CÁC YÊU CẦU ĐỐI VỚI CHÍNH SÁCH KINH TẾ CHUNG KHI GIA NHẬP WTO

TRẦN HỮU BƯU, NGUYỄN VÂN CHI, PHẠM THỊ TƯỚC, TRƯƠNG THÙY LINH, TRẦN HÀO HÙNG VÀ TRỊNH MINH ANH 

Giới thiệu

Trong giai đoạn đầu của quá trình gia nhập, giống như các nước đang gia nhập khác, Việt Nam được yêu cầu cung cấp các thông tin chi tiết về cơ chế kinh tế và thương mại của mình. Các Hiệp định WTO không đưa ra các nghĩa vụ trực tiếp mà chính sách kinh tế của các Thành viên phải tuân thủ cũng như không quy định các công cụ chính để thực thi chính sách. Nhưng từ hệ thống của WTO có thể thấy rằng các chính sách kinh tế chung của các Thành viên có tác động quan trọng tới cơ chế thương mại nói chung và quyết định nội dung của các biện pháp thương mại một cách đáng kể.

Do đó, Việt Nam được yêu cầu cung cấp các thông tin chi tiết về chính sách thương mại của mình trong Bị vong lục về cơ chế Ngoại thương của mình, Bị vong lục được cung cấp cho WTO trong giai đoạn đầu của tiến trình gia nhập, và sau đó Việt Nam được yêu cầu cung cấp cho Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO (Ban công tác) những thay đổi lớn trong các chính sách kinh tế của mình.

1. Chính sách tài chính và tiền tệ

Như được chỉ ra tại các đoạn 9 – 17 trong Báo cáo của Ban công tác, đại diện của Việt Nam thông báo cho Ban công tác những yếu tố quan trọng nhất trong chính sách tài chính và tiền tệ của Việt Nam và các khía cạnh thể chế liên quan. Đại diện của Việt Nam khẳng định với Ban công tác rằng mục tiêu chính của chính sách tiền tệ của Việt Nam là ổn định giá trị của tiền Đồng nhằm kiểm soát lạm phát và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội. Đại diện này cũng cung cấp thông tin về sự phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại, kể cả lịch trình cổ phần hóa dự kiến. Quá trình cải cách hệ thống thuế cũng được mô tả chi tiết.

1.1. Thông tin chung và quá trình gia nhập WTO

Việt Nam phải thông báo chi tiết về hệ thống thanh toán và giao dịch ngoại hối của mình cho WTO do vai trò quyết định của hệ thống này đối với việc duy trì các mối quan hệ kinh tế phù hợp với các quy tắc của WTO4. Như đại diện của Việt Nam giải thích, Việt Nam đã thay thế hệ thống tỷ giá hối đoái cố định bằng một cơ chế tỷ giá linh hoạt thả nổi có quản lý từ năm 1989. Việt Nam đã bình thường hoá quan hệ tài chính với Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) vào năm 1993 và đã từng bước tuân thủ các yêu cầu tại Điều VIII trong Điều lệ IMF. Mục tiêu đưa Đồng Việt Nam trở thành đồng tiền chuyển đổi được đặt ra vào năm 2001 và các biện pháp kiểm soát giao dịch vãng lai đã dần dần được tự do hóa.

Với những cải cách trong hệ thống thanh toán và ngoại hối, Việt Nam đã tuân thủ hoàn toàn các nghĩa vụ tại Điều VIII của Hiến chương IMF về thanh toán đối với tài khoản vãng lai và chuyển tiền quốc tế. Việc tuân thủ này đóng vai trò then chốt đối với doanh nghiệp vì các nhà nhập khẩu được đảm bảo về mặt pháp lý là có thể mua ngoại tệ để thực hiện các giao dịch vãng lai. Nhờ tiến hành các sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, tất cả các hạn chế ngoại hối còn lại đối với thanh toán và chuyển tiền đối với các giao dịch vãng lai đã được loại bỏ. Những người cư trú và phi cư trú được phép mua và chuyển ngoại tệ và không có hạn chế nào đối với nhà đầu tư nước ngoài trong việc chuyển lợi nhuận và các khoản thu nhập hợp pháp ra nước ngoài. Ngày  8/11/2005, IMF đã chính thức công bố việc Việt Nam tuân thủ Điều VIII của Điều lệ IMF.

Đối với các giao dịch vốn, Việt Nam đã nới lỏng quy định về việc chuyển vốn của các nhà đầu tư nước ngoài và việc vay nước ngoài của người cư trú là tổ chức. Việt Nam chỉ còn duy trì các hạn chế đối với: (i) việc chuyển vốn ra nước ngoài để đầu tư của người cư trú là tổ chức đòi hỏi phải được cơ quan có thẩm quyền phê chuẩn và chỉ được chuyển số ngoại tệ mình có; và (ii) việc thanh toán và trả nợ vay nước ngoài của người cư trú là tổ chức chỉ được phép khi được Ngân hàng Nhà nước xác nhận hợp đồng vay. Tuy nhiên, các doanh nghiệp được tự do ký kết các hợp đồng vay nợ nước ngoài phù hợp với các văn bản pháp luật đang áp dụng.5 Các yêu cầu đối với doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài cũng được nêu lên và thảo luận trong Báo cáo của Ban công tác.

1.2. Cam kết trong WTO của Việt Nam

Liên quan tới ngoại hối và thanh toán, các nghĩa vụ của Việt Nam tại đoạn 31 trong Báo cáo của Ban công tác như sau:

“Đại diện của Việt Nam tuyên bố rằng Việt Nam sẽ tuân thủ các nghĩa vụ liên quan đến ngoại hối theo đúng các quy định của WTO cũng như các tuyên bố và quyết định của WTO có liên quan đến IMF. Đại diện của Việt Nam nhắc lại việc Việt Nam chấp nhận tuân thủ Điều VIII của Điều lệ IMF trong đó quy định rằng “không Thành viên nào áp dụng các biện pháp hạn chế việc thanh toán và chuyển tiền đối với các giao dịch vãng lai quốc tế, trừ khi được sự chấp thuận của IMF". Đại diện của Việt Nam tuyên bố rằng theo đúng các cam kết trên, trừ khi Điều lệ của IMF có quy định khác, Việt Nam sẽ không áp dụng các luật, quy định và biện pháp, trong đó bao gồm cả các yêu cầu đối với các điều khoản của hợp đồng, nhằm hạn chế các giao dịch vãng lai của các cá nhân và doanh nghiệp hoạt động trong lãnh thổ hải quan của mình theo lượng ngoại tệ mà cá nhân hoặc doanh nghiệp đó thu được”.

1.3. Ý nghĩa và tác động của cam kết gia nhập

Các cam kết tại đoạn 31 trong Báo cáo của Ban công tác, tương tự như cam kết của tất cả các Thành viên WTO, đóng vai trò then chốt đối với các doanh nghiệp. Các cam kết này đảm bảo cho các hợp đồng kinh doanh của các doanh nghiệp, khi thực hiện các giao dịch xuất nhập khẩu, 5 Nghị định số 134/2005/NĐ-CP ngày 01/11/2005 các doanh nghiệp có thể có được lượng ngoại tệ cần thiết. Quyền này chỉ có thể bị hạn chế trong trường hợp rất đặc biệt thông qua các biện pháp được đưa ra nhằm mục tiêu cán cân thanh toán và phải tuân thủ với các điều kiện được IMF và các Hiệp định của WTO đề ra.

Đối với các nhà nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ nước ngoài, việc được đảm bảo rằng trong trường hợp họ có số lượng tiền Đồng cần thiết, họ có quyền mua ngoại tệ để trả cho nhà xuất khẩu là rất quan trọng. Sự ổn định của hệ thống ngoại hối được đảm bảo bởi các quy tắc của IMF và gia nhập WTO khiến Việt Nam trở thành một đối tác tin cậy đối với các nhà xuất khẩu nước ngoài cũng như tạo ra một sự đảm bảo đối với các doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam.

2. Chính sách đầu tư

2.1. Thông tin chung và tiến trình gia nhập WTO

Các quy định đối với việc thành lập doanh nghiệp

WTO không có quy tắc trực tiếp đối với các vấn đề đầu tư. Tuy nhiên, WTO có các quy tắc thương mại tác động tới chính sách trong nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài. Do mối liên hệ chặt chẽ giữa các biện pháp đầu tư và các biện pháp thương mại, các nước đang gia nhập luôn phải trình bày cơ chế đầu tư của mình.

Trong các cuộc đàm phán gia nhập WTO, Đoàn đàm phán Việt Nam đã miêu tả quá trình phát triển của các văn bản pháp quy liên quan tới doanh nghiệp, gồm cả việc thông qua Luật Doanh nghiệp mới có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 20066. Luật này điều chỉnh việc thành lập, quản lý và hoạt động của các doanh nghiệp. Luật quy định bốn loại hình doanh nghiệp – công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân. Theo luật này, mọi pháp nhân hay cá nhân trong nước và nước ngoài đều có quyền thành lập và quản lý các doanh nghiệp ở Việt Nam, trừ khi trong Luật quy định khác.

Theo Luật Doanh nghiệp mới, các ngành nghề kinh doanh được chia thành (i) các ngành nghề bị cấm kinh doanh – là các ngành nghề cả nhà đầu tư trong và ngoài nước, bất kể hình thức sở hữu nào, đều bị cấm kinh doanh vì các lý do quốc phòng, an ninh, trật tự, đạo đức xã hội, bảo vệ sức khoẻ con người, truyền thống, môi trường, bảo vệ thực vật và các lý do khác phù hợp Hiệp định WTO; (ii) các ngành nghề kinh doanh có điều kiện, là các ngành doanh nghiệp được phép kinh doanh nếu đáp ứng một số các điều kiện do pháp luật quy định; (iii) các ngành nghề kinh doanh đòi hỏi phải có vốn pháp định; (iv) các ngành nghề kinh doanh đòi hỏi phải có chứng chỉ hành nghề; (v) các ngành nghề dành riêng cho doanh nghiệp hợp danh hoặc doanh nghiệp tư nhân; và (vi) các ngành nghề kinh doanh khác. Đăng ký thành lập doanh nghiệp ở các ngành nghề khác là tự động. Các Bộ ngành hữu quan chịu trách nhiệm xác định xem đơn xin thành lập doanh nghiệp có thuộc loại hình kinh doanh bị cấm hay không.

Các ngành nghề kinh doanh có điều kiện bao gồm bao gồm các ngành nghề không đòi hỏi giấy phép kinh doanh nhưng cần tuân thủ các yêu cầu về môi trường, tiêu chuẩn vệ sinh, an toàn thực phẩm, phòng cháy chữa cháy, trật tự xã hội, an toàn giao thông và các yêu cầu khác và các ngành nghề cần có giấy phép kinh doanh theo các quy định của pháp luật. Đại diện của Việt Nam xác nhận rằng việc bổ sung danh mục các ngành nghề cấm kinh doanh hay kinh doanh có điều kiện sẽ phải tuân thủ các quy định của WTO, kể cả những nghĩa vụ theo GATS và Biểu cam kết của Việt Nam. Đại diện của Việt Nam bổ sung rằng Chính phủ Việt Nam sẽ rà soát định kỳ các điều kiện kinh doanh để xác định những quy định của Luật Doanh nghiệp còn chồng chéo hay mâu thuẫn với các luật lệ và quy định có liên quan khác hay ngăn trở hoạt động của doanh nghiệp (Điều7.4 của Luật Doanh nghiệp). Chính phủ Việt Nam sẽ đề xuất việc sửa đổi hay bãi bỏ các điều kiện kinh doanh để Quốc hội quyết định. Bất kỳ thay đổi nào so với các điều kiện hiện tại sẽ được thực hiện theo nguyên tắc tuân thủ hoàn toàn với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Đại diện của Việt Nam xác nhận thêm rằng việc bổ sung và thu hẹp danh sách các ngành nghề cấm kinh doanh hay kinh doanh có điều kiện trong tương lai sẽ phù hợp với các quy định của WTO.

Các biện pháp áp dụng riêng cho đầu tư nước ngoài

Đoàn đàm phán Việt Nam thông báo cho Ban công tác về Luật Đầu tư mới được Quốc hội Việt Nam thông qua trong năm 2005 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 20067. Luật này điều chỉnh các hoạt động đầu tư, quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư, việc phân bổ các ưu đãi, quản lý nhà nước về các hoạt động đầu tư tại Việt Nam (khuyến khích, hướng dẫn và hỗ trợ các nhà đầu tư trong quá trình thực hiện dự án và xây dựng chiến lược và chính sách nhằm phát triển đầu tư), và hoạt động đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam. Luật năm 2005 cũng đưa ra những quy định đảm bảo không quốc hữu hóa hay tịch thu tài sản của nhà đầu tư (việc quốc hữu hóa hay tịch thu tài sản sẽ chỉ có thể được thực hiện vì lợi ích công cộng và sẽ được đền bù đầy đủ và công bằng theo quy định của Luật). Việt Nam đã ký kết và tham gia một số các thỏa thuận song phương và/hoặc đa phương về đầu tư, bao gồm các Hiệp định song phương về khuyến khích và bảo hộ đầu tư với 49 quốc gia và vùng lãnh thổ, Hiệp định về tránh đánh thuế hai lần với 45 quốc gia và vùng lãnh thổ, Hiệp định khung về đầu tư ASEAN (AIA), Công ước New York và MIGA v.v…

Luật Đầu tư năm 2005 cấm các hoạt động đầu tư gây tổn hại tới an ninh và quốc phòng, các giá trị văn hóa và lịch sử, môi trường, truyền thống và phong tục tốt đẹp của Việt Nam. Luật cũng quy định các lĩnh vực đầu tư có điều kiện, bao gồm: (i) các ngành nghề có tác động đến an ninh và quốc phòng, trật tự và an toàn xã hội; (ii) ngân hàng và tài chính; (iii) các ngành nghề có ảnh hưởng tới sức khỏe người dân; (iv) văn hóa, thông tin, báo chí và xuất bản: (v) dịch vụ giải trí; (vi) bất động sản; (vii) khảo sát, tìm kiếm, thăm dò, và khai thác tài nguyên thiên nhiên; (viii) giáo dục và đào tạo; và (ix) một số ngành nghề khác theo quy định của Luật. Đầu tư vào một số ngành nghề nhất định không chịu sự điều chỉnh của Luật Đầu tư mà chịu sự điều chỉnh của các luật quy định hoạt động đầu tư trong các ngành nghề cụ thể đó: Luật các Tổ chức Tín dụng đối với lĩnh vực ngân hàng, Luật Kinh doanh Bảo hiểm đối với lĩnh vực bảo hiểm, Luật Chứng khoán đối với kinh doanh chứng khoán, và Luật về Luật sư đối với lĩnh vực dịch vụ pháp lý.

Luật Đầu tư năm 2005 được áp dụng thống nhất cho nhà đầu tư trong nước và nước ngoài và đảm bảo quyền tự chủ của nhà đầu tư trong hoạt động kinh doanh. Nhà đầu tư nước ngoài được tự do lựa chọn (các) lĩnh vực mà mình mong muốn đầu tư, hình thức đầu tư, các biện pháp huy động vốn, vị trí địa lý và quy mô đầu tư, đối tác đầu tư và thời hạn đầu tư theo đúng các luật lệ của Việt Nam và các cam kết của Việt Nam tại các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Luật này bảo đảm các nhà đầu tư được tiếp cận một cách bình đẳng với nguồn vốn, ngoại tệ, đất đai, tài nguyên thiên nhiên, các công cụ pháp lý, các dữ liệu về nền kinh tế quốc dân, các cơ hội đầu tư và bảo đảm nhà đầu tư có quyền khiếu nại, tố cáo hay khởi kiện. Luật có quy định về nguyên tắc không hồi tố trong trường hợp có thay đổi chính sách và đưa ra một cơ chế giải quyết tranh chấp và thực thi phán quyết của Toà án phù hợp với các thông lệ quốc tế nhằm tăng cường lòng tin của nhà đầu tư. Luật cũng loại bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử về giá và phí áp dụng với các nhà đầu tư. Theo Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp mới cũng như theo Nghị định của Chính phủ số 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư năm 2005, các thủ tục đăng ký đầu tư/kinh doanh áp dụng với các nhà đầu tư nước ngoài đã được hài hoà hóa; giấy chứng nhận đầu tư cũng đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Do vậy, các công ty nước ngoài có dự án đầu tư không cần phải tiến hành đăng ký kinh doanh riêng theo Luật Doanh nghiệp. Bất kỳ thay đổi nào với hoạt động đầu tư, kể cả với các dự án dưới 300 tỷ đồng và không nằm trong danh mục đầu tư có điều kiện hay bị cấm, cũng phải được đăng ký lại.

Báo cáo của Ban công tác tóm tắt các nguyên tắc áp dụng đối với giấy chứng nhận đầu tư, đăng ký (đăng ký lại) đầu tư, thẩm định đầu tư, thay đổi hình thức pháp lý của dự án đầu tư, mở chi nhánh và văn phòng đại diện của doanh nghiệp nước ngoài cũng như chuyển vốn đầu tư, lợi nhuận và các khoản thu nhập hợp pháp khác ra nước ngoài. Các Thành viên của Ban công tác đã nêu câu hỏi và đưa ra nhận xét về các khía cạnh khác nhau của cơ chế đầu tư tại Việt Nam, bao gồm cả quyền sử dụng đất.

3. Các doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu hoặc kiểm soát, hoặc được hưởng đặc quyền hoặc độc quyền

3.1. Thông tin chung và quá trình gia nhập WTO

Trong quá trình gia nhập WTO, các Thành viên của Ban công tác đã tập trung nhiều chú ý vào sự tồn tại và hoạt động của các doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu hoặc kiểm soát tại Việt Nam. Các Thành viên đã đề nghị Việt Nam cung cấp thông tin về các văn bản pháp luật liên quan cũng như hoạt động thực tiễn của các doanh nghiệp này và vai trò của chúng trong nền kinh tế quốc dân8.

WTO không có các quy tắc về sở hữu trong các đơn vị kinh doanh. WTO không ngăn cản các Thành viên thành lập và phát triển các doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu (SOEs), tuy nhiên WTO có các điều kiện cụ thể đối với các hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp thương mại nhà nước (STEs). Cụ thể, Điều XVII của Hiệp định GATT 1994 đề ra hai điều kiện cơ bản cho hoạt động của các doanh nghiệp này (i) tất cả các hoạt động mua bán chỉ thực hiện theo các căn cứ thương mại, phù hợp với nguyên tắc không phân biệt đối xử chung; và (ii) các hoạt động xuất nhập khẩu phải minh bạch.

Các Thành viên WTO rất quan tâm tới hoạt động của các doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu nói chung và các doanh nghiệp thương mại nhà nước nói riêng vì hai lý do chính. Thứ nhất, Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế định hướng thị trường và trong quá trình này, như một số Thành viên đã nêu lên, Việt Nam tiếp tục dành một số ưu đãi cụ thể cho các doanh nghiệp nhà nước. Thứ hai, theo cách hiểu của một số Thành viên WTO thì các doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam không chỉ chiếm số lượng lớn, tỷ trọng đóng góp vào GDP cao cũng như có tổng số vốn rất lớn mà còn có nhiều lợi thế về năng lực sản xuất, cung cấp dịch vụ vụ và xuất nhập khẩu một số mặt hàng chủ chốt (gồm xăng dầu, khoáng sản, dịch vụ viễn thông, ngân hàng và bảo hiểm, v.v…). Các Thành viên WTO thể hiện lo ngại về khả năng Chính phủ sẽ can thiệp vào thị trường thông qua các doanh nghiệp nhà nước, do đó có thể bóp méo thị trường và thậm chí vô hiệu hóa các cam kết về mở cửa thị trường của Việt Nam. Đây chính là lý do tại sao các Thành viên WTO yêu cầu Việt Nam đưa ra các cam kết toàn diện về doanh nghiệp nhà nước, kể cả doanh nghiệp thương mại nhà nước.

Trước lo ngại của các Thành viên, đại diện của Việt Nam thông báo rằng các cơ quan quản lý của Việt Nam đã công bố, minh bạch hóa đầy đủ các thông tin về chính sách và khuôn khổ pháp luật chung liên quan tới việc thành lập, tổ chức và quản lý hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước nói chung và các doanh nghiệp thương mại nhà nước nói riêng. Việt Nam cũng xác nhận rằng Việt Nam đang thực hiện một chính sách dài hạn, nhất quán về nền kinh tế đa thành phần trong đó cả khu vực nhà nước và khu vực tư nhân, bao gồm cả các nhà đầu tư trong và ngoài nước, được khuyến khích tham gia cạnh tranh bình đẳng. Việt Nam đã xác nhận rằng khu vực tư nhân, kể cả người nước ngoài, được phép cung cấp sản phẩm và dịch vụ cho các doanh nghiệp nhà nước thông qua thông qua đấu thầu hoặc thông qua đơn hàng của Nhà nước hay phân bổ định hướng (trừ các sản phẩm và dịch vụ công liên quan tới quốc phòng và an ninh quốc gia).

Bảng 2 dưới đây liệt kê danh sách các doanh nghiệp thương mại nhà nước ở Việt Nam được hưởng đặc quyền hoặc độc quyền.

Bảng 2

CÁC DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

TT

Sản phẩm

Mã HS

Tên doanh nghiệp

Chức năng của doanh nghiệp

1

Dầu thô

27090010

Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PETROVIETNAM)

Tìm kiếm, thăm dò, khai thác, chế biến và kinh doanh sản phẩm dầu và khí đốt, cung cấp các dịch vụ liên quan đến dầu và khí đốt

3

Máy bay, phụ tùng máy bay và các phương tiện, thiết bị hàng không

8802, 8803

Công ty XNK hàng không (AIRIMEX)

Đảm bảo việc cung cấp máy bay, phương tiện, thiết bị và vật tư dùng trong ngành hàng không; Là nhà nhập khẩu độc quyền máy bay và các vật tư, phụ tùng dùng cho hàng không.

4

Băng đĩa hình

ex8524

Cty XNK và phát hành phim Việt Nam (FAFILMVIETNAM)

Nhà nhập khẩu duy nhất và phân phối bán buôn.

5

Báo chí

4902

Cty XNK sách báo

(XUNHASABA)

Nhà nhập khẩu duy nhất và phân phối bán buôn.

6.

Thuốc lá, xì gà, và các sản phẩm thuốc lá chế biến khác

2402, 2403

Tổng Công ty Thuốc lá Việt Nam (VINATABA)

Nhà nhập khẩu duy nhất.

3.2. Cam kết gia nhập WTO của Việt Nam

Các đoạn 78 và 79 trong Báo cáo của Ban công tác đưa ra các nghĩa vụ của Việt Nam liên quan tới doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu hoặc kiểm soát. Theo đoạn 78, Việt Nam sẽ đảm bảo tất cả các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước hay do Nhà nước kiểm soát, kể cả các doanh nghiệp đã được cổ phần hóa nhưng Nhà nước vẫn nắm giữ quyền kiểm soát, và các doanh nghiệp được hưởng đặc quyền hay độc quyền sẽ thực hiện việc mua sắm không phục vụ cho nhu cầu của Chính phủ và bán hàng trong hoạt động thương mại quốc tế chỉ dựa trên các tiêu chí thương mại, tức là các tiêu chí về giá cả, chất lượng, khả năng bán ra thị trường, khả năng cung cấp, và các doanh nghiệp của các Thành viên WTO khác sẽ có cơ hội thỏa đáng, theo đúng với thực tiễn kinh doanh thông thường, khi cạnh tranh để tham gia vào các giao dịch mua bán với các doanh nghiệp này mà không bị phân biệt đối xử. Ngoài ra, Chính phủ Việt Nam sẽ không tác động, dù trực tiếp hay gián tiếp, tới các quyết định thương mại của các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước, do Nhà nước kiểm soát, hay các doanh nghiệp được hưởng đặc quyền hay độc quyền, gồm các quyết định về số lượng, giá trị hay nước xuất xứ của bất kỳ hàng hóa nào được mua hay bán, trừ trường hợp can thiệp theo cách thức phù hợp với các quy định của Hiệp định WTO và các quyền tương tự như quyền dành cho các chủ doanh nghiệp hay cổ đông khác không phải là Chính phủ. Tại đoạn 79 trong Báo cáo của Ban công tác, Việt Nam xác nhận rằng, không ảnh hưởng tới các quyền của Việt Nam liên quan tới hoạt động mua sắm chính phủ, tất cả các luật, quy định và biện pháp liên quan tới mua sắm hàng hóa và dịch vụ của các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp do Nhà nước kiểm soát hay doanh nghiệp được hưởng đặc quyền hay độc quyền để bán hàng vì mục đích thương mại, sản xuất hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ vì mục đích thương mại, hoặc không nhằm phục vụ mục đích của Chính phủ, sẽ không được coi là những luật, quy định và biện pháp liên quan tới mua sắm chính phủ. Do đó, các giao dịch mua bán này sẽ phải chịu sự điều chỉnh của các quy định tại Điều II, XVI, XVII của GATS và Điều III của GATT 1994.

Những cam kết trên không chỉ có trong cam kết gia nhập của Việt Nam. Trung Quốc và một số nước có nền kinh tế đang chuyển đổi cũng có cam kết tương tự. Trung Quốc đã đưa ra các cam kết cụ thể sau: “tất cả các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước hay do Nhà nước đầu tư sẽ thực hiện các hoạt động mua sắm này chỉ dựa trên các tiêu chí thương mại, bao gồm các tiêu chí về giá cả, chất lượng, sự sẵn có và sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp của các Thành viên WTO khác có cơ hội cạnh tranh thỏa đáng để tham gia vào các giao dịch mua bán này mà không bị phân biệt đối xử. Ngoài ra, trừ trường hợp phù hợp với Hiệp định WTO, Chính phủ Trung Quốc sẽ không can thiệp vào quyết định thương mại của các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước hay do Nhà nước đầu tư, bao gồm các quyết định về số lượng, giá trị hay nước xuất xứ của hàng hóa được mua… "9.

3.3. Cam kết WTO so với các cam kết quốc tế liên quan khác

Đây không phải là lần đầu tiên Việt Nam đưa ra các cam kết liên quan tới hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước. Trong Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA) có hiệu lực từ tháng 12/2001, Việt Nam đồng ý thực hiện các cam kết sau liên quan tới các doanh nghiệp nhà nước:

– Điều 8, Chương 1- Thương mại Hàng hóa: các bên có thể thành lập hoặc duy trì doanh nghiệp nhà nước, hoặc dành cho các doanh nghiệp đó đặc quyền xuất nhập khẩu các hàng hóa liệt kê tại Phụ lục C với điều kiện các doanh nghiệp đó khi thực hiện hoạt động mua bán liên quan tới việc xuất khẩu hoặc nhập khẩu sẽ hành động theo nguyên tắc không phân biệt đối xử, việc mua bán đó sẽ chỉ dựa trên các tiêu chí thương mại, bao gồm các tiêu chí về giá cả, chất lượng, sự sẵn có, khả năng bán ra thị trường, vận tải và các điều kiện mua bán khác và các doanh nghiệp của bên kia sẽ có cơ hội thỏa đáng, theo đúng với tập quán kinh doanh thông thường, khi cạnh tranh để tham gia vào các giao dịch mua bán với các doanh nghiệp này.

Điều 2, Chương IV – Phát triển quan hệ đầu tư: Mỗi bên sẽ đảm bảo rằng các doanh nghiệp nhà nước của mình khi cung cấp hàng hóa và dịch vụ sẽ dành đối xử quốc gia và đối xử tối huệ quốc cho các khoản đầu tư thuộc phạm vi Hiệp định, phù hợp với các điều kiện tại đoạn 4.3 của Phụ lục H (tức là đối xử bình đẳng về giá và phí đối với hàng hóa và dịch vụ).

Điều 12, Chương IV – Phát triển quan hệ đầu tư: khi một doanh nghiệp nhà nước của một bên được Bên đó uỷ quyền để thực hiện thẩm quyền pháp lý, hành chính hoặc các thẩm quyền khác của chính phủ, doanh nghiệp này sẽ phải tuân thủ nghĩa vụ của Bên đó.

3.4. Ý nghĩa của các cam kết gia nhập WTO

Cải cách, sắp xếp lại và cải thiện hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước nói chung và các doanh nghiệp thương mại nhà nước nói riêng là một chính sách nhất quán, một bộ phận của tiến trình đổi mới và hội nhập của Việt Nam trong vòng 20 năm qua. Chính sách này đã được khẳng định trong nhiều kế hoạch hành động của Chính phủ như một giải pháp để xây dựng và phát triển kinh tế thị trường tại Việt Nam.

Trong bối cảnh đó và ngay cả khi không có các cam kết gia nhập WTO liên quan tới vấn đề này thì vẫn có thể xác nhận rằng việc thực thi các cam kết nói trên là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng mà Việt Nam quyết tâm hoàn thành để đổi mới và tăng hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước và đảm bảo các doanh nghiệp này có năng lực để vận hành hiệu quả trong một môi trường khá cạnh tranh.

Do đó, khuôn khổ pháp luật cho các doanh nghiệp nhà nước đang ngày càng được cải thiện theo hướng tích cực, đáp ứng hầu hết các yêu cầu cho việc thực thi các cam kết nói trên. Vì vậy, việc thực thi các cam kết này không đòi hỏi việc sửa đổi đáng kể đối với Luật về doanh nghiệp nhà nước.

3.5. Kết luận và khuyến nghị

Như đề cập ở trên, việc thực thi các cam kết về doanh nghiệp nhà nước không đòi hỏi việc sửa đổi Luật về doanh nghiệp nhà nước và các văn bản pháp luật liên quan. Tuy nhiên, với yêu cầu đổi mới các doanh nghiệp nhà nước, không loại trừ khả năng Việt Nam sẽ phải thực hiện các biện pháp mạnh mẽ hơn. Do đó, Chính phủ có thể xem xét các biện pháp sau:

− Cải tiến cơ chế quản lý để đảm bảo rằng các doanh nghiệp nhà nước hoạt động theo các nguyên tắc của nền kinh tế thị trường và Nhà nước sẽ không can thiệp trực tiếp hoặc gián tiếp vào các quyết định thương mại của những doanh nghiệp này. Cụ thể, có thể xem xét các biện pháp sau đây: (i) điều chỉnh các điều khoản tương ứng về quyền đưa ra quyết định của Nhà nước liên quan tới các dự án đầu tư, mua bán, thanh khoản, chuyển giao tài sản, tiêu dùng của các doanh nghiệp nhà nước thông qua việc dành các quyền này cho các doanh nghiệp; và (ii) Chính phủ, các Bộ, ngành và Ủy ban Nhân dân các tỉnh sẽ không trực tiếp thực thi quyền sở hữu mà sẽ chuyển quyền này cho Tổng Công ty Kinh doanh và Quản lý vốn nhà nước và các tập đoàn khác; hoặc trong trường hợp không thực hiện được việc này, Chính phủ, các Bộ, ngành và Ủy ban Nhân dân các tỉnh nên thực thi các quyền này theo cách giống như các cổ đông của doanh nghiệp.

− Giảm dần và tiến tới loại bỏ kiểm soát của Nhà nước đối với giá của một số hàng hóa và dịch vụ (bao gồm điện, than, xi măng, nước, xăng dầu và vận tải hành khách, v.v…).

− Hạn chế việc thành lập và duy trì các doanh nghiệp nhà nước mới và đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi các doanh nghiệp nhà nước hiện tại thành các công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc các công ty cổ phần hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.

− Thu hẹp danh mục các lĩnh vực mà Nhà nước sở hữu 100% vốn hoặc nắm cổ phần chi phối và loại bỏ các ưu đãi và ưu tiên cho các doanh nghiệp nhà nước.

− Thiết lập và công bố tất cả các ngành nghề độc quyền của Nhà nước, thiết lập lộ trình loại bỏ và kiểm soát chặt chẽ những ngành nghề độc quyền nhà nước để đảm bảo rằng những đặc quyền của Nhà nước không biến thành đặc quyền cho các doanh nghiệp nhà nước.

− Tự do hóa việc sản xuất và cung cấp các sản phẩm và dịch vụ công thông qua việc cho phép các doanh nghiệp thuộc tất cả các thành phần kinh tế tham gia vào quá trình sản xuất và cung cấp, trừ trong các ngành liên quan tới quốc phòng và an ninh quốc gia hoặc một số ngành độc quyền.

4. Tư nhân hóa và cổ phần hóa

4.1. Thông tin chung và quá trình gia nhập WTO

Như trình bày ở phần trên, WTO không đưa ra các quy tắc đối với các Thành viên về việc ưu tiên một hình thức sở hữu nào đó hay trong việc thành lập và vận hành các doanh nghiệp thương mại và các doanh nghiệp khác. Điều này nghĩa là WTO không đưa ra yêu cầu tư nhân hóa hoặc cổ phần hóa các doanh nghiệp thương mại nhà nước. Tuy nhiên, nhằm đảm bảo nguyên tắc minh bạch hóa, nghị định thư gia nhập của tất cả các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi đều có nghĩa vụ thông báo hàng năm của cho các Thành viên WTO khác về các chương trình cổ phần hóa của họ.10

Trong quá trình đàm phán, bên cạnh yêu cầu cung cấp thông tin về kết quả tiến trình cổ phần hóa, Việt Nam thường bị các Thành viên yêu cầu xác nhận liệu Việt Nam có cho phép khu vực tư nhân tham gia vào các ngành nghề/lĩnh vực mà Nhà nước sẽ nắm giữ 100% cổ phần liệt kê tại Phụ lục của Quyết định 155/2004/QĐ-TTg hay không. Một số Thành viên yêu cầu làm rõ hình thức và mức độ can thiệp của Nhà nước vào hoạt động của các doanh nghiệp do Nhà nước đầu tư (bao gồm các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, các doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối, các doanh nghiệp mà Nhà nước góp vốn, v.v…).11

Việt Nam xác nhận rằng mục tiêu duy nhất của việc đưa ra danh sách các ngành mà Nhà nước nắm giữ 100% cổ phần hoặc cổ phần chi phối là để kiểm tra và phân loại các công ty hiện đang hoạt động nhằm thực hiện kế hoạch cải cách (gồm sắp xếp, chuyển đổi, giải thể các doanh nghiệp nhà nước), không nhằm tạo ra hạn chế hay cản trở doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác tham gia vào các lĩnh vực trong danh sách. Liên quan tới các doanh nghiệp nhà nước, Nhà nước không can thiệp vào các quyết định liên quan tới tổ chức và hoạt động của các doanh nghiệp này mà chỉ đóng vai trò là một chủ sở hữu, giống như các chủ sở hữu trong các lĩnh vực kinh tế khác.

Bên cạnh đó, trước lo ngại của một số Thành viên, Việt Nam đã đồng ý công bố kế hoạch cổ phần hóa có thời hạn của mình, bao gồm số lượng doanh nghiệp sẽ được cổ phần hóa cũng như công bố công khai tất cả các quy định điều chỉnh khái niệm, phạm vi và thủ tục cổ phần hóa; các lĩnh vực cho phép nước ngoài tham gia trong quá trình cổ phần hóa cũng như mức độ tham gia; cơ chế định giá, bán cổ phần và chỉ định Giám đốc các doanh nghiệp nhà nước tham gia vào quá trình cổ phần hóa; vai trò của Nhà nước với tư cách là một chủ sở hữu của các doanh nghiệp nhà nước và cơ cấu tổ chức, hoạt động của các doanh nghiệp này sau khi được cổ phần hóa.

4.2. Cam kết gia nhập WTO của Việt Nam

Theo đoạn 95 trong Báo cáo của Ban công tác, giống như các nền kinh tế chuyển đổi mới gia nhập khác, Việt Nam cam kết sẽ đảm bảo tính minh bạch tối đa của các chương trình tư nhân hóa và cổ phần hóa đang thực hiện, và để thực hiện mục tiêu này, kể từ thời điểm gia nhập WTO, Việt Nam sẽ cung cấp cho các Thành viên WTO báo cáo thường niên về tình trạng chương trình cổ phần hoá ở Việt Nam và tình trạng cải cách các doanh nghiệp cổ được phần hóa trong đó Nhà nước vẫn nắm giữ cổ phần kiểm soát chừng nào chương trình tư nhân hóa và cổ phần hóa còn tồn tại.

4.3. Tác động của các cam kết gia nhập

Các cam kết về tư nhân hóa/cổ phần hóa không gây ra gánh nặng cho Chính phủ Việt Nam do các cơ quan chính phủ phải chuẩn bị và công bố Báo cáo phát triển kinh tế xã hội hàng năm và đặc biệt là có một báo cáo về tình hình cải cách các doanh nghiệp nhà nước. Bên cạnh đó, hầu hết các tổ chức phát triển, định chế tài chính và các ngân hàng quốc tế hoạt động tại Việt Nam (ví dụ như UNDP, WB, IMF, ADB, IFC, v.v…) đều có báo cáo của riêng họ về vấn đề này. Do đó, việc thực thi cam kết nói trên không đòi hỏi việc sửa đổi các quy định pháp luật hiện hành.

Bên cạnh đó, việc thực thi các cam kết này sẽ góp phần tăng cường tính minh bạch của tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước và do đó cho phép khu vực tư nhân, cả trong và ngoài nước, được tiếp cận nhiều hơn các cơ hội mà tiến trình cổ phần hóa này đem lại, bao gồm cả việc tham gia vào các hoạt động trước đây chỉ dành cho khu vực nhà nước.

4.4. Kết luận và khuyến nghị

Trừ nghĩa vụ đảm bảo tính minh bạch của các kế hoạch cổ phần hóa/tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước, các cam kết gia nhập WTO không bắt buộc Việt Nam phải thực hiện tiến trình này. Do quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước đang rất chậm chạp, Chính phủ cần xem xét thực hiện các biện pháp sau đây:

− Đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa và mở rộng diện các doanh nghiệp nhà nước cần được cổ phần hóa thông qua việc bổ sung các doanh nghiệp lớn và các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực trước đây Nhà nước nắm 100% cổ phần hoặc nắm cổ phần chi phối như điện, viễn thông, hàng không, vận tải biển, xăng dầu, tài chính, bảo hiểm, các ngân hàng thương mại, v.v…;

− Hàng năm xây dựng và công khai hóa chương trình/kế hoạch cổ phần hoá; bổ sung vào chương trình/kế hoạch cổ phần hóa hàng năm các doanh nghiệp đã cổ phần hóa nhưng Nhà nước vẫn giữ cổ phần chi phối;

− Thực hiện các biện pháp đề cập ở trên.

5. Chính sách giá

5.1. Thông tin chung và quá trình gia nhập WTO

Để WTO vận hành hiệu quả thì một giả định ban đầu là mức giá tại các nước Thành viên phải do thị trường quyết định. Đó là lý do tại sao trong tất cả các cuộc đàm phán gia nhập, chính sách giá cũng như các tình huống khi Chính phủ can thiệp vào giá lại được xem xét một cách kỹ lưỡng. 

Trong tiến trình gia nhập, một số Thành viên WTO đã thể hiện lo ngại về việc Chính phủ can thiệp vào các quyết định giá của doanh nghiệp, điều này có thể tác động xấu tới nhập khẩu thông qua chính sách giá tối thiểu hay hệ thống giá mua tối thiểu, v.v…Trên thực tế, trước đây Việt Nam duy trì hệ thống hai giá đối với một số sản phẩm và dịch vụ trước khi gia nhập, hệ thống này phân biệt đối xử giữa các cá nhân, tổ chức Việt Nam và cá nhân, tổ chức nước ngoài. Tuy nhiên, hệ thống này đã dần được loại bỏ và tới cuối năm 2005 đã hoàn toàn bị chấm dứt. Một số quan tâm khác mà các Thành viên WTO nêu lên cũng được giải đáp và Việt Nam đã đưa ra các cam kết rằng việc thực hiện chính sách giá tại Việt Nam là phù hợp với các quy tắc của WTO và Chính phủ tôn trọng quyền của các doanh nghiệp và cá nhân hoạt động hợp pháp tại Việt Nam trong việc đưa ra giá của hầu hết các loại hàng hóa và dịch vụ. Do đó hầu hết các mức giá là do các lực lượng thị trường quyết định. Kể từ năm 2003, Chính phủ chỉ còn kiểm soát giá đối với xăng dầu, điện, các dịch vụ bưu chính viễn thông, giá cước hàng không giữa Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, và nước sạch. Kiểm soát giá cũng được áp dụng đối với một số dịch vụ viễn thông.12

5.2. Cam kết gia nhập WTO của Việt Nam

Việt Nam cam kết sẽ áp dụng các biện pháp quản lý giá phù hợp với quy định của WTO, có tính đến lợi ích của các nước xuất khẩu là Thành viên của WTO như được quy định tại Điều III.9 của Hiệp định GATT 1994 và Điều VIII của Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS). Bên cạnh đó, Việt Nam cũng xác nhận rằng Việt Nam đã công bố danh mục các hàng hóa và dịch vụ chịu sự kiểm soát giá của Nhà nước cũng như bất kỳ thay đổi nào đối với danh mục này trên Công báo và việc công bố này vẫn được tiếp tục duy trì sau khi gia nhập WTO.

5.3. Tác động của các cam kết gia nhập

Trên thực tế, cơ chế giá hiện tại của Việt Nam đã phù hợp với các cam kết gia nhập WTO về kiểm soát giá, do đó việc thực thi các cam kết này, ngoại trừ cam kết về minh bạch hóa, sẽ không tạo ra thêm nghĩa vụ cho Việt Nam. Tuy nhiên việc gia nhập WTO về tổng thể sẽ có một số tác động về giá cả, ví dụ như quá trình hội nhập kinh tế nói chung và gia nhập WTO nói riêng sẽ góp phần làm giảm giá hàng hóa và dịch vụ trên thị trường nội địa. Do nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ chiếm tỷ trọng đáng kể trong tiêu dùng nội địa, việc giảm thuế sẽ làm giảm giá trong nước, đưa các mức giá này gần giá cả trên thị trường thế giới hơn. Do đó, chi phí nói chung của nền kinh tế sẽ giảm đi, tăng cường hiệu quả và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Tuy nhiên, việc hội nhập sâu hơn cũng khiến cho giá cả của hàng hóa và dịch vụ nhạy cảm hơn với sự biến động về giá trên thị trường thế giới, do đó cần theo dõi sát những thay đổi đối với giá cả hàng hóa và dịch vụ có ảnh hưởng tới phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Giá cả của một số mặt hàng nhạy cảm như xăng dầu và một số loại dược phẩm thay đổi đột ngột có thể gây ra lo ngại đặc biệt về kinh tế – xã hội. Việc định giá của độc quyền, kể cả định giá của các công ty thương mại và sản xuất xuyên quốc gia cần phải được giám sát để tránh xáo trộn lớn đối với giá cả.

Do đó, trong tương lai Chính phủ cần tiếp tục kiên định thực thi cơ chế giá dựa trên các nguyên tắc thị trường, không chỉ để thực thi các cam kết WTO mà còn để đáp ứng yêu cầu của tiến trình cải cách. Chính phủ sẽ tiếp tục thu hẹp danh sách hàng hóa chịu kiểm soát giá, giảm xuống chỉ còn một vài hàng hóa và dịch vụ độc quyền như một số sản phẩm công và hàng hóa thiết yếu của xã hội. Trong ngắn hạn, việc mua bán xăng dầu sẽ tuân theo cơ chế thị trường, sẽ chấm dứt bù lỗ cho nhập khẩu xăng dầu từ năm 2008. Bên cạnh đó, đấu thầu, đấu giá, định giá trong nước cùng với việc giám sát, kiểm tra và thực hiện sẽ được củng cố. Chính phủ tôn trọng quyền định giá của các cá nhân, doanh nghiệp và tổ chức kinh doanh phù hợp với quy định của pháp luật. Chính phủ cũng sẽ thực hiện các biện pháp phù hợp để bình ổn giá nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của các thương nhân, cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức cũng như quyền lợi của người tiêu dùng và Nhà nước. Chính phủ sẽ đẩy nhanh tiến trình phi điều tiết hóa giá cả và ban hành các văn bản pháp luật mới sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh Giá và sẽ xem xét dự thảo Luật về Kiểm soát giá.

6. Chính sách cạnh tranh

Việt Nam thông báo cho Ban công tác về nội dung của Luật Cạnh tranh có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2005. Luật Cạnh tranh được áp dụng đối với tất cả các doanh nghiệp dù là doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp do Nhà nước kiểm soát, doanh nghiệp được cổ phần hoá hay doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và áp dụng cho cả các hiệp hội ngành nghề. Luật Cạnh tranh công nhận quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp và bảo hộ quyền cạnh tranh trong kinh doanh. Luật Cạnh tranh cấm các hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh.13 Do WTO không có các quy định về chính sách cạnh tranh, Việt Nam không bị yêu cầu phải đưa ra cam kết cụ thể nào trong lĩnh vực này.

Chú thích:

4. Về mô tả sự phát triển hệ thống thanh toán và giao dịch ngoại hối của Việt Nam, đề nghị xem các đoạn 18-31 trong Báo cáo của Ban công tác.

5. Nghị định số 134/2005/NĐ-CP ngày 01/11/2005

6. Các đoạn 32-35 trong Báo cáo của Ban công tác

7. Các đoạn 36-51 trong Báo cáo của Ban Công tác.

8. Các đoạn từ 52 tới 79 trong Báo cáo của Ban công tác

9. Đoạn 46 trong Báo cáo của Ban công tác về việc Trung Quốc gia nhập WTO.

10. Xem tài liệu WT/ACC/10/Rev.3 của WTO

11. Các đoạn từ 80 tới 94 trong Báo cáo của Ban công tác

12. Các đoạn từ 96 tới 102 trong Báo cáo của Ban công tác .13 Về mô tả chi tiết nội dung của Luật cạnh tranh, đề nghị xem đoạn 105-109 trong Báo cáo của Ban công tác.

SOURCE: VIỆT NAM GIA NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI – GIẢI THÍCH CÁC ĐIỀU KIỆN GIA NHẬP. MUTRAP II (DỰ ÁN HỖ TRỢ THƯƠNG MẠI ĐA BIÊN). NHÀ XUẤT BẢN LAO ĐỘNG – XÃ HỘI HÀ NỘI – 2008

Trích dẫn từ: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ BỘ CÔNG THƯƠNG

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: