ĐẠI DƯƠNG VÀ LUẬT QUỐC TẾ HIỆN ĐẠI

LÊ VĂN BÍNH – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tóm tắt. Tìm hiểu đại dương và chế độ pháp  lý của nó  từ góc cạnh của Luật quốc  tế hiện đại  là cần thiết. Điều đó không chỉ vì đại dương chiếm gần 3/4 diện tích bề mặt trái đất, mà nó còn là sự sống, là hiểm hoạ đối với con người. Chúng tôi chọn “Đại dương và Luật quốc tế hiện đại” để trao đổi cùng người đọc. 

1. Đại dương và những thách thức mới (1)

Từ cuối  thế kỷ XX đến đầu  thế kỷ XXI  là giai  đoạn  của  các  thành  tựu  về  khoa  học  kỹ thuật, về toàn cầu hoá các quan hệ quốc tế và về nền  kinh  tế  tri  thức.  Thế  giới  đã  hình  thành “khoảng không gian chung” về thông tin – pháp  lý  và  về  kinh  tế  -  tài  chính,  trong  đó  có  cách  nhìn tiệm cận chung về đảm bảo các quyền của  con người, của các dân tộc và của các quốc gia.

Chính  trong  các  điều  kiện  đó,  an  ninh  cộng đồng quốc tế cũng phải đối mặt với những mạo hiểm  mới,  những  thách  thức  mới  và  những  hiểm  hoạ  mới.  Các  vấn  đề  đó  có  thể  là:  các xung đột trong phạm vi của quốc gia hoặc trong  nội  khối  của  các  tổ  chức  quốc  tế;  khủng  bố quốc  tế;  các  hoạt  động  tội  phạm  có  tổ  chức; nguy cơ phổ biến vũ khí giết người hàng  loạt;  khủng  hoảng  kinh  tế-tài  chính  toàn  cầu;  hiểm hoạ môi  trường;  buôn  bán ma  tuý;  và  dịch  tả  trên  quy mô  lớn.  Tất  cả  các  sự  kiện  nói  trên, trong một chừng mực nào đó có  liên quan đến  đại dương và Luật biển quốc tế.

Khó  đánh  giá  hết  tầm  quan  trọng  của  đại dương  và  vai  trò  của  nó đối  với đời  sống  con người. Vì đại dương  là ngôi nhà chung,  là cầu nối giữa các  lục địa và  giữa các nền văn minh của nhân  loại,  là  tuyến đường giao  thông  thuỷ đặc biệt quan trọng được tạo thành từ các vùng biển với các  chế độ pháp  lý khác nhau. Trong  đó phần  lớn  là biển cả, vùng biển không  thuộc chủ quyền  của bất  cứ một  quốc  gia  nào. Điều đó  được  thể  hiện  trong  nguyên  tắc  tự  do  biển cả: tự do thuỷ vận; tự do hàng không; tự do lắp đặt dây cáp, ống dẫn ngầm; tự do đánh cá; tự do  nghiên  cứu khoa học;  tự  do  xây  dựng  các đảo và  lắp đặt các công  trình nhân  tạo. Tự do biển  cả không có nghĩa  là  tự do một cách  tuyệt đi, mà  tự do phải phù hợp với định chế của Công ước  Liên  hợp  quốc  (LHQ)  về  Luật  biển  năm  1982  (sau  đây  gọi  là Công  ước  năm  1982)  và các quy phạm khác của Luật quốc tế [1].

Tự do  hợp tác trong khai thác và sử dụng biển cả một cách hợp lý, vì mỗi quốc gia  là một  thành viên của cộng đồng quốc tế nên quyền tự do biển cả  cần tính đến sự hài hoà về lợi ích giữa các quốc gia. Nguyên  tắc  tự do biển cả (Điều 87) là quy phạm  có  tính  chất  mệnh  lệnh  của  Luật  biển quốc  tế  nên  các  quốc  gia  không  thể  tự  thoả  thuận  với  nhau  để  thay  đổi  nó  [2].  Đây  là nguyên  tắc  vô  cùng  quan  trọng,  trực  tiếp  giải quyết một  vấn  đề  có  tính  toàn  cầu  đó  là  nhân  loại  cùng  nghiên  cứu  và  sử  dụng  đại  dương phục vụ lợi ích cộng đồng.  Trong  thế  giới  hiện  đại,  ngành  thuỷ  vận quốc  tế  đã  ngày một  trở  nên  quan  trọng  trong  hoạt động thông thương giữa các quốc gia, điều đó được khẳng định bằng tỷ trọng hàng hoá vận  chuyển bằng đường biển ngày càng tăng(2). Thế giới ngày càng đa cực, nhưng không vì  thế mà  hoà  bình và  an  ninh  quốc  tế  được  trường  tồn. Do  đó  các  vấn  đề  về đại  dương,  về  luật  pháp quốc tế và hẹp hơn là Luật biển quốc tế hiện đại  luôn được cộng đồng đặc biệt quan tâm.

Thuật ngữ “những thách thức mới và những hiểm hoạ mới” đã được  sử dụng  rộng rãi  trong cộng đồng quốc  tế. Trong đó,  thường người  ta đề  cập  đến  các  vấn đề:  về  đói  ngèo;  bệnh  tật; giảm dân  số;  lan chuyền  rộng chất ma  tuý;  rửa  tiền; bảo hiểm xã hội  thấp; vi phạm các quyền cơ  bản  của  con  người;  sự  nguy  hiểm  đối  với thảm  hoạ  hạt  nhân;  nội  chiến  và  các  xung đột  khu vực có nguy cơ tiềm ẩn trở thành phổ biến toàn cầu; và môi  trường sống ngày một xấu đi.  Khủng  bố  ngày  càng  nguy  hiểm  hơn  với  tiềm ẩn  sử dụng vũ khí giết người hàng  loạt và bên  cạnh đó là sung đột sắc tộc và tôn giáo sâu sắc.
Để giải quyết các vấn đề nói trên, theo sáng kiến của Tổng thư ký K. Anna, một Uỷ ban đặc biệt về các vấn đề toàn cầu: “những thách thức  mới và những hiểm hoạ mới” đã được thành lập và đã nhận được hiến kế của Tổng  thống Nga,  V.V… Putin. Hiến kế đó đã được cụ  thể bằng một dự thảo về định hướng nhằm tiếp tục nâng cao hiệu quả hoạt động của LHQ trong việc bảo vệ lợi ích chung của cộng đồng quốc tế(3).  Các  vấn  đề  “những  thách  thức  mới  và những hiểm hoạ mới” đã được Nhóm “Thế giới
ngày  càng  bình  yên:  trách  nhiệm  to  lớn  của chúng  ta” báo cáo  tại cuộc họp  lần  thứ 59 Đại hội  đồng Liên  hợp  quốc  (LHQ)  (2004)  với  cơ cấu  gồm  6  chương:  1).  Chiến  tranh  giữa  các quốc  gia;  2). Xung  đột  trong  nội  bộ  các  quốc gia, bao gồm cả nội chiến xẩy  ra  trên phạm vị lớn,  vi  phạm  các  quyền  của  con  người  và  sự diệt  chủng;  3).  Đói  ngèo,  bệnh  truyền  nhiễm, bệnh  tật,  sự  xuống  cấp  ngày  càng  trầm  trọng của môi trường; 4). Vũ khí hạt nhân, phóng xạ, vũ  khí  sinh-hoá  học;  5).  Khủng  bố;  6). Tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia.
Các  sự kiện  liên quan đến đại dương  trong những  năm  gần  đây  đã  phần  nào minh  chứng thêm  cho  báo  cáo  trên,  đó  là  nguy  cơ  đe  dọa ngành  thuỷ  vận  và  cuộc  sống  của  con  người trên biển: những  tên khủng bố Chechen chiếm phà  của Thổ Nhĩ Kỳ  “Avrasia”  năm  1996;  vụ khủng bố nổ tàu khu trục Mỹ “Coul” năm 2000; vụ  tàu chở dầu của Pháp “Limbua” năm 2002; các vụ cướp biển của hải  tặc Somalia  (như vụ bắt giữ  tàu chở vũ khí MV Faina của Ucraine; và  tàu  chở  dầu  siêu  lớn  Sirius  Star  của  Saudi Arabia)  trong  thời gian gần đây  (2008) ở vùng vịnh Aden đã vượt  ra ngoài  tầm kiểm  soát của khu vực. Các sự kiện đó đòi hỏi phải có sự nhập cuộc của LHQ, mặc dù Hội đồng Bảo an LHQ đã  thông  qua  4 Nghị  quyết  cho phép  tấn  công hải tặc(4). Trên thực tế NATO, Mỹ, Trung Quốc và các quốc gia Châu Âu đã  trực  tiếp  tham gia chống  cướp  biển  tại  khu  vực  này(5). Như  vậy, khủng bố nhằm vào các tuyến đường giao thông thuỷ,  vào  các  tàu  và  các  hải  cảng  có  thể  là nguyên nhân  làm bất ổn về  tình hình chính  trị và  làm  tê  liệt  nền  kinh  tế  thế  giới,  vì  vận  tải biển ngày càng phát triển theo hướng tự do hoá (kể  cả  vận  tải  trong  khuôn  khổ WTO/GATS) như là một ngành công nghiệp thúc đẩy sự tăng trưởng thương mại toàn cầu.
Cộng  đồng  quốc  tế  đã  thông  qua  các  biện pháp cứng rắn nhằm đối phó với khủng bố quốc tế  và  chấm  dứt  việc  chuyên  chở  bằng  đường biển  các  loại  vũ  khí  giết  người  hàng  loạt, ma tuý và các loại hàng cấm khác. Dưới sự bảo trợ của Tổ  chức  biển  quốc  tế  và  trên  cơ  sở Công ước về đấu tranh với các hành vi chống an ninh hàng hải quốc  tế, bước đầu cộng đồng quốc  tế đã  thông qua Nghị định  thư bổ  sung cho Công ước này vào năm 2005 và Nghị định thư về đấu tranh với  các  hành vi  chống  an ninh  các  công trình ở thềm lục địa năm 1988. Chúng  ta  biết  rằng,  đại  dương với  các  chế độ pháp lý khác nhau có thể được sử dụng để đề phòng  các  cú  (học  thuyết)  đánh  phủ  đầu  (the legal  doctrine  of  preemptive  strikes). Mặc  dù, điều  51(6)  Hiến  chương  LHQ  đã  ghi  nhận  về quyền  tự  vệ  của  các  quốc  gia,  nhưng  thế  giới đã, đang và còn tiếp tục phân tích về điều 51 và Điều 51 Hiến  chương  LHQ quy định  “Không  có một điều, khoản nào  trong Hiến  chương  này  làm  tổn hại đến quyền  tự  vệ  chính  đáng  của  cá  nhân  hay  tập  thể  trong trường hợp thành viên LHQ bị tấn công vũ  trang cho đến khi HĐBA chưa áp dụng những biện pháp cần thiết để duy trì hoà bình và an ninh quốc tế. Những biện pháp mà các
thành viên LHQ  áp dụng  trong  việc bảo vệ quyền  tự  vệ chính đáng  ấy phải được báo ngay  cho HĐBA và  không được làm ảnh hưởng gì đến quyền hạn và trách nhiệm của HĐBA.  Chiếu  theo  Hiến  chương  này,  bất  kỳ  lúc  nào HĐBA áp dụng những hành động mà Hội đồng thấy cần thiết để duy trì hoặc khôi phục hoà bình và an ninh quốc tế”.

Việc áp dụng nó như thế nào trong từng sự kiện quốc tế cụ thể. Ngoài ra, là vai trò và các quyết định của Hội đồng Bảo an LHQ cũng như các vấn đề khác liên quan đến đánh phủ đầu. Chính vì  vai  trò và  trọng  trách  của Hội  đồng Bảo  an đối với hoà bình và an ninh quốc  tế, cũng như nhiều sự kiện quốc tế đã diễn ra trong thời gian qua nên cộng đồng quốc tế đã đặt ra những vấn đề cấp thiết như: cần cải tổ Hội đồng Bảo an, về các  tiêu  chí  phòng  ngừa  sử  dụng  vũ  lực,  điều kiện  cụ  thể  cho  cuộc  tấn  công  tất  yếu  xẩy  ra. Tất cả điều đó đều có quan hệ trực tiếp với các hành vi trên biển.

2. Pháp điển hoá Luật biển quốc tế(7)

Đại dương và quy chế pháp  lý của nó  luôn được  các  tổ  chức  liên  chính  phủ và  phi  chính phủ  đặc  biệt  chú  ý.  Chẳng  hạn  như,  quy  chế pháp  lý  của vùng  nước  nội  thuỷ  và vùng  lãnh hải do Viện Luật quốc tế, hiệp hội Luật quốc tế (châu Mỹ, Ý, Nam Tư, các hiệp hội Luật biển) và  các  tổ  chức  quốc  tế  thực  hiện.  Năm  1930,  Hội  quốc  liên  đã  tổ  chức Hội  nghị  quốc  tế  về  pháp điển hoá Luật quốc  tế, nhưng kết quả đạt được không nhiều, chỉ công nhận quốc gia ven biển có lãnh hải riêng với ít nhất là 3 hải lý và một vùng tiếp giáp. Do vậy, trong một thời gian  dài, chiều rộng lãnh hải mà các quốc gia tự xác định rất khác nhau. Ví dụ, từ thế kỷ 18 đến giữa  thế kỷ 20, lãnh hải của Anh, Mỹ, Pháp và nhiều quốc gia khác có chiều rộng là 3 hải  lý, Na Uy  là 4 hải  lý, Tây Ban Nha  là  6 hải  lý, các nước châu Mỹ-La-Tinh như Pêru, Chilê, Ecuador đã mở rộng lãnh hải của mình đến 200 hải lý(8).  Từ khi  thành  lập, LHQ  luôn chú  trọng đến xây dựng Luật biển quốc tế, do đó đã thực hiện  được những bước đi quan trọng và cụ thể. Đó là 3  lần  tổ chức hội nghị quốc  tế về biển vào các  năm  1958,  năm  1960  và  1973-1982.  Tại  hội nghị  quốc  tế  về  Luật  biển  được  tổ  chức  ở (7)  Tìm  đọc:  S.V. Molsov,  Lịch  sử  biển  quốc  tế  và  việc
pháp điển hoá.
Giơnevơ  năm  1958,  lần  đầu  tiên một  hội  nghị quốc  tế  được  tổ  chức  với  quy mô mở  và  bàn luận về chế độ pháp lý quốc tế của đại dương và chi tiết hoá việc sử dụng các vùng biển của đại dương. Hội nghị đã nghiên cứu các dự thảo quy  chế  về  biển mà Uỷ  ban LHQ  về Luật  biển  đã chuẩn bị. Trên cơ sở đó Hội nghị đã  thông qua  được 4 Công ước điều chỉnh chế độ pháp lý các vùng  biển  và  việc  đánh  bắt  cá  ở  thế  giới  đại dương:  1). Công  ước về  lãnh  hải và  vùng  tiếp  giáp;  2). Công  ước  về  thềm  lục  địa;  3). Công ước  về  biển  quốc  tế;  và  4). Công  ước về đánh  bắt cá và bảo vệ nguồn tài nguyên sinh vật ở biển cả. Nhưng đó là một kết quả còn khá khiêm tốn vì đại dương đang còn rất nhiều vấn đề cấp thiết mà  Hội nghị lần này còn chưa đồng thuận.
Về  bản  chất,  Hội  nghị  đã  pháp  điển  hoá phần  lớn  các  quy  phạm  luật biển  quốc  tế  hiện đại, lựa chọn các quy phạm dưới dạng tập quán  pháp  quốc  tế  và  các  quy  phạm  điều  ước  điều chỉnh các quan hệ về chế độ pháp  lý các vùng  biển và các hoạt động khác nhau ở thế giới đại dương. Trong phần giới thiệu của Công ước về  biển cả đã nhấn mạnh  rằng nội dung của Công ước  có  tính  chất  như  Tuyên  bố  chung  về  các nguyên  tắc  của Luật  quốc  tế, điều  đó  cũng  có  nghĩa  là  nội  dung Công  ước  đã  phản  ảnh bản chất  luật  tập quán chung. Công ước về biển cả đã  đóng  vai  trò  vô  cùng  quan  trọng  trong  cái nhìn  tổng quát của cộng đồng về biển cả, cũng như  lấy  kết  quả  làm  cơ  sở  để  phát  triển  Luật  biển quốc tế(9).
Có  thể nhận  thấy  rằng, việc  thông  qua  các Công ước Giơnevơ đã khẳng định Luật quốc tế đã bước  sang một giai đoạn phát  triển  tiến bộ, vì: Một là, trong Công ước về thềm lục địa, lần đầu tiên trong lịch sử pháp lý có các quy phạm phối  hợp  ở  tầm  quốc  tế  về đặc  quyền  của  các quốc  gia  ven  biển  trong  quản  lý  nguồn  tài nguyên  ở  thềm  lục  địa  và  về  giới  hạn  chiều rộng  của  nó. Mặc  dù  trong  giai  đoạn  sau  đó, cùng với  sự phát  triển  tiến bộ của khoa học kỹ thuật  và  công  nghệ,  các  quốc  gia mong muốn thiết  lập  giới  hạn mới  về  chiều  rộng  của  thềm lục địa bằng các  tiêu chí mới  cho phù hợp với luật quốc tế hiện đại và với vị thế của từng quốc gia (cần nhấn mạnh rằng, cho đến nay có 2 điều  ước quốc tế cơ bản điều chỉnh quy chế thềm lục địa  là: Công  ước Giơnevơ  năm  1958  về  thềm  lục địa và Công ước năm 1982); Hai  là, Công ước  về  vùng  tiếp  giáp  cũng  là một  điểm  nhấn  mới trong luật quốc tế vì đây là lần đầu tiên các quy phạm về khái niệm và về quy chế pháp  lý vùng  tiếp  giáp  được  ghi  nhận  trên  cơ  sở một  điều ước quốc tế đa phương. Hội nghị quốc tế về Luật biển lần thứ hai đã được tổ chức vào năm 1960, các quốc gia tham dự  đã mất  nhiều  thời  gian  tranh  luận  về  chiều rộng lãnh hải và vùng đánh cá cho các quốc gia ven  biển,  nhưng  do  bất  đồng  quan  điểm  giữa  các quốc gia nên Hội nghị đã không đem lại kết quả, nhưng dù  sao đó cũng  là  tiền đề cho Hội
nghị lần sau. 
Do  sự đa dạng của hoạt động ở đại dương  và kết quả  tiến bộ của khoa học kỹ  thuật, năm 1970  Đại  hội  đồng  LHQ  đã  thông  qua  quyết  định triệu tập Hội nghị LHQ vào năm 1973 [3]. Thủ  tục Hội nghị LHQ về Luật biển  lần  thứ 3,  ngày  16/11/1973,  được  Đại  hội  đồng  LHQ thông qua bằng Thoả thuận bất thành văn-Hiệp  ước quân  tử  [4]. Thành công của Hội nghị  lần thứ 3 về Luật biển và việc chính thức thông qua  Công  ước  năm  1982  là một  sự  kiện  trọng  đại nhất  trong  quan hệ  quốc  tế  nói  chung  và Luật quốc tế hiện đại nói riêng. Hội nghị đã kéo dài  từ năm 1973-1982, một kết quả mà nếu tính về thời gian  thì chưa  từng có  tiền  lệ  trong  lịch  sử  của các hội nghị quốc tế.
Công  ước  năm  1982  là  điều  ước  quốc  tế tổng hợp,  là mốc  lịch  sử quan  trọng  trong  lĩnh vực pháp điển hoá vì  sự phát  triển  tiến bộ của  các quy phạm pháp luật quốc tế, đồng thời quy định cụ thể hoá hơn so với Công ước năm 1958.
Công ước năm 1982 đã quy định chế độ pháp lý  của đại dương và điều chỉnh các dạng hoạt động cơ  bản  về  sử  dụng,  nghiên  cứu,  khai  thác  và  chinh  phục  đại  dương  phục  vụ  cho  các  điều kiện phát  triển kinh  tế-xã hội hiện đại  [5]. Cần  nhấn mạnh  rằng,  lần  đầu  tiên  trong Công  ước năm  1982  có  những  quy  phạm  rất  đặc  biệt  (Điều  311)  điều  chỉnh  “thăng  bằng”  quyền  và  lợi  ích  giữa  các  quốc  gia  khác nhau:  các  quốc gia  hùng mạnh,  các  quốc  gia  công  nhiệp  phát  triển, các quốc gia đang phát triển, và các quốc gia ven biển [6].
Như  vậy,  Luật  biển  quốc  tế  đã  được  pháp  điển hoá  trong một  thời gian dài và có  thể  tóm tắt  làm  ba  giai  đoạn  chính:  giai  đoạn  1,  từ  những  năm  20  đến  trước  khi  thành  lập  LHQ; giai  đoạn  2,  là  từ  khi LHQ  bắt  đầu  hoạt  động  (1946) đến năm 1958; và giai đoạn 3, là từ giữa những năm 60 đến năm 1982(10).

3. Phân loại các vùng biển(11)

Theo Luật quốc tế hiện đại, đại dương được phân chia có điều kiện thành ba loại vùng biển với các tính chất pháp lý cơ bản khác nhau: 1). Loại  thứ nhất, các vùng biển  là một phần  lãnh  thổ  không  tách  rời  của  quốc  gia  ven  biển, mà  trong  đó  có  sự  hiện  diện  chủ quyền  của  quốc gia ven biển (như: vùng nội thuỷ được ghi nhận tại Điều 5 Công ước năm 1958 và khoản 1 Điều  8 Công ước năm 1982; vùng lãnh hải được ghi nhận tại Điều 12 Công ước năm 1982); 2). Loại  thứ hai, vùng biển không  là một phần  lãnh  thổ của  quốc  gia  ven  biển, nhưng  lại  thuộc quyền  tài phán của quốc gia đó  (vùng  tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và vùng thềm lục địa); và 3).
Loại  thứ  ba,  đó  là  vùng  biển không  thuộc  chủ  quyền  và  không  thuộc  quyền  tài  phán  của  bất kỳ  quốc  gia  nào  (đó  là biển  cả hay  còn  gọi  là  biển quốc tế).
Cần  nhấn mạnh  rằng,  chế  độ  pháp  lý  của các  vùng  biển  được  phân  chia  nói  trên  không giống  nhau.  Chẳng  hạn  như,  trong  vùng  lãnh  hải khác với vùng nội  thuỷ  là có  sự qua  lại vô hại  của  tàu  thuyền  nước  ngoài  (quyền  qua  lại  hoà bình  cần được  thực  hiện  phù  hợp  với quy định  tại Điều 17 Công ước năm  1982 và Điều
14 Công  ước  năm  1958. Quyền qua  lại  vô  hại  này  tương  tự  như  thương  quyền  về  tự  do  bay trên  lãnh  thổ ký  kết không kèm hạ  cánh  – hay  còn gọi là quyền qua lại vô hại trong luật hàng không dân dụng quốc tế). Trong vùng tiếp giáp  thì các quốc gia ven biển thực hiện quyền kiểm tra  các  hoạt  động  trên  biển  trong một  số  lĩnh  vực  nhất định  (Điều  33). Còn  vùng đặc quyền kinh  tế  và vùng  thềm  lục địa  thì  quốc  gia  ven biển được thực hiện quyền chủ quyền quốc gia  theo quy định  tại Điều 77 Công ước năm 1982 và khoản 1 Điều 26 Công ước năm 1958, ví dụ  trong vùng thềm lục địa thì quyền của quốc gia ven biển có tính đặc quyền, tức là các quốc gia  khác không có quyền thăm dò, khai thác nguồn tài nguyên ở thềm lục địa nếu quốc gia ven biển không cho phép. 
Như  vậy,  trong  Luật  quốc  tế  đã  xuất  hiện  quy  chế  pháp  lý  hỗn  hợp  đối  với  vùng  đặc quyền  kinh  tế  và  thềm  lục  địa,  vì  ở  đó  có  sự  hiện diện quyền chủ quyền quốc gia ven biển và các quy phạm của Luật biển quốc  tế được quy  định trong Công ước năm 1982. Tất nhiên, cùng với việc  thông qua phân  loại các vùng biển  thì
các vấn đề về eo biển, kênh, nước quần đảo, kể  cả  Bắc  cực  và  Nam  cực  cũng  vị  trí  đặc  biệt  quan trọng trong Công ước. 

Như  vậy,  phân  loại  pháp  lý  các  vùng  biển  kết  thúc  bằng  việc  thông  qua  Công  ước  năm 1982,  trong  đó  ghi nhận  cụ  thể  quyền  của  các  quốc gia đối với các vùng biển và quy chế pháp lý đối với từng vùng. Cộng đồng quốc tế đã đạt  được mục  đích  xây  dựng  được  văn  bản  thành văn về các hoạt động ở thế giới đại dương.

4. Công ước năm 1982(12) và ý nghĩa của nó đối với Việt Nam

Dưới  sự  bảo  trợ  của Tổng  thư ký LHQ  và sự  tham gia  trực  tiếp của Uỷ ban về đại dương và  Luật  biển  của  LHQ  (Division  for  Ocean  Affairs  and  the  Law  of  the  Sea)  nên  việc  áp dụng Công ước năm 1982 ở  các quốc gia  luôn nhận được  sự  tham vấn  từ  các  tổ chức chuyên môn. Nhưng, thực tiễn cho thấy Công ước năm  1982 còn thiếu các quy phạm dự báo về các yếu tố  pháp  lý  cấu  thành  tội  phạm  có  tính  chất khủng  bố  và  các  biện  pháp  đấu  tranh  chống  khủng bố. “Chỗ dột” này đã được bổ sung trong Công  ước  về đấu  tranh với  các  hành vi  chống  lại  an  ninh hải  vận  và  trong Nghị  định  thư  về đấu tranh với  các  hành vi  chống  an  ninh  cảng  tàu ở thềm lục địa năm 1988. Vì hoạt động của các quốc gia ở thế giới đại dương ngày càng đa dạng  và  phức  tạp,  theo  chúng  tôi,  cộng  đồng  quốc tế cần phải bổ sung và hoàn thiện các loại văn bản này(13) .  Cũng như nhiều quốc gia trên thế giới, năm
1994(14)  Việt  Nam  đã  gia  nhập Công  ước  năm  1982 và khẳng định chủ quyền đối với vùng nội thuỷ  và  vùng  lãnh  hải,  quyền  chủ  quyền  và  quyền tài phán đối với vùng tiếp giáp  lãnh hải, vùng  đặc  quyền  kinh  tế  và  thềm  lục  địa,  chủ  quyền  đối  với  hai  quần  đảo  Hoàng  Sa  và Trường Sa.
Việt  Nam  là  một  quốc  gia  ven  bờ  biển Đông, vùng biển của Việt Nam án ngữ trên các tuyến hàng hải và hàng không huyết mạnh giữa  Ấn Độ Dương  và Thái  Bình Dương,  giữa  các châu:  Âu,  Phi,  Trung  cận  Đông  với  Trung  Quốc,  Nhật  Bản  và  các  nước  trong  khu  vực. Biển Đông  cũng  là một  trong  6  biển  lớn  nhất của thế giới với diện tích 3.447.000km2 , là vùng  biển  nửa kín(15), được  bao  bọc bởi  9  quốc  gia: Trung Quốc, Việt Nam, Philippines, Malayxia,  Indonesia,  Brunei,  Campuchia,  Singapore  và Thailan. Đây  cũng  là  vùng  biển  có nhiều  tiềm năng về nguồn tài nguyên thiên nhiên nên đã từ lâu  là  đối  tượng  tranh  chấp không  chỉ  của  các quốc gia  trong khu vực ASEAN mà còn có  sự tham gia tích cực của một số quốc gia khác trên  thế giới, do đó  luôn  tiềm ẩn nguy cơ xung đột, đe doạ hoà bình, ổn định và phát triển bền vững trong khu vực  và  xa  hơn  là  trên  toàn  thế  giới.

Việc gia nhập Công ước năm 1982 đối với Việt  Nam  là  vô  cùng quan  trọng, vì mọi  vấn  đề  về tranh chấp biển, về vùng chồng lấn trên biển và  thềm  lục  địa  ở  biển  Đông  sẽ  được  giải  quyết trên cơ  sở Công ước năm 1982 và các văn bản  pháp  lý  quốc  tế  hiện  hành.  Trong  Nghị  quyết của Quốc hội Việt Nam ngày 23/6/1994 về phê  chuẩn  Công  ước  năm  1982  đã  ghi  nhận  mọi  tranh  chấp  sẽ  được  giải  quyết  trên  tinh  thần bình  đẳng,  hiểu  biết,  tôn  trọng  lẫn  nhau,  tôn  trong  luật  pháp  quốc  tế,  tôn  trọng  chủ  quyền, quyền chủ quyền, quyền  tài phán của các quốc
gia ven biển đối với vùng đặc quyền kinh tế và  thềm lục địa.

Cần nhấn mạnh rằng, vận  tải biển của Việt Nam chiếm  trên 80%  lưu  lượng hàng hoá xuất nhập khẩu, nên để nâng cao uy tín và vị thế của  Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế thì Việt Nam phải  tuân  thủ và  thực  thi các quy  phạm  Luật  quốc  tế,  các  quy  phạm  trong  các Công  ước  về Luật  biển. Trong  đó,  quan  trọng  nhất là Công ước năm 1982 và một số các Công ước  khác  về  bảo  vệ môi  trường  biển,  về  đảm bảo quyền  lợi cho các  tổ chức vận  tải và đánh  cá. Ngoài  ra, Việt  Nam  cần  tham  gia  vào  các điều ước, các công ước và các  thoả thuận quốc  tế mới.

Đại  hội  đồng  LHQ,  trong  các  nghị  quyết hàng  năm  của mình  về  đại  dương  và  về  Luật biển  đều kêu  gọi  các  quốc  gia  điều  chỉnh,  sửa  đổi  pháp  luật  của quốc  gia mình  cho phù hợp với định chế của Công ước năm 1982. Điều đó  đã  được  nhấn mạnh  trong  tuyên  bố  của  thẩm phán  Toà  án  biển  quốc  tế  về  thả  lập  tức  vụ “Juno Trader”(16). Chính  vì  vai  trò  đặc  biệt  quan  trọng  của Công  ước  năm  1982  đối  với  con  người  ở  đại dương,  nên  chúng  tôi  tạm mượn  câu  nói  của giáo  sư-chuyên  gia Luật  quốc  tế Duff  John  để thay  cho  lời  kết  của  bài  viết,  đó  là  chính  phủ Mỹ cần phải phê chuẩn Công ước năm 1982 vì Công ước này có  liên quan đến nhiều  lĩnh vực khác  nhau  như:  an  ninh  quốc  gia,  triển  vọng quốc  phòng, ngoại  giao,  thương mại  biển,  các định hướng nghiên cứu khoa học biển, các quan điểm về khả năng phân định thềm lục địa, triển vọng công nghệ, công nghiệp và vấn đề về bảo vệ môi trường [7].

Chú thích:

(1)  Tìm  đọc  thêm:  The  Law  of  the  Sea.  Progress  and Progress. Ed. by D. reestone, R. Barnes, D. Ong. Oxford  University  Press,  2006;  Churchill  R.R.,  Lowe A.V.  The  law of the sea. 3nd ed. Manchester University Press, 1999; Public  International  Law. An Australian Perspective. 2nd ed./Ed.  By  Sam  Blay,  Ryszard  Piotrowicz,  Martin Tsamenyi. Oxford University  Press,  2005;  Reuter  P.  Le  development de  l?ordre  Juridique  international.  Ecrits de droit  international.  Paris:  Economica,  1995;  Bolla  Alexander  J.,  Duff  Jonh  A.,  McDorman  Ted  L.  International  Ocean  Law:  Materials  and  Commentary.  Carolina Academic Press, 2004; The  law of  the  sea/ Ed. with  an  Introduction  by U.N. Gupta. Vol.II. New Delhi,   2005;  Evans  M.D.   International  Law.  2nd  ed.  Oxford  University  Press,  2006;  Cobalev A.A.  Luật  biển  quốc  tế hiện đại và việc áp dụng trong thực tiễn. M., 2003; Bicisev  C.A. Luật biển quốc tế//Giáo trình công pháp quốc tế. M., 2004;  Calotcin  A.L.  Luật  biển  quốc  tế//Giáo  trình  công pháp quốc tế. M., 2001; Gusuliac V.N. Luật biển quốc tế  (công pháp và tư pháp). M., 2006; Calotcin A.L., Gusuliac V.N. Luật biển quốc tế//Giáo trình Luật quốc tế. M., 2003; Covaleva  A.A.,  Checnichenco  S.V.  Luật  quốc  tế.  M.,  2006; Scaridov A.S. Luật biển. Xanh – Petebua., 2006.

(2) Tìm đọc: United Nations Conference on the Trade and evolopment,  Geneva.   Review  of    Martime  Transport 005, Report by the UNCTAD secretariat/UN. New York
and Geneva, 2005; Báo  cáo  tóm  tắt  của Ban  thư ký Liên ợp quốc về vận tải biển năm 2004 tại Hội nghị của Liên hợp quốc về thương mại và phát triển. Genever, 2004.

(3)  Tìm đọc: Izovetia, 2003. Ngày 03 tháng 12 năm 2003.

(4)  Đọc  thêm:  Báo Pháp  luật, Số 351  (1868), 23.12.2008,   Tr.16.

(5) http://vietbao.vn/index2.php?option=com_content&task=view&id=62247206&pop=1&p
(6)  Điều 51 Hiến  chương  LHQ quy định  “Không  có một  điều, khoản nào  trong Hiến  chương  này  làm  tổn hại đến quyền  tự  vệ  chính  đáng  của  cá  nhân  hay  tập  thể  trong trường hợp thành viên LHQ bị tấn công vũ  trang cho đến  khi HĐBA chưa áp dụng những biện pháp cần thiết để duy trì hoà bình và an ninh quốc tế. Những biện pháp mà các thành viên LHQ  áp dụng  trong  việc bảo vệ quyền  tự  vệ  chính đáng  ấy phải được báo ngay  cho HĐBA và  không được làm ảnh hưởng gì đến quyền hạn và trách nhiệm của HĐBA.  Chiếu  theo  Hiến  chương  này,  bất  kỳ  lúc  nào  HĐBA áp dụng những hành động mà Hội đồng thấy cần thiết để duy trì hoặc khôi phục hoà bình và an ninh quốc tế”.

(7)   Tìm  đọc:  S.V. Molsov,  Lịch  sử  biển  quốc  tế  và  việc  pháp điển hoá. M., 1987. Tr.67-68.

(8)  http//vi.wikipedia.org./ 

(9)  Xem cụ thể thêm: L.V. Scalova, Khái niệm và quy chế  pháp lý biển cả. M., 1988. -Tr. 11-14.

(10)  Nhiều nhà  khoa học  có các quan điểm phân  chia  các  giai  đoạn  khác  nhau. Ví  dụ,  theo  Calotcin  A.L.  thi  giai đoạn 1, là từ khi chuẩn bị và thông qua công ước về  luật  biển năm 1958; giai đoạn 2, từ sau công ước năm 1960; và  giai đoạn 3, là từ khi chuẩn bị công ước năm 1982 (Xem.: Calotcin A.L. M., 1972. Tr. 26-30). Hoặc là, theo Gusuliac  V.N.  cho  rằng,  trong  lịch  sử phát  triển  luật biển quốc  tế  hiện đại  có  thể  chia  thành hai giai đoạn, giai đoạn 1 gắn với sự thông qua công ước về luật biển năm 1958; và giai đoạn 2 là từ hội nghị quốc tế lần 3 về luật biển 1973-1982 (Xem.: Gusuliac V.N. Luật biển.  M., 2000. Tr.7) .

(11)  Tìm đọc thêm: Gureeva S.A. Giáo trình Luật biển quốc  tế. M., 2003; Colosova U.M và Cudonhesov V.I. Luật quốc tế.  M.,  1955.  -Tr.457-459;  Tuncin  G.I.  Luật  quốc  tế.  M., 1982.  -Tr.  413-415;  Basegov  U.G.  Đại  dương:  pháp  luật,  chiónh  trị  và  ngoại  giao. M.,  1983.  -Tr.  87-96;  Labrecque Georges.  Les  Frontieres  Maritimes  Internationales. Geopolitique  de  la  delimitation  en  mer.  Collection  Raoul-Dandurand.  France-Hongrie-Italie.  Paris,  2004;  Clingan  Thomas A. Maritime Boundary// The Law of the Sea. Ocean  Law  and  Policy.  New  York;  Oxford,  1994.  P.225-229; Elferink Alex G. Oude. The Law and Politics of the Maritime  Boundary  Delimitations  of  the  Russian  Federation.  Part  2//The  International  Journal  of   Marine  and  Coastal  Law.  1997. Vol.  12. No1.  P.5-35; Duff  John A. A Note on  the  United  States  and  the  Law of  the Sea:  Looking  Back  and  Moving  Forward//  Ocean  Dovolopment    and  International Law.  2004.  Vol.35.ạ3.  P.  195-219;  Rosenne  Shabtai.  Geography  in  International  Maritime  Boundary-Making// Law  of  the  Sea/  Ed.  by  Hugo  Caminos.  England,  2001.  P.225-240;  Kwiatkowska  Barbara.  Equitable  Maritime  Boundary Delimitation  – A  Legal  Perspective//  Law of  the Sea/ Ed. by Hugo Caminos. England, 2001. P.241-260.

(12)   Tìm  đọc  thêm:  Scott  Shirley  V.  Convention  as  a  Constitutional  Regime  for  the  Oceans//  Stability  and Change  in  the  Law  of  the  Sea:  The  Role  of    the  LOS Convention/  Ed.  By  Alex  G.  Oude  Elferink.  Leiden;  Boston,  2005.  P.9-38;  Treves  Tullio.  The  General Assembly  and  the  Meeting  of  States  Parties  in  the Implementation  of  the  LOS  Covention//Ibid.  P.55-74;  Churchill  R.R.  The  Impact  of  State  Practice  on  the Jurisdictional  Framework  contained  in  the  LOS
Covention//Ibid. P.9-144; Freestone David, Elferink Alex  G. Oude. Flexibility and Innovation  in the Law of the Sea – Will the LOS Convention Amendment Procedures Ever Be Used?//Ibid. P.169-222; Joyner Christopher C., Martell  Elizabeth. Looking Back to see Ahead: UNCLOS III and Lessons  for  Global  Commons   Law//International  Law.  Classic  and Contemporary Readings/Ed. by Charlotte Ku
and Paul F. Diehl.  London, 2003. P.441-469; Boyle Alan  E.    Further  development  of  the  Law  of  the  Sea Convention:  mechanisms  for  change//  International  and
Comparative  Law Quarterly.  2005. No54  (3). P.563-584;  Song  Yann-Huei.  Declarations  and  Statements  with respect  to  the  1982  UNCLOS:  potential  legal  disputes between the United States and China after U.S. accession  to the Convention// Ocean Development  and International Law. 2005. No36 (3). P. 261-289; Treves Tullio. The Law of  the Sea Convention. Ten Years  after Entry  into Force: Positive  Developments  and  Reasons  for  Concern// Bringing  New  Law  to  Ocean  Waters/Ed.  by  David  D. Caron, Harry N. Scheiber. Leiden; Boston. 2004, Vol.47.   P.349-354;  Calotcin  A.L.  Công  ước  Liên  hợp  quốc  về  Luật  biển:  Ý  nghĩa  và  các  quan  điểm  mới  trong  áp dụng//Luật quốc tế. 2001. số 4 (13). 

(13)  Hiện nay đã  có 13 Công ước quốc  tế  có định hướng chống khủng bố.

(14)  Đọc  thêm: Tuyên bố ngày 12/5/1977  của Chính phủ  Việt Nam về lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải, đặc quyền kinh tế và thềm  lục địa, Việt Nam  thiết  lập vùng đặc quyền kinh  tế là 200 hảI lý; Tuyên bố ngày 12/11/1982 của Chính phủ  Việt Nam về đường cơ sở.

(15)  Theo điều 122 Công ước năm  1982  thì biển kín hay  biển nửa kín là một vịnh, một vũng hay một vùng biển do hai hay nhiều quốc gia bao bọc xung quanh và thông với một biển khác hay với đại dương qua một cửa hẹp, hoặc là  hoàn toàn chủ yếu do các lãnh hải và các vùng đặc quyền kinh tế của nhiều quốc gia tạo thành.

(16)  Declaration of Judge Kolodkin. Case No13. The “Juno  Trader”  Case  (Saint  Vincent  and  the  Grenadines  v. Guinea-Bissau),  Prompt  Release.  Judgment  of  18 December 2004// www.itlos.org/start2_en.html

Tài liệu tham khảo

[1]  Lê Văn Bính, Tiệm cận các quy phạm Luật quốc tế, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Kinh tế-Luật 24 (2008) 93.
[2]  I.A.  Brounli,  Luật  quốc  tế,  Quyển  1, M.,  1977;  A.L. Calotcin, Đại dương, Chế độ pháp lý quốc tế,  Những vấn đề cơ bản, M., 1973.
[3]  U.G. Basegov, Đại dương: pháp luật, chính trị và  ngoại giao, M., 1983.
[4]  G.I. Cudieucov, Luật quốc tế, Phần chung, Cadan,  2007.
5]  D.D.  Larson,  Conventional,  Customary,  and  Consensual  Law  in  the  United  Nations  Convention  on  the  Law  of    the  Sea,  Ocean  Development and International Law 25 (1994) 83;  D.A. Govrilin, Những  vấn  đề  lý  luận  trong  thực
hiện  Công  ước  Luật  biển  1982  trong  hệ  thống  pháp luật Nga, Tạp chí Luật Quốc tế 4 (2001) 179.

[6]  A.L. Calotcin, Công  ước Liên  hợp  quốc  về Luật biển:  Ý  nghĩa  và  các  quan  điểm  mới  trong  áp dụng, Tạp chí Luật quốc tế 4 (2001) 383.
[7]  A. Duff John, A Note on the United States and the Law  of  the  Sea:  Looking  Back  and  Moving Forwrad,  Ocean  Development  and  International Law 35 (2004) 195. 
Guinea-Bissau),  Prompt  Release.  Judgment  of  18  December 2004// www.itlos.org/start2_en.html

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI, LUẬT HỌC 25 (2009), TR 33- 40

Advertisements

One Response

  1. có thể đọc thêm Sách chuyên khảo “luật điều ước quốc tế”. NXB ĐHQGHN, 2010 của Lê Văn Bính – chủ biên

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: