Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

QUAN ĐIỂM CHIẾN LƯỢC HOÀN THIỆN THỂ CHẾ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN SANG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

GS.TSKH. LƯƠNG XUÂN QUÌ

Trong nhiều năm qua, thể chế kinh tế của Nhà nước đã góp phần khơi dậy sức sáng tạo; làm sống dậy các tiềm năng, các nguồn lực của xã hội và do đó, góp phần  tạo nên những thành quả đáng kể về sự phát triển kinh tế và sự tiến bộ xã hội của đất nước ta.

Tuy nhiên, hệ thống thể chế kinh tế của Nhà nước hay nói cách khác là từng bộ phận thể chế kinh tế của Nhà nước vẫn đang còn tồi tại nhiều khiếm khuyết như: hệ thống luật pháp về kinh tế vẫn còn chưa đồng bộ, thiếu nhất quán, nhiều đạo luật quan trọng chưa được hình thành hoặc chưa phù hợp với nền kinh tế thị trường; công tác định hướng phát triển kinh tế – xã hội còn nhiều thiếu sót, trong hệ thống chính sách kinh tế đã xuất hiện những yếu tố làm chậm tiến trình của công cuộc cải cách theo hướng thị trường; các chính sách, quy định còn lúng túng trong giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và đảm bảo mục tiêu tiến bộ, công bằng xã hội; năng lực kiến tạo và vận hành thể chế của bộ máy nhà nước còn những hạn chế; tính thích ứng của thể chế trong điều kiện Việt Nam đã gia nhập WTO vẫn còn mờ nhạt.

Vậy nên hoàn thiện thể chế kinh tế của nhà nước Việt Nam theo hướng nào? Nên xem thể chế kinh tế là điều kiện hay động lực cho quá trình phát triển khi Việt Nam đã gia nhập WTO? Mối quan hệ ràng buộc và tính độc lập giữa thể chế kinh tế với thể chế chính trị và các thiết chế văn hoá nên được xác lập như thế nào? Vai trò của một xã hội dân sự nằm ở đâu trong quá trình hình thành thể chế kinh tế của nhà nước? Để góp phần trả lời những câu hỏi trên, bài viết này trình bày các quan điểm chiến lược hoàn thiện thể chế kinh tế của nhà nước Việt Nam trong bối cảnh chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế.

1. Hoàn thiện thể chế kinh tế của nhà nước là một quá trình thường xuyên, liên tục, vừa có những định hướng chiến lược, vừa có những điều chỉnh kịp thời để phù hợp với tình hình phát triển của đất nước và bối cảnh kinh tế thế giới trong những giai đoạn nhất định.

Thể chế kinh tế của nhà nước là một phạm trù lịch sử, vừa có tính linh hoạt để phù hợp với thực tiễn, vừa phải đảm bảo sự ổn định của các nguyên tắc chủ yếu. Trong lịch sử, quá trình hình thành của các mô hình phát triển kinh tế luôn gắn với những bối cảnh cụ thể. Mỗi mô hình đều có những ưu nhược điểm riêng, mô hình tiến bộ hơn sẽ thay thế cho các mô hình đã lạc hậu. Chính vì thế, để thể chế kinh tế của nhà nước luôn theo kịp thực tiễn nhưng lại không mất đi tính nhất quán trong quan điểm phát triển, cần đặt nó trong một “khuôn khổ” với mức độ linh hoạt cho phép. Những luận cứ sau đây cho thấy, nếu quá cứng nhắc trong việc xây dựng các nguyên tắc cơ bản của thể chế kinh tế của nhà nước thì sẽ không theo kịp biến động của thực tiễn.
Thực tế phát triển kinh tế của thế giới cho thấy nguy cơ thất bại có thể tìm thấy ngay trong quá trình phát triển của kinh tế thị trường. Mặc dù thành công trong phát triển, nhân loại ngày càng nhận thức rõ rằng: mô hình phát triển kinh tế thị trường theo mô hình kinh tế thị trường tự do không phải là cách duy nhất tối ưu. Những nước phát triển theo mô hình này tiềm ẩn những bất ổn của nền kinh tế, xã hội và khoét sâu hố ngăn cách giàu – nghèo.
Hơn thế nữa, sẽ không có một mô hình kinh tế thị trường chung cho mọi quốc gia, mà trái lại, mỗi quốc gia – dân tộc tuỳ theo trình độ phát triển, đặc điểm cơ cấu tổ chức và thể chế chính trị, kể cả các yếu tố văn hóa – xã hội truyền thống, mà xây dựng cho mình mô hình kinh tế thị trường đặc thù riêng mình.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, khi thế giới đang bước vào giai đoạn quá độ sang trình độ xã hội hậu công nghiệp, nền kinh tế tri thức, với những biến động xảy ra hàng ngày hàng giờ thì tính động của thể chế kinh tế lại càng cần được xem trọng.
Ở nước ta, xây dựng và hoàn thiện cải cách thể chế kinh tế của nhà nước còn phải đặc biệt chú ý tới đặ điểm chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường, hướng đến mục tiêu phát triển một nền kinh tế thị trường hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập sâu rộng với kinh tế khu vực và thế giới.
Vì vậy, vai trò nhà nước như một chủ thể xã hội sáng tạo và hùng mạnh để quản lý các quá trình kinh tế vĩ mô, nhằm hạn chế những khuyết tật của thị trường, đáp ứng yêu cầu phát triển, cần phải được khai thác có hiệu quả.

2. Hoàn thiện thể chế kinh tế của nhà nước theo mục tiêu tạo động lực đảm bảo quá trình tăng trưởng nhanh và bền vững của Việt Nam trong điêu kiện hội nhập quốc tế.

Thể chế kinh tế của nhà nước tác động mạnh mẽ đến các chủ thể tham gia nền kinh tế và mối quan hệ giữa chúng, đặc biệt là quan hệ sở hữu và quan hệ phân phối. Chính vì vậy, thể chế kinh tế của nhà nước có thể được xem là động lực của quá trình phát triển của đất nước trong từng giai đoạn, trước hết và cụ thể là phải đảm bảo cho các quan hệ sản xuất  được xác lập theo hướng ngày càng phù hợp với trình độ phát triển  của lực lượng sản xuất, nhằm giải phóng triệt để và thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, cải thiện ngày càng cao trong xã hội, tạo động lực thu hút mạnh mọi nguồn lực trong và ngoài nước đầu tư cho phát triển và giữ vững ổn định chính trị – xã hội; lấy phát triển lực lượng sản xuất làm động lực để không ngừng hoàn thiện và đổi mới quan hệ sản xuất.
Thể chế kinh tế của Nhà nước Việt Nam phải cho phép thực hiện xoá bỏ hoàn toàn mọi sự phân biệt đối xử theo hình thức sở hữu. Coi các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, bình đẳng trước pháp luật, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, cùng phát triển lâu dài và phát triển kinh tế tư nhân phải được xác định là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng XHCN; nguồn lực của các đầu tư nước ngoài được thu hút mạnh; kinh tế cổ phần ngày càng phát triển, trở thành hình thức tổ chức kinh tế phổ biến, thúc đẩy xã hội hóa sản xuất đầu tư. Đổi mới thể chế sở hữu sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho khai thác các tiềm năng trong nước và nước ngoài, góp phần đẩy nhanh tc độ phát triển kinh tế – xã hội.
Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, thể chế phân phối phải được thiết lập để bảo đảm rằng phân phối lần đầu phải được thực hiện trên cơ sở mức đóng góp về lao động ( gồm lao động sống – lao động sản xuất trực tiếp và lao động quản lý sản xuất kinh doanh và lao động vật hóa đưa vào sản xuất), hiệu quả kinh tế, mức đóng góp các nguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh và phân phối lại thông qua phân phối phúc lợi xã hội nhằm thực hiện công bằng trong phân phối để tạo động lực mạnh mẽ phát triển kinh tế – xã hội.

3. Hoàn thiện thể chế kinh tế của nhà nước phải đảm bảo tính định hướng đối với các chủ thể tham gia nền kinh tế, đặc biệt là định hướng về chính trị –kinh tế- xã hội của nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Thể chế kinh tế gồm thể chế kinh tế của nhà nước và thể chế kinh tế phi nhà nước. Tuỳ điều kiện phát triển trong từng thời kỳ của mỗi quốc gia, thể chế kinh tế của nhà nước và thể chế kinh tế phi nhà nước sẽ thực hiện vai trò của mình trong nền kinh tế. Trong quá trình chuyển đổi để hội nhập và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, thể chế kinh tế của nhà nước không chỉ đóng vai trò tiên quyết hình thành thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà còn tác động định hình các thể chế kinh tế phi nhà nước, định hướng cho các tính chất chính trị – kinh tế – xã hội của đất nước trong từng thời kỳ.
Thể chế kinh tế của nhà nước chính là “sản phẩm” của nhà nước, do nhà nước tạo ra và chính nhà nước lại là chủ thể sử dụng nó. Tuy nhiên, chất lượng của sản phẩm này không phải chỉ do nhà nước mà còn do doanh nghiệp, do thị trường, do người dân đánh giá và được biểu hiện bằng sự tiếp nhận, sự đồng thuận của xã hội. Tiêu chí để đánh giá chất lượng của sản phẩm này chính là sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Nói cách khác, việc xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế của nhà nước phải đảm bảo tính định hướng các tính chất chính trị – kinh tế – xã hội của đất nước. Đây cũng chính là cơ sở để phân biệt thể chế kinh tế của Nhà nước Việt Nam với thể chế kinh tế của các nhà nước khác.

4. Thể chế kinh tế của nhà nước được hoàn thiện trong mối quan hệ hài hòa với các thiết chế kinh tế phi nhà nước, trong đó vai trò của cộng đồng doanh nghiệp và người dân được đặc biệt quan tâm.

Việc xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế của nhà nước là do ý chí chủ quan của Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhưng phải dựa trên những nền tảng chủ yếu sau: cơ chế của nền kinh tế thị trường hiện đại; thực tiễn trình độ chính trị – kinh tế – xã hội của đất nước; những đòi hỏi phát triển đất nước trong thời kỳ mới; những thiết chế kinh tế phi nhà nước.
Tuy là sản phẩm của nhà nước nhưng thể chế kinh tế của nhà nước được tạo ra để phục vụ quá trình phát triển kinh tế của đất nước, mà cụ thể là tạo khuôn khổ hành xử thuận lợi nhất để các doanh nghiệp, các cá nhân phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Thể chế kinh tế của nhà nước phải thúc đẩy thị trường phát triển, không được làm méo mó thị trường, tôn trọng “sân chơi” của các quy luật thị trường để Nhà nước làm đúng và làm đủ chức năng của mình. Chính vì vậy, việc xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế của nhà nước phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản của thị trường và hiện thực phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, biểu hiện sự đồng hành giữa nhà nước với doanh nghiệp. Thể chế đó cũng phải thể hiện bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước dịch vụ chứ không phải nhà nước hành chính, không phải là nhà nước cai trị.
Bên cạnh đó, cần lưu ý điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội, tập quán kinh doanh, văn hoá kinh doanh, phong cách hành xử của Việt Nam với những khác biệt rất lớn so với các quốc gia có nền kinh tế thị trường hiện đại để đảm bảo thể chế kinh tế của nhà nước được vận hành một cách hài hoà và hiệu quả.

5. Hoàn thiện thể chế kinh tế của nhà nước trong mối quan hệ ràng buộc với các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết.

Hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế tất yếu đối với quốc gia trong giai đoạn hiện nay. Các thể chế kinh tế ở nước ta phải được xây dựng và vận hành theo hướng thúc đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại, hỗ trợ tốt cho việc chủ động và tích cực hội nhập kinh tế với các thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương mà Việt Nam đã cam kết thực hiện. Các thể chế này phải được xác định sao cho vừa đảm bảo các yêu cầu có tính nguyên tắc, vừa cho phép các bên tham gia hội nhập có khả năng phản ứng linh hoạt, mềm dẻo, phù hợp với thông lệ quốc tế trong các quan hệ hợp tác, liên kết kinh tế quốc tế và khu vực, trên cơ sở lấy phục vụ lợi ích đất nước làm mục tiêu cao nhất.
Các thể chế này phải trở thành nền tảng cho việc xác định quan điểm chiến lược và lộ trình tổng thể hội nhập kinh tế quốc tế đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020; cho phép kết hợp tốt quan hệ hợp tác phát triển đa phương và song phương; thúc đẩy hợp tác toàn diện có hiệu quả với các nước ASEAN; đóng góp tích cực cho sự phát triển bền vững và nâng cao vai trò quốc tế của Hiệp hội các nước Đông Nam á; coi trọng củng cố và mở rộng phát triển  các quan hệ hợp tác song phương tin cậy, nhất là quan hệ với các đối  tác chiến lược; và khai thác có hiệu quả các cơ hội và giảm thiểu tối đa những thách thức, khó khăn khi trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO).
Bên cạnh đó, các thể chế kinh tế này phải được xây dựng theo hướng cho phép phát huy tốt nhất vai trò của nhà nước và doanh nghiệp trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, tạo sự đồng thuận trong xã hội để vượt qua thách thức, chủ động và tích cực hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu. Cho phép kết hợp nội lực và ngoại lực, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới thành nguồn lực tổng hợp để công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển đất nước nhanh và bền vững. Hội nhập và hợp tác quốc tế dựa trên các nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau bình đẳng, cùng có lợi; giữ vững độc lập, bảo vệ và phát triển nền văn hoá dân tộc.
Trong hội nhập kinh tế quốc tế, lấy phục vụ lợi ích đất nước làm mục tiêu cao nhất và là nguyên tắc chủ đạo, đồng thời linh hoạt, mềm dẻo, phù hợp thông lệ quốc tế. Phát huy vai trò của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong hội nhập kinh tế quốc tế; khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam hợp tác liên doanh với các nước doanh nghiệp nước ngoài và đầu tư ra nước ngoài. Tận dụng điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế để chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế theo hướng phát huy lợi thế so sánh, đổi mới công nghệ và trình độ quản lý, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, sản phẩm và dịch vụ Việt Nam tại thị trường trong nước và trên giới.

6. Thể chế kinh tế của nhà nước phải thể hiện rõ hơn vai trò, chức năng của Nhà nước trong bối cảnh kinh tế mới, hướng đến mô hình nhà nước kiến tạo phát triển.

Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, nhà nước phải định hướng sự phát triển bằng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và cơ chế, chính sách trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc của thị trường phù hợp với yêu cầu xây dựng nền kinh tế quốc tế. Trên cơ sở hình thành đông bộ thể chế thị trường định hướng XHCN và sự hình thành, phát triển của các thị trường  cơ bản, đặc biệt là các thị trường yếu tố sản xuất (tài chính và tiền tệ, bất động sản, lao động, khoa học và công nghệ….), Nhà nước tạo môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi để phát huy các nguồn lực cho phát triển theo cơ chế thị trường; tạo điều kiện để các chủ thể hoạt động kinh doanh bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh, công khai và minh bạch, có trật tự, kỷ cương, các giao dịch thị trường diễn ra phù hợp với các nguyên tắc của kinh tế thị trường; hỗ trợ phát triển, chăm lo xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội quan trọng; bảo đảm tính ổn định và tích cực của các cân đối kinh tế vĩ mô, hạn chế các rủi ro và tác động tiêu cực của cơ chế thị trường. Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng hệ thống pháp luật; tác động thị trường chủ yếu thông qua cơ chế, chính sách và các công cụ kinh tế, sử dụng một số biện pháp để hỗ trợ thị trường trong nước khi cần thiết, không trái với các cam kết hội nhập.
Đối với nước ta hiện nay đang ở giai đoạn đầu của quá trình xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng XHCN thì xu hướng là Nhà nước thoát ly khỏi các hoạt động kinh doanh, nhưng vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước không hề giảm sút. Nhà nước không chỉ có trách nhiệm để cho và làm cho thị trường hoạt động hiệu quả, mà còn phải sử dụng kinh tế thị trường phục vụ cho mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.
Việc tạo môi trường cạnh tranh, khuyến khích phát triển doanh nghiệp theo nguyên tắc đồng hành cùng doanh nghiệp và người dân được xem là một trong những chức năng quan trọng nhất của nhà nước trong bối cảnh mới.
Nhà nước định hướng, tạo môi trường để phát triển có hiệu quả các doanh nghiệp theo cơ chế thị trường, hình thành một hệ thống doanh nghiệp Việt Nam nhiều vế số lượng, có sức cạnh tranh cao, có những thương hiệu uy tín, chủ lực.
Trước hết, thể chế kinh tế của nhà nước phải đảm bảo để mọi công dân và doanh nghiệp có quyền tự do và bình đẳng tham gia các hoạt động đầu tư kinh doanh , với quyền sở hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh là bất khả xâm phạm, được bảo đảm bằng pháp luật; Mọi công dân đều có quyền như nhau trong tiếp cận các cơ hội, nguồn lực, kể cả tiếp cận các nguồn thông tin thị trường.
Đặc biệt, những nỗ lực xây dựng và hoàn thiện khung thể chế theo hướng thị trường trong những năm tới phải sớm xóa bỏ sự phân biệt đối xử theo hình thức sở hữu; Chính phủ chỉ được phép có những có những ưu đãi hoặc hỗ trợ phát triển đối với một số vùng, ngành, lĩnh vực, sản phẩm, một số mục tiêu được xác định là thực sự lợi cho Quốc kế dân sinh (như xuất khẩu, tạo việclàm, xoá đói giảm nghèo, khắc phục những rủi ro bất khả kháng, một số địa bàn đặc biệt khó khăn, các doanh nghiệp vừa và nhỏ); sớm tiến tới một môi trường kinh doanh và đầu tư thống nhất, chung và bình đẳng cho mọi tác nhân tham gia thị trường cả về mặt pháp lý và trên thực tiễn.
Trong môi trường cạnh tranh quốc tế, các doanh nghiệp (hoặc các hộ nông dân) gặp nhiều khó khăn trong việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình, do vậy, Nhà nước phải thực hiện vai trò người bảo trợ. Trước mắt cần ưu tiên xây dựng văn bản pháp luật và các thiết chế cần thiết nhằm bảo vệ nền kinh tế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế như đối xử tối huệ quốc, đối xử quốc gia, các biện pháp tự vệ, chống bán phá giá, chống trợ cấp và các biện pháp đối kháng trong thương mại quốc tế. Nhà nước cần có những khuyến cáo và thông tin kịp thời đối với các doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lưọi cho các hiệp hội hoạt động. Vai trò này của Nhà nước còn thể hiện rõ nét hơn đối với nông nghiệp và nông dân. Cần tăng cường các biện pháp trợ cấp mang tính khuyến nông và phục vụ phát triển nông nghiệp được WTO cho phép như: cung cấp thông tin, hỗ trợ giống, vốn kỹ thuật sản xuất tiên tiến (thực hiện chuyển giao công nghệ trong sản xuất nông nghiệp), đào tạo nguồn nhân lực. Cần có những giải pháp hiệu quả hơn đối với bảo hiểm cho nông nghiệp và nông dân nhằm hỗ trợ nông dân cả về sản xuất lẫn đời sống, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp Việt Nam.

7. Thể chế kinh tế của nhà nước phải đảm bảo khả năng hạn chế tối đa hiệu ứng không tích cực do chu kỳ kinh tế gây nên.

Bài học kinh nghiệm của nhiều quốc gia và kể cả nước ta cho thấy, nếu như các thị trường bị bóp méo và không được vận hành đúng với bản chất quy luật của chúng, thì chính các thị trường này lại trở thành nguồn gốc và kênh dẫn ngòi nổ cho sự bất ổn định, dẫn đến các cuộc suy thoái kinh tế.
Sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế thị trường nhất thiết phải tuân theo nguyên tắc thị trường, tôn trọng quy luật thị trường. Bản chất của nguyên tắc thị trường là quan hệ trao đổi ngang giá; quan hệ chi phí- lợi ích: mọi quyết định được quyết định dựa trên những tính toán lợi ích ròng thu được so với chi phí cơ hội trên cơ sở trao đổi ngang giá.
Thị trường Việt Nam phải có cơ chế và môi trường liên thông với thị trường thế giới. Thể chế kinh tế của nhà nước phải đảm bảo khả năng phản ứng nhanh với sự thay đổi cung cầu và giá cả quốc tế. Hạn chế tình trạng như vừa qua, giá dầu thế giới tăng cao thì ta lại kìm giá trong nước lại, đến khi không chịu đựng nổi thì cái lò xo nó bật ra, giá cả tăng vọt đến 30% (từ 14,5 nghìn đồng lít lên 19 nghìn đồng lít xăng A92), rồi khi giá cả thế giới giảm nhanh thì ta phải giảm nhỏ giọt để bù lỗ. Những biến động đó thường lại là những dấu hiệu bắt đầu cho một chu kỳ kinh tế mới. Chúng ta phải chấp nhận nó như một tất yếu khách quan của nền kinh tế thị trường nhưng đồng thời cũng phải tìm kiếm các biện pháp để hạn chế các tác động tiêu cực.
Trên thực tế, để tránh nguy cơ tụt hậu ngày càng xa, các nước đang phát triển bị cuốn hút vào vòng xoáy của cơn lốc tăng trưởng nhanh với hy vọng cải thiện mức sống dân cư, làm cho bộ mặt nền kinh tế nhanh khởi sắc. Chúng ta thường quan tâm đến việc đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm sau cao hơn năm trước để rồi gồng mình lên, bằng mọi giá thực hiện cho được mục tiêu này. Nhiều nước, đã tạo được sự thần kỳ tăng trưởng trong hàng chục năm liền nhưng sau đó rơi vào thảm họa trì trệ, suy thoái kéo dài, điều đó có nghĩa là trong ngắn hạn và kể cả trung hạn tốc độ tăng trưởng có thể đạt được rất cao nhưng vãn có thể thua trong cuộc đua tranh phát triển dài hạn. Cần phải có cái nhìn dài hạn trong tăng trưởng, quan điểm này đặt ra cho các nhà hoạch định chính sách tăng trưởng hướng đến các chính sách để tạo ra, duy trì và củng cố các cơ sở tăng trưởng dài hạn như yếu tố vốn nhân lực, cơ sở hạ tầng kinh tế – kỹ thuật, một cấu trúc kinh tế hợp lý, cân đối, không dựa trên cơ sở vay mượn. Theo thông điệp này, có thể phải chấp nhận tạm thời trong một số năm trước mắt nền kinh tế không đạt được tốc độ tăng trưởng cao như kỳ vọng vì phải dốc sức vào việc tạo lập và củng cố cơ sở tăng trưởng dài hạn, nhưng suốt cả giai đoạn dài sau đó nó nhất định đạt được mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững.

8. Hoàn thiện thể chế kinh tế của nhà nước phảo đảm bảo tính công khai, minh bạch trong quá trình xây dựng và thực thi chính sách.

Tính đồng bộ trong hệ thống pháp luật, chính sách, cơ chế là một tiền đề đảm bảo tính hiệu lực và hiệu quả thi hành. Trong thời gian tới, việc xây dựng thể chế kinh tế không chỉ đảm bảo tính đồng bộ trong phạm vi hệ thống pháp lý, cơ chế chính sách ở Việt Nam mà còn phải đảm bảo cả tính tương thích với những quy chuẩn quốc tế, thúc đẩy nhanh hơn và hiệu quả hơn nữa trong quá trình chủ động hội nhập quốc tế.
Công khai và dân chủ là hai nhân tố tạo nên điều kiện để huy động trí tuệ và nguồn lực, kiểm chế những hiện tượng tiêu cực trong toàn xã hội. Quá trình hoàn thiện thể chế, nhất là quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật kinh tế cần đặc biệt lưu ý đến công việc công khai thông tin, dân chủ trong xây dựng pháp luật, hoạch định chính sách.

9. Hoàn thiện thể chế kinh tế của nhà nước phải đảm bảo hình thành các thiết chế góp phần thúc đẩy và kiểm soát tiến bộ và công bằng xã hội.

Quan điểm này muốn hướng tăng trưởng kinh tế tới các mục tiêu phát triển bền vững. Theo đó, vấn đề quan trọng không phải là bám đuổi mục tiêu tăng trưởng nhanh mà là duy trì một mục tiêu tăng trưởng hợp lý trong mối quan hệ răng buộc với những điều kiện về tài nguyên môi trường và các vấn đề xã hội. Một mặt, đối với vấn đề tài nguyên môi trường, tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với: bảo đảm sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên, nâng cao khả năng tái sinh tài nguyên; phòng chống ô nhiễm môi trường, có phương án xử lý ô nhiễm, kỹ thuật phòng chống và giải quyết hệ quả của ô nhiễm, có chính sách kinh tế phù hợp áp dụng cho các cơ sở kinh tế gây ô nhiễm, tực hiện sự tham gia công đồng trong vấn đề này; thực hiện quá trình đa dạng hóa sinh học hình thành những vùngvệ tinh tạo yếu tố môi trường thuận lợi cho những khu vực có ô nhiễm. Mặt khác, đối với vấn đề xã hội, quá trình tăng trưởng kinh tế phải được kiểm soát thường xuyên, chặt chẽ bởi các chỉ tiêu phát triển xã hội, trong đó trọng tâm là vấn đề xóa đói giảm nghèo, công bằng xã hội, giải quyết việc làm, chỉ tiêu liên quan đến sự phát triển toàn diện cho con người như giáo dục, y tế, thể dục thể thao, văn hóa nghệ thuật, cá chỉ số giới và dân tộc v.v….Chính việc bảo đảm các chỉ tiêu xã hội và môi trường sẽ là yếu tố tích cực củng cố, duy trì khả năng tăng trưởng kinh tế trong dài hạn.
Các mục tiêu kinh tế, các mục tiêu xã hội, mục tiêu bảo vệ môi trường phải được kết hợp chặt chẽ trên bình diện cả nước cũng như ơ từng lĩnh vực, địa phương. Thể chế kinh tế của Nhà nước phải đảm bảo rằng xóa đói giảm nghèo được đẩy mạnh; phải khuyến khích, tạo điều kiện để mọi người dân làm giàu chính đáng, đồng thời giúp đỡ người khác thoát nghèo, từng bước khá giả hơn; cho phép thực hiện chính sách ưu đãi xã hội đối với những người có công với nước; thực hiện các chính sách xã hội bải đảm an toàn cuộc sống cho mọi thành viên trong cộng đồng, hỗ trợ những vùng bị thiên tai, những người gặp khó khăn cơ nhỡ. Thể chế kinh tế của Nhà nước cần được hoàn thiện sao cho càng đi vào kinh tế thị trường, phúc lợi xã hội càng được hoàn thiện sao cho càng đi vào kinh tế thị trường, phúc lợi xã hội càng được chăm lo tốt hơn, mục tiêu giải quyết việc làm, phát triển giáo dục, văn hoá, chăm sóc sức khỏe nhân dân càng được đề cao hơn; các nguồn lực đầu tư cho lĩnh vực xã hội được phát huy, thực hiện yêu cầu gắn kết hài hòa giữa kinh tế và xã hội.
Thể chế kinh tế của Nhà nước phải hướng vào việc phát triển văn hóa gắn kết chặt chẽ và đồng bộ với sự phát triển kinh tế xã hội. Sao cho, sự phát triển nhanh của kinh tế là yếu tố hỗ trợ cho phát triển nền văn hóa tiên tiến, dân tộc, để nền văn hóa này thật sự trở thành nền tảng của sự phát triển xã hội. Không ngừng xây dựng và hoàn thiện giá trị của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế; bồi dưỡng các giá trị văn hoá trong thanh niên, đặc biệt là lý tưởng sống, năng lực trí tuệ, đạo đức cao đẹp và bản lĩnh văn hóa con người Việt Nam.
Nhiệm vụ bảo vệ môi trường phải được nghiên túc đặt trong khi hình thành và thực thi thể chế kinh tế; nhất là hiện nay, khi  đất nước đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Những chương trình phát triển kinh tế được thiết kế và thực hiện theo hướng dẫn thân thiện với môi trường; phải đựơc bổ sung bằng các giải pháp đồng bộ nhằm ngăn ngừa và xử lý ô nhiễm môi trường; khuyến khích áp dụng các ”Công nghệ sản xuất sạch hơn”, ưu tiên phát triển  các ngành kinh tế  không gây ô nhiễm.

Tài liệu tham khảo sử dụng trong bài viết:

  1. Văn kiện ĐH Đảng toàn quốc lần thứ IX, X
  2. Cơ chế thị trường và vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế Việt Nam, Lương Xuân Quỳ (Chủ biên). NXB Thống kê, HN 1994
  3. Kinh tế thị trường định hướng XHCN – Lý luận và thực tiễn. NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2009
  4. Nghịch lý của chiến lược đuổi kịp – Tư duy lại mô hình phát triển kinh tế dựa vào Nhà nước, LITAN, NXB Trẻ TPHCM, 2008 (Bản dịch).
  5. Quản lý Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, Lương Xuân Quỳ (chủ biên), NXB Lý luận chính trị, HN 2006

SOURCE: TẠP CHÍ KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN 148, THÁNG 10 NĂM 2009

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: