận là cơ sở pháp luật và hướng dẫn diễn giải tất cả các quy tắc và cam kết trong WTO128; do đó, Việt Nam phải thực thi các nghĩa vụ và cam kết của mình phù hợp với các quy tắc của WTO như được diễn giải theo các quy tắc của Công ước Viên.

Nghiên cứu này nhằm phân tích tác động của các khía cạnh pháp lý trong quá trình gia nhập WTO của Việt Nam thông qua rà soát các cam kết WTO liên quan tới lĩnh vực pháp lý129, như thực hiện các điều ước quốc tế (kể cả các cam kết WTO) thông qua quy định pháp luật trong nước, áp dụng thống nhất và minh bạch hóa chính sách (công bố luật, nhận xét của công chúng và công văn).

Trong trường hợp có thể, nghiên cứu này đã nỗ lực để so sánh các cam kết của Việt Nam với các cam kết của Trung Quốc. Ở phần cuối, nghiên cứu đưa ra nhận xét và khuyến nghị để thực thi hiệu quả các cam kết cũng như tận dụng cơ hội và vượt qua thách thức từ việc thực hiện này.

1. Thông tin chung

1.1. Các khía cạnh pháp luật trong quá trình đàm phán gia nhập WTO của Việt  Nam

Mặc dù việc gia nhập WTO có thể được nhìn nhận từ nhiều khía cạnh khác nhau, đối với các luật sư thì nội dung cơ bản của việc trở thành Thành viên của WTO là thúc đẩy sự hài hòa cơ chế thương mại của các Thành viên WTO. Nhưng không may là các vấn đề pháp luật thường chỉ được giải quyết vào giai đoạn cuối cùng của các cuộc đàm phán và các nhà đàm phán thường đánh giá thấp hoặc hiểu nhầm các khía cạnh pháp lý của các cuộc đàm phán, những người thường là các chuyên gia thương mại và tập trung chủ yếu vào các khía cạnh chính sách thương mại của các cuộc đàm phán. Do đó, các kết quả đạt được đôi khi không được thể hiện bằng ngôn ngữ phù hợp, dẫn tới những khó khăn không cần thiết cho việc thực thi sau này cũng như các hậu quả không mong muốn.

Một điều thông thường là các nghĩa vụ trong các điều ước quốc tế đang được thực hiện vào thời điểm điều ước có hiệu lực130, nhưng điều ước lại dành cho các Thành viên quyền quyết định thực thi các nghĩa vụ này như thế nào131. Tất cả những yếu tố này dẫn tới thực tiễn đa dạng, chậm trễ và thậm chí không thực hiện các nghĩa vụ trong các điều ước quốc tế mặc dù đã có nguyên tắc pháp lý pacta sunt sevanda (điều ước phải được thực hiện một cách nghiêm túc). Do đó, một số Thành viên WTO có quan điểm theo hướng đánh giá sự việc các Thành viên WTO khác chậm trễ và không thực hiện các nghĩa vụ của họ khi thực hiện nghiêm túc các nghĩa vụ WTO của các nước này (điều này trái với các quy tắc của DSU cấm các Thành viên đơn phương đánh giá về hành vi bị coi là vi phạm WTO). Trong bối cảnh này, các khía cạnh pháp lý của quá trình thực thi đã trở thành trọng tâm trong các cuộc đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam. Các Thành viên WTO đã yêu cầu Việt Nam chứng minh Việt Nam sẽ thực thi như thế nào và khi nào tất cả các cam kết WTO trong hệ thống pháp luật trong nước và thậm chí yêu cầu Việt Nam thực thi một số cam kết trước khi gia nhập

Ngoài ra, Việt Nam đã bị yêu cầu đưa ra Chương trình xây dựng pháp luật để thực thi các Hiệp định của WTO trong các phiên cuối của Ban công tác. Chương trình này đã được điều chỉnh liên tục cho tới tận những phiên đàm phán cuối cùng để thể hiện kết quả các cuộc đàm phán và diễn biến của hệ thống pháp luật. Khi Việt Nam trở thành Thành viên của WTO, Chương trình xây dựng pháp luật cuối cùng bao gồm 26 luật và nghị định đã được thực hiện đầy đủ, trừ Luật Thực thi phán quyết của tòa án, Luật này đã được trình ra Quốc hội và theo dự kiến sẽ sớm được thông qua.

Liên quan tới các cuộc đàm phán WTO, các cam kết liên quan trực tiếp tới toàn bộ hệ thống pháp lý – thực thi các điều ước quốc tế (kể cả cam kết WTO) trong nội luật, áp dụng thống nhất các văn bản pháp luật và minh bạch hóa luật pháp (công bố luật, nhận xét của công chúng và công văn) – (sau đây gọi là “các vấn đề pháp lý chung và minh bạch hóa”), các cuộc đàm phán thường rất khó khăn và trải rộng. Yếu tố then chốt để hiểu các cam kết WTO được thực thi trong nội luật như thế nào là xem xét khuôn khổ pháp luật chung đối với các điều ước quốc tế. Đầu tiên, Việt Nam được yêu cầu cung cấp các quy định pháp lý về các điều ước quốc tế và sau đó trình bày xem các cam kết WTO sẽ được thực thi hiệu quả như thế nào trong nội luật. Trong gần 11 năm đàm phán gia nhập WTO, Việt Nam đã dựa vào ba văn bản pháp luật chính – Pháp lệnh 1989 về Ký kết và thực hiện các Điều ước quốc tế, Pháp lệnh 1998 về Ký kết và thực thi các Điều ước quốc tế và Luật Điều ước năm 2005. Nghị định thư gia nhập của Việt Nam chứa các cam kết viề việc các Hiệp định và cam kết WTO sẽ được thực hiện như thế nào trong hệ thống pháp luật của Việt Nam.

Để áp dụng thống nhất và minh bạch hóa các quy định pháp luật cùng với các quy tắc pháp lý chung trong các Hiệp định của WTO, các Thành viên WTO đã yêu cầu Việt Nam cam kết thêm. Các cuộc đàm phán thực sự đã đề cập tới cả các thay đổi pháp lý cụ thể và việc các cơ quan và quan chức chính phủ thực thi thực sự các văn bản pháp luật này. Do đó, Luật Ban hành các văn bản pháp luật được bổ sung vào năm 2002 và một số văn bản hướng dẫn thực thi đã được ban hành. Bên cạnh đó, Luật Ban hành các văn bản pháp luật của Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân cũng được thông qua vào năm 2004. Để đảm bảo thực thi thống nhất nguyên tắc pháp luật, các cuộc đàm phán đã dẫn tới cải cách hệ thống pháp lý về quyền khiếu nại. Tất cả những thay đổi này diễn ra trong quá trình đàm phán, khi mà các cam kết WTO chưa có hiệu lực.

Do Việt Nam đã thực thi Hiệp định BTA giữa Việt Nam và Hoa Kỳ kể từ năm 2001, Hiệp định này chứa nhiều quy tắc pháp lý tương tự như các quy tắc pháp lý của WTO liên quan tới thực hiện thống nhất các văn bản pháp luật, minh bạch hóa và quyền khiếu nại132, hầu hết các cam kết WTO về nhng vấn đề này không phải là mới đối với Việt Nam. Theo nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (MFN) của WTO, thì về lý thuyết những gì Việt Nam đã cam kết trong BTA sẽ phải dành cho các Thành viên WTO khác. Do đó, các Thành viên WTO muốn Việt Nam cam kết nhiều hơn trong BTA. Điều này giải thích tại sao lại có một số cam kết WTO cộng liên quan tới các vấn đề pháp lý chung và minh bạch hóa trong Nghị định thư gia nhập (ví dụ như quyền khiếu nại, nhận xét của công chúng, công bố trên các trang thông tin điện tử các văn bản pháp luật, cơ chế đảm bảo thực thi thống nhất các quy tắc WTO của chính quyền địa phương, v.v…).

Nói tóm lại, các khía cạnh pháp lý là một trong số các vấn đề quan trọng nhất trong đàm phán gia nhập WTO và là trọng tâm của các Thành viên WTO. Điều này dẫn tới việc Việt Nam thận trọng hơn về tác động pháp lý của các quy tắc và cam kết trong WTO đồng thời thực hiện các cải cách pháp lý trong nước phù hợp với tiến trình đàm phán gia nhập WTO. Do nhiều chương trình cải cách pháp luật khác nhau đã diễn ra tại Việt Nam, sẽ rất khó để nghiên cứu đầy đủ các khía cạnh pháp lý của tiến trình gia nhập WTO nếu không nắm rõ khuôn khổ pháp luật trong nước liên quan tới các vấn đề mà các cam kết WTO điều chỉnh. Rất nhiều thay đổi và cải cách pháp luật gần đây đã được thiết kế để thực hiện các Hiệp định và cam kết trong WTO; do đó, Việt Nam không phải thực hiện các khía cạnh pháp lý trong WTO từ con số không. Khoảng 70% các quy tắc và cam kết trong WTO đã được đưa vào hệ thống pháp luật hiện hành nhờ những chương trình cải cách pháp lý gần đây nhằm thúc đẩy tiến trình gia nhập WTO. 30% các cam kết WTO còn lại đang được thực hiện thông qua áp dụng trực tiếp hoặc chuyển cam kết vào nội luật133. Như chỉ ra dưới đây, Việt Nam đã đưa ra một số cam kết WTO cộng về các vấn đề pháp luật chung và minh bạch hóa. Việc chứng minh khả năng khả năng thực thi hiệu quả các cam kết trên thực tế được các Thành viên WTO coi là điều kiện tiên quyết để Việt Nam gia nhập WTO. Nhiều nhà quan sát đã nhận xét rằng nếu không có các chương trình cải cách pháp lý gần đây thì Việt Nam khó có thể gia nhập WTO vào đầu năm 2007134.

1.2. Các cam kết WTO liên quan tới các vấn đề pháp lý chung và minh bạch hóa

Cần phải đề cập tầm quan trọng pháp lý của Quyết định của Đại Hội đồng ngày 7 tháng 11 năm 2006 về việc nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam gia nhập WTO (Nghị định thư gia nhập)135. Đầu tiên, Việt Nam đã gia nhập WTO theo Điều XII của Hiệp định với “các điều kiện và điều khoản quy định tại Nghị định thư gia nhập đi kèm với Quyết định này". Điều này có nghĩa Nghị định thư là công cụ pháp lý cuối cùng và đầy đủ, bao gồm, trực tiếp hay tham chiếu tới, tất cả quyền, nghĩa vụ và cam kết của Việt Nam trong WTO. Thứ hai, do đó, nước gia nhập phải chấp nhận Nghị định thư gia nhập (các đoạn 1 và 8 của Nghị định thư gia nhập)136. Thứ ba, các điều kiện và điều khoản gia nhập của Việt Nam được đề cập trong Nghị đinh thư gia nhập gồm ba phần: (i) các điều kiện và điều khoản trong Hiệp định WTO cùng các sửa đổi và diễn giải chính thức; (ii) các điều kiện và điều khoản trong Nghị định thư, bao gồm “các cam kết được liệt kê trong đoạn 527 của Báo cáo Ban công tác” – là một phần không tách rời của Hiệp định WTO; và (iii) các điều kiện và điều khoản đề cập trong các Biểu và Phụ lục của Nghị định thư gia nhập.

1.2.1 Các vấn đề pháp lý chung

a) Thực thi các điều ước quốc tế, kể cả các cam kết WTO

Mối quan hệ giữa các điều ước quốc tế và nội luật của Việt Nam và thực thi các điều ước quốc tế trong nội luật được đề cập trong nhiều đoạn của Báo cáo của Ban công tác:

– Đoạn 112 đề cập tới thẩm quyền của Chủ tịch nước trong việc phê chuẩn hoặc đồng ý tham gia các Công ước quốc tế, trừ trường hợp cần trình Quốc hội phê duyệt.

– Đoạn 113 thảo luận trách nhiệm của Chính phủ trong việc quản lý thống nhất chính sách đối ngoại, đàm phán và ký kết các điều ước quốc tế.

– Đoạn 118 mô tả Luật về Điều ước quốc tế 2005 là Luật đặc biệt về các vấn đề điều ước và thảo luận các quy tắc pháp lý về nội dung và hình thức trong các điều ước quốc tế. Đoạn này dẫn tới kết luật rằng Nghị định thư về việc Việt Nam gia nhập WTO phải được Quốc hội hoặc Chủ tịch nước thông qua. Theo Luật về Điều ước quốc tế 2005 thì tất cả các điều ước quốc tế phải được công bố.

– Đoạn 119 chứa một cam kết rõ ràng của Việt Nam về việc các Công ước quốc tế và các nghĩa vụ WTO sẽ được thực hiện như thế nào, có bốn cam kết chính. Thứ nhất, Quốc hội sẽ phê chuẩn Nghị định thư gia nhập, mặc dù Luật về Điều ước quốc tế quy định rằng các điều ước quốc tế có thể được Quốc hội hoặc Chủ tịch nước thông qua. Thứ hai, trong quá trình tiến hành phê chuẩn Nghị định thư về việc gia nhập WTO, Quốc hội sẽ quyết định xem các cam kết WTO sẽ được thực thi như thế nào thông qua áp dụng trực tiếp (tự áp dụng) và/hoặc thông qua chuyển các cam kết WTO vào nội luật (điều chỉnh các văn bản pháp luật hiện hành hoặc ban hành các văn bản pháp luật mới của Việt Nam). Thứ ba, trong trường hợp có sự khác biệt giữa các văn bản quy phạm pháp luật trong nước và cam kết WTO về cùng một vấn đề thì cam kết WTO sẽ được ưu tiên áp dụng. Cuối cùng, việc xây dựng các văn bản pháp luật trong nước sẽ không cản trở việc thực thi cam kết WTO.

– Đoạn 479 cho biết Nghị định thư gia nhập được phê chuẩn sẽ là cơ sở pháp lý để ban hành các văn bản pháp luật thực hiện cam kết WTO.

Ngoài ra, Điều XVI.4 của Hiệp định WTO quy định rằng giống như bất kỳ Thành viên WTO nào khác, Việt Nam phải đảm bảo các văn bản pháp luật, quy định và thủ tục hành chính của mình tuân thủ các nghĩa vụ trong WTO. Yêu cầu này đã được Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO làm rõ rằng Việt Nam không được có các văn bản pháp luật, quy định hoặc thủ tục hành chính vi phạm, theo quy định hoặc trên thực tế, các nghĩa vụ của mình.

b) Áp dụng luật pháp một cách thống nhất

Việc áp dụng thống nhất các văn bản pháp luật không chỉ là yếu tố quan trọng đối với sự thống nhất của hệ thống pháp luật trong nước mà còn để thực hiện hiệu quả điều ước quốc tế. Đó là lý do tại sao các Thành viên WTO đã nhấn mạnh tầm quan trọng của yếu tố này trong suốt quá trình đàm phán gia nhập. Cơ quan lập pháp là Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội có thẩm quyền diễn giải và giám sát việc thực hiện Hiến pháp, luật và các điều ước quốc tế và một số văn bản pháp quy khác137. Các văn bản pháp luật và quy định của Việt Nam (Ở Việt Nam được gọi là “các văn bản pháp quy”) được phân thành các nhóm khác nhau, căn cứ vào trình tự pháp lý chặt chẽ (từ trên xuống dưới). Có các nguyên tắc pháp lý quan trọng được đưa ra để đảm bảo việc áp dụng pháp luật một cách thống nhất, đòi hỏi các văn bản pháp luật và quy định ở cấp dưới phải phù hợp với văn bản pháp luật và quy định cấp cao hơn, nếu không sẽ bị vô hiệu hoặc rút lại. Nguyên tắc ban hành sau sẽ được áp dụng trong trường hợp có khác biệt giữa luật hoặc quy định ở cùng cấp138.

Các vấn đề liên quan tới việc trì hoãn ban hành các quy định thực thi đã được đề cập trong Báo cáo của Ban công tác và Việt Nam đã đồng ý đẩy nhanh tiến trình này để đảm bảo các văn bản pháp luật của mình có thể được áp dụng trực tiếp. Ngoài ra, cam kết theo hướng áp dụng các văn bản pháp luật một cách thống nhất cũng được thể hiện tại một số đoạn liên quan tới hệ thống tòa án và các cơ chế giải quyết tranh chấp khác, mô tả cách thức thực thi các văn bản pháp luật, các quyết định của trọng tài và tòa án cũng như quyền cá nhân, bao gồm quyền kháng án tại tòa án về các quyết định liên quan tới WTO139.

Sựt thống nhât của luật pháp trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam được đảm bảo thông qua quy tắc pháp lý “các cơ quan địa phương… phải tuân theo các văn bản pháp luật ở cấp Trung ương” và các văn bản pháp quy của các cơ quan địa phương phải phù hợp với các văn bản pháp luật và quy định do các cơ quan Trung ương ban hành. Để giải quyết mâu thuẫn trong các văn bản pháp quy, Việt Nam duy trì một cơ chế xác định và vô hiệu hóa bất kỳ mâu thuẫn nào. Một trong số các cam kết mạnh mẽ liên quan tới áp dụng thống nhất các văn bản pháp luật và cam kết WTO được chỉ ra tại đoạn 134 của Báo cáo Ban công tác: “các điều khoản của Hiệp định WTO sẽ được áp dụng một cách thống nhất trên lãnh thổ hải quan của Việt Nam…"140.

Ngoài ra, các cam kết mới về minh bạch hóa, quyền kháng án, rà soát tư pháp, thực thi chặt chẽ các văn bản pháp luật, đặc biệt liên quan tới các vấn đề quyền sở hữu trí tuệ và thi hành phán quyết của tòa án, v.v… như được đề cập trong Báo cáo của Ban công tác chắc chắn sẽ hỗ trợ việc áp dụng thống nhất các văn bản pháp luật. Ví dụ, để biết liệu một văn bản pháp luật có được áp dụng thống nhất hay không, cần phải biết văn bản pháp luật này quy định cái gì và làm cách nào có thể lấy được văn bản này. Các cam kết minh bạch hóa trong WTO đòi hỏi tất cả các văn bản pháp luật và quy định phải được công bố trước khi có hiệu lực. Nếu có nghi ngờ về việc áp dụng thống nhất, các bên có thể thực hiện quyền khiếu nại và rà soát phán quyết của tòa án để đảm bảo thống nhất. Liên quan tới thực thi quyền sở hữu trí tuệ, có nhiều biện pháp và hình thức để thực thi các quy tắc pháp lý về quyền sở hữu trí tuệ mô tả trong Báo cáo của Ban công tác: các thủ tục và chế tài dân sự; các biện pháp đặc biệt ở biên giới và các thủ tục hình sự141. Rõ ràng, một cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ mới sẽ góp phần thực thi pháp luật thống nhất hơn. Việc sửa đổi Bộ luật Thực thi phán quyết của tòa án đã được đưa vào Chương trình xây dựng pháp luật của Việt Nam để thực thi cam kết WTO và được kỳ vọng sẽ cải thiện hệ thống thực thi phán quyết hiện nay, và từ đó sẽ thúc đẩy việc tuân thủ pháp luật và áp dụng thống nhất các văn bản pháp luật.

Các cam kết khác về tính độc lập của cơ quan quản lý trong các ngành dịch vụ, tại các tòa án và cơ quan xét xử khác chắc chắn sẽ đóng góp tích cực vào việc áp dụng thống nhất pháp luật142.

Bên cạnh đó cũng có các điều khoản của WTO mà Việt Nam đã chấp nhận trong cam kết cả gói của mình, liên quan tới việc áp dụng thống nhất các văn bản pháp luật. Điều X của Hiệp định GATT 1994 đã đề ra các nghĩa vụ rõ ràng cho Việt Nam “quản lý một cách thống nhất, khách quan và hợp lý các luật, quy định và phán quyết…”. Các điều khoản tương tự cũng có thể được tìm thấy trong các Hiệp định khác của WTO như GATS, TRIPs… Cần phải nhớ rằng trong cam kết chung của mình, Việt Nam cũng chấp nhận chịu sự điều chỉnh của cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, một chức năng chính để đảm bảo các cam kết và nghĩa vụ của các Thành viên sẽ được tôn trọng.

c) Sự phù hợp của pháp luật trong nước với cam kết WTO

Do việc áp dụng thống nhất các văn bản pháp luật liên quan tới sự phù hợp giữa nội luật và cam kết WTO, rất nhiều cam kết của Việt Nam trong WTO để đảm bảo áp dụng thống nhất luật pháp cũng liên quan tới sự phù hợp của nội luật với các cam kết của WTO. Điều này đặc biệt đúng khi các cam kết WTO đã được chuyển vào nội luật.

Nghĩa vụ chính của bất kỳ Thành viên WTO nào khi đề cập tới sự phù hợp giữa nội luật và cam kết WTO là Điều XVI.4 của Hiệp định WTO:

"Mỗi Thành viên sẽ đảm bảo các văn bản pháp luật, quy định và thủ tục hành chính tuân thủ nghĩa vụ của mình..”.

Quy tắc pháp lý này rất phù hợp với nguyên tắc pháp lý quan trọng trong luật quốc tế là "pacta sunt servanda" và không có bên nào có thể “áp dụng các điều khoản trong nội luật để biện hộ cho việc không thực hiện điều ước"143.

Trong Báo cáo của Ban công tác, có một số đoạn đề cập tới các cam kết của Việt Nam áp dụng thống nhất tất cả các quy định và cam kết trong WTO trên lãnh thổ Việt Nam.

Đoạn 134 khẳng định cam kết của Việt Nam trong việc áp dụng Hiệp định WTO “một cách thống nhất trên toàn bộ lãnh thổ hải quan, kể cả tại những khu vực liên quan đến buôn bán biên mậu, đặc khu kinh tế và các khu vực khác có áp dụng cơ chế đặc biệt về thuế quan, thuế và các quy định khác… các luật, các quy định và các biện pháp khác, bao gồm cả các quy định của chính quyền địa phương, phải tuân thủ các nghĩa vụ của Việt Nam..”. . Cam kết đã chỉ rõ rằng các văn bản pháp luật và quy định trong nước phải phù hợp với các cam kết WTO. Các khu kinh tế hoặc thương mại đặc biệt mới thành lập và chính quyền cấp cơ sở phải áp dụng cam kết này. Đoạn 134 còn đi xa hơn, đòi hỏi Việt Nam phải thiết lập một cơ chế rất đặc biệt để đảm bảo sự phù hợp giữa các biện pháp của chính quyền địa phương với các nghĩa vụ của WTO: các cơ quan trong nước phải thực thi các nghĩa vụ WTO nếu như phát hiện một biện pháp không phù hợp “mà không đòi hỏi bên bị ảnh hưởng nộp đơn kiện ra tòa án"144.

Một lần nữa, các cam kết về minh bạch hóa, quyền khiếu nại và rà soát pháp lý, v.v… như được thảo luận ở phần trên là để đảm bảo sự phù hợp giữa pháp luật trong nước và các cam kết WTO. Cam kết của Việt Nam trong việc xác định cách thức giải quyết sự khác biệt giữa luật Việt Nam và các nghĩa vụ trong WTO (thông qua áp dụng trực tiếp luật hoặc điều chỉnh các văn bản pháp luật liên quan khi Nghị định thư gia nhập được phê chuẩn) và các nghĩa vụ khác trong Luật về Điều ước quốc tế là đảm bảo cho sự phù hợp giữa nội luật và các cam kết WTO.

Cuối cùng, nếu các biện pháp không phù hợp với WTO không được điều chỉnh hợp lý thì biện pháp này có thể bị kiện ra cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO. Tới tháng 01 năm 2007 đã có hơn 300 biện pháp trong nước của các Thành viên WTO bị kiện ra Cơ chế giải quyêt tranh chấp này.

d) Trung Quốc: một sự so sánh tốt

Thử so sánh, để trở thành một Thành viên của WTO, Trung quốc đã đưa ra nhiều cam kết về các vấn đề pháp lý chung tương tự như Việt Nam145. Giống như Việt Nam, Trung Quốc cam kết thực hiện đầy đủ các quy tắc của WTO và đã chấp nhận một số cam kết pháp lý bổ sung quy định tại Nghị định thư gia nhập và Báo cáo của Ban công tác. Các cam kết này bao gồm cam kết:

“Áp dụng trên toàn lãnh thổ hải quan Trung Quốc, kể cả các khu vực biên mậu và các vùng tự trị của dân tộc thiểu số, các đặc khu kinh tế, thành phố duyên hải mở, các khu phát triển kỹ thuật và các khu vực khác có áp dụng cơ chế đặc biệt về thuế quan, thuế nội địa và các quy định khác… "146.

Bên cạnh đó, giống như Việt Nam, Trung Quốc cam kết áp dụng thống nhất tất cả các văn bản pháp luật, quy định và các biện pháp khác của Chính quyền Trung ương và địa phương; đảm bảo phù hợp với nghĩa vụ trong WTO và duy rì cơ chế xử lý đối với việc áp dụng không thống nhất các quy tắc liên quan tới thương mại147.

Trung Quốc đã đưa ra cam kết tương tự như Việt Nam liên quan tới quyền khiếu nại và rà soát pháp lý.

1.2.2. Minh bạch hóa

Minh bạch hóa là một trong những từ chính trong luật thương mại quốc tế hiện đại. Rất khó, nếu không nói là không thể, để đưa ra các nhận định chính xác hoặc các quyết định kinh doanh tốt khi không có thông tin đầy đủ. Các thảo luận ở phần trên đã cho thấy tầm quan trọng của minh bạch hóa và cơ chế hiện tại để chứng minh việc tuân thủ với nghĩa vụ minh bạch hóa. Do tầm quan trọng của vấn đề này, minh bạch hóa là một chủ đề nổi bật trong quá trình đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam. Các quy tắc liên quan đã được đưa vào một phần riêng trong Báo cáo của Ban công tác và trong nhiều đoạn của Báo cáo của Ban công tác về các lĩnh vực khác nhau (thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, TRIPs, các Hiệp định thương mại khu vực, v.v…). Dưới đây, nghiên cứu chỉ thảo luận ba lĩnh vực của minh bạch hóa là nhận xét của công chúng về dự thảo văn bản pháp luật và quy định, công bố luật và việc sử dụng công văn để đưa ra chính sách và quy định. Do các cam kết trong Báo cáo của Ban công tác đi xa hơn các quy tắc chung của WTO về minh bạch hóa, sẽ là hợp lý khi chỉ thảo luận các cam kết này, trừ khi có lý do khác.

a) Nhận xét của công chúng đối với dự thảo các văn bản pháp quy

Về cơ bản, các Thành viên WTO không có nghĩa vụ phải lấy ý kiến của công chúng trong quá trình chuẩn bị, dự thảo các văn bản pháp luật và quy định hoặc các biện pháp áp dụng chung khác, trừ đối với các biện pháp TBT. Tuy nhiên, Báo cáo của Ban công tác của Việt Nam chứa nhiều đoạn mô tả thảo luận và cam kết về nhận xét của công chúng đối với dự thảo các văn bản pháp quy liên quan tới thương mại148.

Các cam kết chi tiết và đầy đủ nhất của Việt Nam về nhận xét của công chúng được đưa vào các đoạn 510 – 514 và đoạn 518 trong Báo cáo của Ban công tác. Các đoạn này quy định dự thảo luật và các văn bản pháp quy liên quan tới thương mại phải được công bố để công chúng nhận xét thông qua nhiều cách thức và phương tiện khác nhau, kể cả công bố dự thảo trên trang thông tin điện tử (web) để công chúng góp ý, với một số ngoại lệ nhất định. Ý kiến góp ý của công chúng phải được tính tới trong quá trình thông qua dự thảo.

Việt Nam đã đưa ra các cam kết rất mạnh mẽ về nhận xét của công chúng:

– Kể từ ngày gia nhập, bất kỳ dự thảo luật, văn bản hoặc các biện pháp khác liên quan tới WTO do Quốc hội phê chuẩn phải dành ít nhất 60 ngày để công chúng nhận xét.

– Các cơ quan chính phủ cần xem xét các nhận xét đã nhận được.

Các cam kết về nhận xét của công chúng, giống như các cam kết khác về minh bạch hóa, cũng cũng có các ngoại lệ liên quan tới tình trạng khẩn cấp hoặc an ninh quốc gia hoặc khi công bố dự thảo luận để công chúng nhận xét sẽ cản trở việc thực thi luật.

b) Công bố các văn bản pháp luật

Luật pháp của Việt Nam yêu cầu phải công bố luật, quy định và các biện pháp áp dụng chung có chứa các quy phạm pháp luật (văn bản quy phạm pháp luật). Việc công bố luật là một nghĩa vụ chung của WTO, áp dụng đối với tất cả các Thành viên và được quy định trong nhiều Hiệp định như Hiệp định GATT 1994, GATS, TRIPs, v.v… Tuy nhiên, các cam kết của Việt Nam về vấn đề này trong Báo cáo của Ban công tác là sâu rộng, cụ thể hơn:

– Việt Nam cam kết áp dụng đầy đủ các quy định của WTO về việc công bố các văn bản pháp luật kể từ ngày gia nhập WTO (đoạn 518);

– Không có văn bản pháp quy nào có hiệu lực và được thực thi trước khi được công bố;

– Việc công bố được thực hiện trên các tạp chí và trang thông tin điện tử được chỉ định;

– Thông tin công bố phải bao gồm tên cơ quan quản lý và ngày có hiệu lực;

– Trong lĩnh vực dịch vụ, thông tin công bố phải bao gồm phạm vi chung của các dịch vụ hoặc hoạt động bị ảnh hưởng và Việt Nam sẽ công bố danh sách các cơ quan chính phủ chịu trách nhiệm cho phép, thông qua hoặc điều tiết dịch vụ cũng như tất cả các thủ tục và điều kiện cấp phép;

– Bên cạnh đó, rất nhiều đoạn trong Báo cáo của Ban công tác đề cập tới nghĩa vụ phải công bố dự thảo các văn bản pháp quy để công chúng nhận xét.

c) Sử dụng công văn

Việc sử dụng công văn tại Việt Nam đã khiến nhiều Thành viên lưu ý do công văn được sử dụng một cách không minh bạch149. Do đó, các Thành viên đã đề nghị Việt Nam không sử dụng công văn như là văn bản ban hành chính sách hoặc sử dụng công văn phù hợp với yêu cầu minh bạch hóa của WTO.

Việt Nam đã xác nhận rằng theo quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam thì công văn không được coi là văn bản pháp quy; do đó, công văn không được sử dụng để đề ra chính sách áp dụng chung. Do đó, các cơ quan và nhân viên chính phủ không thể dựa vào công văn để đưa ra quyết định do công văn không phải là nguồn luật. Tuy nhiên, theo quan điểm của các Thành viên, việc sử dụng các công văn vẫn gây nhiều vấn đề cho các doanh nghiệp. Trả lời yêu cầu của các Thành viên, Việt Nam cam kết sẽ sử dụng “công văn” rõ ràng hơn và phù hợp hơn với các quy định của WTO.

d) So sánh với Trung Quốc

Để trở thành một Thành viên của WTO, giống như Việt Nam, Trung Quốc đã chấp nhận nhiều cam kết liên quan tới minh bạch hóa như thực hiện đầy đủ tất cả các quy tắc có liên quan của WTO về minh bạch hóa và đưa ra cam kết bổ sung trong Nghị định thư gia nhập và Báo cáo của Ban công tác. Các cam kết này bao gồm việc công bố tất cả các luật, văn bản và các biện pháp khác liên quan tới WTO trước khi thực thi các văn bản này; các nghĩa vụ liên quan tới việc các doanh nghiệp, cá nhân nhận xét, góp ý cho các dự thảo văn bản pháp luật; và thành lập điểm hỏi đáp để cung cấp thông tin150.

1.3. So sánh cam kết trong WTO và cam kết trong các thỏa thuận hội nhập kinh tế quốc tế khác về các vấn đề pháp lý chung và minh bạch hóa

Các nghĩa vụ pháp lý chung và minh bạch hóa trong các hiệp định quốc tế không phải là nội dung mới đối với Việt Nam, đặc biệt kể từ khi đàm phán và ký kết Hiệp định BTA. BTA có một chương riêng (Chương VI: Các điều khoản liên quan tới minh bạch hóa và quyền khiếu nại) bên cạnh các điều khoản liên quan trong các chương khác. Có một số điều khoản trong các hiệp định liên quan tới thương mại gần đây của ASEAN cũng đưa ra các nghĩa vụ minh bạch hóa. Trong khuôn khổ APEC, minh bạch hóa đang được thảo luận nhưng mang tính chất tự nguyện và không ràng buộc các bên. ASEAN và một số đối tác cũng đang thảo luận với một số đối tác về các Hiệp định thương mại tự do trong đó có thể bao gồm các quy tắc về minh bạch hóa.

Tuy nhiên, cho tới nay chỉ có các quy tắc về các vấn đề pháp lý chung và minh bạch hóa trong BTA là có tác động thực sự tới Việt Nam, dẫn tới những thay đổi trong nội luật để tuân thủ BTA. Do đó, nghiên cứu chỉ tập trung thảo luận các quy tắc minh bạch hóa trong BTA.

Về cơ bản, BTA có các quy tắc liên quan tới các vấn đề pháp lý chung và minh bạch hóa tương tự như các quy tắc của GATT Điều X, GATS Điều III và VI, TRIPS. Theo BTA, Việt Nam có nghĩa vụ :

– Công bố tất cả luật, quy định và các thủ tục hành chính áp dụng chung liên quan tới BTA trước khi các văn bản, thủ tục này có hiệu lực; thông tin công bố bao gồm ngày có hiệu lực, sản phẩm bị ảnh hưởng và cơ quan chịu trách nhiệm;

– Lấy ý kiến của công chúng “trong phạm vi có thể” trong quá trình soạn thảo luật, quy định và các thủ tục hành chính liên quan tới BTA;

– Chỉ định một tạp chí chính thức để công bố tất cả các luật, quy định và các thủ

tục hành chính liên quan tới BTA;

– Thực hiện tất cả luật, quy định và các thủ tục hành chính áp dụng chung liên quan tới BTA “một cách thống nhất, khách quan và hợp lý”;

– Đảm bảo quyền khiếu nại tới các cơ quan xét xử hành chính và tư pháp nhằm yêu cầu xem xét và khắc phục nhanh chóng các hành vi hành chính không thống nhất.

– Thực thi nghiêm túc quyền sở hữu trí tuệ như quy định trong Hiệp định TRIPs;

– Áp dụng các quy tắc tương tự GATS về quy định trong nước và minh bạch hóa.

1.4. Tác động của các cam kết gia nhập WTO về các vấn đề pháp lý chung và minh bạch hóa đối với Chính phủ, các doanh nghiệp và toàn thể xã hội

Thuật ngữ “tác động” trong Chương này có nghĩa đặc biệt và hẹp, đề cập tới việc các cam kết liên quan tới Chính phủ, doanh nghiệp và toàn thể xã hội như thế nào. Các tác động khác đã được đề cập tới trong các chương khác nhau của tài liệu này.

Việt Nam đã đưa ra nhiều cam kết gia nhập về các vấn đề pháp luật chung và minh bạch hóa, một số cam kết này cao hơn các quy tắc chung của WTO. Do đó, cũng dễ hiểu tại sao các cam kết này sẽ có các tác động khác nhau đối với các bên liên quan tại Việt Nam: Chính phủ, doanh nghiệp và toàn xã hội.

1.4.1. Tác động đối với Chính phủ

Chính phủ (theo nghĩa rộng) là Thành viên của WTO; do đó đã cam kết đối với tất cả các nghĩa vụ trong WTO và sẽ phải thực hiện các cam kết này. Theo nghĩa đó, tất cả các cam kết gia nhập về các vấn đề pháp lý chung và minh bạch hóa đều liên quan tới Chính phủ.

i) Trách nhiệm thực hiện nghiêm túc các cam kết gia nhập về các vấn đề pháp lý chung và minh bạch hóa là do Chính phủ gánh vác

Rõ ràng các văn bản pháp luật, quy định và các biện pháp áp dụng chung trong nước phải được cải cách để phù hợp với các cam kết gia nhập của Việt Nam về các vấn đề pháp lý chung và minh bạch hóa. Do phm vi cam kết là rất rộng và sâu, các chương trình cải cách pháp lý trong nước có thể được thực hiện tại các cấp chính quyền khác nhau.

ii) Cải cách pháp lý để đưa nội luật phù hợp với các cam kết gia nhập về các vấn đề pháp lý chung và minh bạch hóa chỉ là một phần của công việc: phần khó khăn hơn là phải thay đổi thái độ, thói quen và thực tiễn của các cơ quan và quan chức chính phủ

Ở một chừng mực đáng kể, những cải cách pháp lý hiện nay đã đáp ứng các cam kết WTO và do đó không còn nhiều công việc lập pháp phải thực hiện. Tuy nhiên, như thực tế đã chỉ ra, cần phải mất thêm nhiều thời gian, nỗ lực, đầu tư và quyết tâm để áp dụng các luật, quy định và thủ tục hành chính phù hợp hoàn toàn với các cam kết WTO. Các bước này liên quan tới nỗ lực và cải cách quan trọng khác, bao gồm những thay đổi về cơ cấu của các cơ quan chính phủ, cải thiện chất lượng của các công chức và chánh án, những người trước đây được đào tạo và làm việc trong một môi trường khác.

iii) Cần có đầu tư đầy đủ để thực thi các cam kết gia nhập về các vấn đề pháp luật chung và minh bạch hóa

Rõ ràng những thay đổi và cải cách cần thiết để thực thi các cam kết WTO về các vấn đề pháp lý chung và minh bạch hóa sẽ gây tốn kém cho Chính phủ. Các cải cách khác, đặc biệt là các cải cách được đưa ra để thay đổi thái độ và phương thức làm việc của các công chức và chánh án cũng rất tốn kém.

iv) Thách thức là làm cách nào để tận dụng các cam kết gia nhập về các vấn đề pháp lý chung và minh bạch hóa để đạt được các mục tiêu phát triển của Việt Nam

Việt Nam đã bắt đầu thực hiện các chương trình cải cách mạnh mẽ, bao gồm cải cách pháp lý, tư pháp và hành chính. Để đạt được hiệu quả và hiệu suất, các chương trình cải cách liên quan tới WTO cần gắn với cải cách và phối hợp chặt chẽ với các nỗ lực khác. Điều này nói thì dễ nhưng làm rất khó.

v) Thận trọng: điều gì sẽ xảy ra nếu không thực hiện các cam kết gia nhập về các vấn đề pháp lý chung và minh bạch hóa

Một trong số các lợi ích mà Việt Nam thu được từ việc gia nhập WTO là được sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO. Tuy nhiên, cần thận trọng, vấn đề có thể được xem xét từ một góc độ khác – các Thành viên WTO khác có thể giám sát chặt chẽ Việt Nam để xem Việt Nam có tuân thủ đầy đủ các nghĩa vụ và cam kết của mình hay không. Việc Việt Nam không thực hiện đầy đủ bất kỳ cam kết hoặc nghĩa vụ nào đều có thể dẫn tới việc bị kiện ra WTO.

1.4.2. Tác động đối với các doanh nghiệp trong nước

Các doanh nghiệp trong nước đón nhận việc Việt Nam gia nhập WTO với thái độ và cảm giác khác nhau do mức độ nhận thức chưa cao cũng như thiếu hiểu biết đầy đủ về

bản chất của việc gia nhập WTO và các tác động của việc này, nếu có. Đối với các doanh nghiệp đã có định hướng chiến lược hoặc kế hoạch xuất khẩu, việc gia nhập dường như hứa hẹn và sẽ đem lại nhiều cơ hội hơn. Mặt khác, đối với các doanh nghiệp chỉ hoạt động trên thị trường nội địa thì gia nhập WTO sẽ dẫn tới nhiều thách thức hơn cơ hội do phải chia sẻ thị trường với các đối thủ cạnh tranh nước ngoài.

Cần phải nhấn mạnh rằng các doanh nghiệp là những đối tượng chính và được gọi là “người lính trên thương trường” trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. WTO là một hệ thống thương mại đa phương, điều chỉnh thương mại do các doanh nghiệp thực hiện (mặc dù Chính phủ đôi khi cũng tham gia vào các hoạt động thương mại, đặc biệt là thông qua các doanh nghiệp nhà nước). Do đó, trọng tâm của Chính phủ trong quá trình gia nhập là tạo ra một môi trường thuận lợi hơn cho doanh nghiệp và các hoạt động kinh doanh. Theo nghĩa đó, các cam kết gia nhập WTO sẽ đem lại tác động to lớn đối với doanh nghiệp.

i) Thay đổi quy mô thị trường: quy mô thị trường sẽ mang tính toàn cầu; các khuôn khổ pháp lý và quản lý giống nhau tại tất cả các Thành viên WTO

Hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam có thể tiếp cận dễ dàng thị trường toàn cầu. Các doanh nghiệp cần nhận ra rằng họ cũng sẽ chịu điều chỉnh bởi các quy định pháp luật nước ngoài, các quy định có thể có những yếu tố tương tự như cam kết của Việt Nam về các vấn đề pháp luật chung và minh bạch hóa. Do đó, nắm được quy tắc của trò chơi sẽ là yếu tố không thể tránh được cho các doanh nghiệp.

ii) Thay đổi cạnh tranh: các doanh nghiệp trong nước phải cạnh tranh với “người ngoài” hiểu biết pháp lý hơn mình

Một trong số những điểm yếu nhất của các doanh nghiệp Việt Nam là mức độ nhận thức và hiểu biết pháp luật rất thấp, thậm chí không hiểu biết pháp luật. Điều này chắc chắn sẽ tác động tiêu cực tới năng lực cạnh tranh với các đối thủ nước ngoài, những người thường tìm hiểu các quy tắc pháp lý liên quan trước khi đưa ra quyết định kinh doanh. Rất khó có thể tưởng tượng một doanh nghiệp có thể cạnh tranh hiệu quả mà không hiểu biết quy tắc của cuộc chơi. Điều này sẽ khiến các doanh nghiệp Việt Nam gặp nhiều khó khăn hơn trong cạnh tranh.

iii) Thay đổi môi trường pháp lý: hệ thống pháp luật trong nước đã được thay đổi để phù hợp với các cam kết WTO với một tốc độ nhanh chưa từng có – các doanh nghiệp cần được cập nhật các quy tắc thương mại mới này

Trong thời đại hiện nay, các doanh nghiệp cần cập nhật các thay đổi trong môi trường pháp lý vốn xảy ra hàng ngày tại Việt Nam. Việc thực thi các cam kết WTO chắc chắn sẽ làm tăng tốc thay đổi pháp lý tại Việt Nam, ít nhất trong tương lai gần, dẫn tới nhiều áp lực cho các doanh nghiệp Việt Nam.

iv) Làm cách nào tận dụng các quy tắc của WTO về các quy tắc pháp lý chung và minh bạch hóa trên thị trường nước ngoài và Việt Nam?

Thật không may, các cam kết WTO là các nghĩa vụ quốc tế. Theo đó, các cam kết này không nhất thiết phải áp dụng cho các doanh nghiệp trong nước. Đây là một câu hỏi về mặt chính sách: liệu Việt Nam có nên dành đối xử “với các doanh nghiệp nước ngoài” cho các doanh nghiệp Việt Nam hay không? Theo nghĩa đó, các cam kết WTO về các vấn đề pháp lý chung và minh bạch hóa có tác động rõ ràng đối với doanh nghiệp.

Mặt khác, muốn hiểu đầy đủ các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam có liên quan đòi hỏi phải quen với các cam kết tương ứng và/hoặc các quy định trong nước của các Thành viên WTO khác. Điều này tùy thuộc vào doanh nghiệp trong việc tiếp cận và tận dụng các quy tắc liên quan.

v) Làm cách nào giải quyết vấn đề của doanh nghiệp theo các quy tắc của WTO?

Về mặt trong nước, nếu câu hỏi chính sách đề cập ở trên (áp dụng cam kết WTO cho các doanh nghiệp trong nước) được giải quyết theo hướng có lợi cho các doanh nghiệp, các doanh nghiệp sẽ có nhiều cơ hội hơn trong việc giải quyết các vấn đề của mình: quyền được khiếu nại các quyết định và hành vi hành chính và có thể yêu cầu rà soát tư pháp đối với các quyết định hành chính.

Bên cạnh đó, trên các thị trường nước ngoài, các doanh nghiệp Việt Nam được quyền hưởng các cam kết của các Thành viên khác phù hợp với WTO.

Ngoài ra, nếu các doanh nghiệp Việt Nam được các Thành viên WTO đối xử bất bình đẳng, họ có thể yêu cầu Chính phủ Việt Nam thực hiện một số bước để giải quyết vấn đề, kể cả việc sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO.

1.4.3. Tác động đối với toàn xã hội

Chắc chắn Việt Nam coi gia nhập WTO là để phục vụ cho các mục tiêu kinh tế – xã hôi của mình; nếu không Việt Nam đã không nỗ lực tới mức vậy để trở thành Thành viên WTO. Cảm nhận chung của người dân, hầu hết họ là người tiêu dùng, về việc gia nhập WTO là tích cực. Cảm nhận này gắn với những tiến bộ của Việt Nam hướng tới một thị trường cởi mở và tự do hơn và các cải cách trong nước khác. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào công việc và vị trí của mỗi người trong xã hội, thái độ và cảm nhận về việc gia nhập WTO có thể khác nhau. Do đó, khó có thể khái quát tất cả tác động của việc gia nhập WTO tới toàn xã hội. Dưới đây là tóm tắt các tác động có thể xảy ra từ các cam kết về các vấn đề pháp lý chung và minh bạch hóa đối với toàn xã hội.

Tất cả các tác động đề cập ở trên đối với Chính phủ và các doanh nghiệp cũng đúng với toàn xã hội do Chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp là thành phần của xã hội.

i) Nhiều cải cách trong nước dẫn tới nhiều nỗ lực và đầu tư hơn

Rõ ràng để thực hiện các cam kết WTO, xã hội Việt Nam cần trải qua nhiều thay đổi hơn nữa, những thay đổi này chắc chắn sẽ đòi hòi nhiều nỗ lực và đầu tư hơn. Trong khi các nguồn lực là luôn có hạn, thậm chí là khan hiếm đối với Việt Nam, nhưng vẫn phải chia sẻ cho việc thực hiện các quy định pháp lý của WTO. Đây là một công việc khó khăn.

ii) Người tiêu dùng có thu được lợi ích?

Mọi người đều là người tiêu dùng từ một góc độ nào đó, toàn xã hội có thể được coi là một nhóm người tiêu dùng. Đã có các học thuyết, nghiên cứu và lý thuyết chỉ ra rằng người tiêu dùng thông thường được hưởng lợi, ít nhất về mặt kinh tế, từ việc mở cửa và tự do hóa thương mại. Do đó, các cam kết WTO về các vấn đề pháp luật chung và minh bạch hóa sẽ đem lại lợi ích kinh tế cho toàn xã hội.

iii) Các yếu tố phi thương mại: làm cách nào để bảo tồn bản sắc và văn hóa dân tộc? các tác động môi trường

Phát triển bền vững là một mục tiêu cao quý của bất kỳ một nước nào, tuy nhiên trên thực tế dường như khó thực hiện được mục tiêu này. Rõ ràng, các cam kết gia nhập WTO đem lại nhiều tác động không mong muốn mà Việt Nam cần phải đối mặt. Liệu xã hội có thể gìn giữ được văn hóa và phong tục khi mở cửa cho các sản phẩm, dịch vụ và các doanh nghiệp nước ngoài hay không? Xã hội dường như phải chịu thêm nhiều sức ép để bảo môi trường trong sạch và lành mạnh không chỉ cho thế hệ hôm nay mà còn cho các thế hệ mai sau.

iv) Xã hội minh bạch và pháp trị sẽ đem lại lợi ích cho tất cả mọi người

Xây dựng một quốc gia minh bạch, xã hội chủ nghĩa theo pháp trị là một trong số các mục tiêu của đất nước. Theo nghĩa đó, các cam kết WTO về các vấn đề pháp lý chung và minh bạch hóa sẽ góp phần thực hiện mục tiêu này. Việc thực thi có hiệu quả các cam kết WTO sẽ thúc đẩy việc thực hiện mong ước của người dân nói chung – xây dựng một xã hội minh bạch và theo pháp trị

v) Giấc mơ: “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh"

Việc thực hiện đầy đủ các cam kết trong WTO và xử lý hợp lý các tác động của việc gia nhập đối với Chính phủ, doanh nghiệp và toàn thể xã hội sẽ thúc đẩy việc thực hiện mục tiêu dài hạn của Việt Nam là xây dựng đất nước dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.

2. Kết luận và khuyến nghị

Các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam về các vấn đề pháp lý chung và minh bạch hóa vừa rộng vừa cụ thể. Các cam kết này cao hơn các quy tắc liên quan trong các Hiệp định của WTO và tương tự như các cam kết WTO của Trung Quốc và gần giống với cam kết của Việt Nam trong BTA. Có các tác động thực tế và tiềm năng khác nhau đối với các bên liên quan: Chính phủ, doanh nghiệp và toàn xã hội. Phân tích và thảo luận ở phần trên về cam kết đối với các vấn đề pháp lý chung và minh bạch hóa đã cho thấy có nhiều việc phải làm để thực thi hiệu quả các cam kết này và xử lý tốt tác động mà các cam kết này có thể đem lại. Có thể nói rằng mặc dù các cam kết có thể được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau nhưng tất cả các cam kết về các vấn đề pháp lý chung và minh bạch hóa là phù hợp với các nỗ lực cải cách trong nước để xây

dựng một xã hội xã hội chủ nghĩa trên cơ sở pháp trị và dân chủ. Điều này có nghĩa là các cam kết WTO trong các lĩnh vực này sẽ thúc đẩy cải cách trong nước nhanh hơn và sâu hơn. Tuy nhiên, tự do hóa thương mại không phải là không có cái giá của nó; có chi phí, khó khăn và thách thức gắn với việc thực hiện các cam kết WTO của Việt Nam.

Trong bối cảnh này, một số đề xuất và khuyến nghị được đưa ra để thực thi hiệu quả các cam kết WTO về các vấn đề pháp lý chung và minh bạch hóa để tận dụng các lợi ích của cam kết và giảm thiểu rủi ro có thể xảy ra:

2.1. . Đối với Chính phủ

Việc thực thi hiệu quả các cam kết WTO phụ thuộc phần lớn vào tầm nhìn và kế hoạch của Chính phủ về việc sẽ thực hiện các cam kết như thế nào (mặc dù việc thực hiện cam kết là vấn đề không phải bàn cãi). Do đó, cần có một tầm nhìn rõ ràng, đầy đủ và chi tiết và cần đưa ra một kế hoạch được thiết kế phù hợp. Kế hoạch này cần đưa ra các công việc cho tất cả các cấp chính quyền và đảm bảo sự đồng bộ với các nỗ lực cải cách khác trong nước (hành chính, pháp lý và tư pháp). Kế hoạch cần bao gồm các biện pháp sau:

– Các biện pháp về lập pháp: rà soát các văn bản pháp lý, quy định và các biện pháp áp dụng chung hiện hành để tìm ra các điểm không phù hợp với các quy tắc và cam kết trong WTO. Dựa trên kết quả rà soát, cần đưa ra các đề xuất pháp lý cụ thể. Điều quan trọng là các cam kết cần được áp dụng một cách khả thi đối với tất cả các đối tượng: sản phẩm, dịch vụ, tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước;

– Phát triển nguồn nhân lực: Cần xây dựng các chương trình giáo dục và đào tạo liên quan tới WTO. Việc này cần làm song song với các cải cách hành chính cần thiết trong cơ cấu của Chính phủ, dịch vụ công và các thủ tục hành chính;

– Xây dựng sự đồng thuận thông qua phổ biến thông tin về WTO một cách hiệu quả hơn.

2.2. Đối với doanh nghiệp

Các doanh nghiệp nếu được trang bị đầy đủ thông tin và kiến thức về WTO thì sẽ học hỏi nhanh chóng để cạnh tranh trong môi trường mới. Do đó, cần thực hiện các biện pháp sau:

– Các chương trình nâng cao nhận thức cụ thể về WTO cần được xây dựng cho doanh nghiệp và vì doanh nghiệp. Ở đây, bên cạnh hướng dẫn và thông tin từ Chính phủ, các hiệp hội doanh nghiệp đóng một vai trò quan trọng. Tuy nhiên sẽ không đạt được hiệu quả nếu như các doanh nghiệp không tích cực và chủ động;

– Các doanh nghiệp cần tăng cường năng lực (thông qua nhiều phương tiện khác nhau như phát triển nguồn nhân lực, sử dụng luật sư, cập nhật thông tin, v.v…) để tận dụng các quy tắc pháp lý mới (đưa ra ý kiến về việc dự thảo luật và quy định, có phản ứng hợp lý khi bị tác động trên cả thị trường trong nước và thị trường nước ngoài ).

2.3. Đối với xã hội

Tất cả các bên liên quan và các nhóm có lợi ích đều cần phải được tham vấn để có được nhận thức chung về việc thực hiện các cam kết WTO. Do đó, cần thiết lập một cơ chế vận hành tốt để xử lý các luồng thông tin ba chiều:

– Từ Chính phủ tới xã hội (trên xuống dưới);

– Từ xã hội tới Chính phủ (dưới lên ); và

– Giữa các bên liên quan và các nhóm có lợi ích (ngang).

Do có một số tác động phi thương mại (ví dụ như văn hóa, đạo đức, môi trường) mà các cam kết WTO có thể đem lại, cần có các biện pháp tự vệ về mặt xã hội và đánh giá rủi ro.

Chú thích:

126 Điều XVI.4, Hiệp định WTO

127 Điều 6 của Luật Điều ước

128 Xem Thỏa thuận về giải quyết tranh chấp của WTO

129 Nghiên cứu này đề cập tới các cam kết liên quan trực tiếp tới toàn bộ hệ thống pháp lý.

130 Xem Điều 28 của Công ước Viên về Luật Điều ước liên quan tới việc không áp dụng hồi tố các điều ước

131 Xem Điều XVI.4 của Hiệp định WTO

132 Xem Chương VI về minh bạch hóa và quyền khiếu nại và các điều khoản liên quan trong BTA

133 Xem Nghị quyết phê chuẩn số 71

134 Xem thông tin về gia nhập WTO của Việt Nam tại www.wto.org và www.ustr.gov

135 Xem http://www.wto.org/english/thewto_e/acc_e/completeacc_e.htm#vnm

136 Có nhiều quan điểm khác nhau về việc Việt Nam phải chấp nhận gì để được gia nhập WTO trong quá trình chuẩn bị phê chuẩn

137 Các đoạn 111 và 112 trong Báo cáo của Ban công tác

138 Đoạn 115 trong Báo cáo của Ban công tác

139 Các đoạn 120 – 130 trong Báo cáo của Ban công tác

140 Xem các đoạn 132 và 134 trong Báo cáo của Ban công tác

141 Xem các đoạn 443- 471 trong Báo cáo của Ban công tác

142 Xem các đoạn 120, 123, 135 và 508 trong Báo cáo của Ban công tác

143 Xem các điều 26 và 27 của Công ước Viên về Luật đối với Điều ước

144 Xem đoạn 339 trong Báo cáo của Ban công tác để biết rõ hơn về việc Việt Nam sẽ đảm bảo tuân thủ trong các khu vực thương mại và kinh tế khác nhau như thế nào.

145 Xem Nghị định thư về việc gia nhập của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, tài liệu WT/L/432 đăng tên www.wto.org

146 Supra, Phần I.2(A).1

147 Supra, Phần I.2(A). 2-4

148 Xem các đoạn 489, 508, 510-514, 518

149 Xem các đoạn 516 và 517

150 Nghị định thư gia nhập của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, tài liệu WT/L/432, Phần I.2(C) đăng tên www.wto.org

SOURCE: VIỆT NAM GIA NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI – GIẢI THÍCH CÁC ĐIỀU KIỆN GIA NHẬP. MUTRAP II (DỰ ÁN HỖ TRỢ THƯƠNG MẠI ĐA BIÊN). NHÀ XUẤT BẢN LAO ĐỘNG – XÃ HỘI HÀ NỘI – 2008

Trích dẫn từ: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ BỘ CÔNG THƯƠNG

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: