Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

QUẢN TRỊ TẬP ĐOÀN KINH TẾ – NHỮNG THÁCH THỨC LỚN

LG. VŨ XUÂN TIỀN – Tổng giám đốc Cty CP Tư vấn quản lý và đào tạo VFAM Việt Nam

Tập đoàn kinh tế (TĐKT) không có tư cách pháp nhân, không phải một doanh nghiệp. Vì vậy, đặt vấn đề quản trị TĐKT dường như là vô nghĩa. Song, xét cả về lý thuyết và thực tiễn, vấn đề không đơn giản như vậy. TĐKT hình thành, tồn tại và phát triển được là nhờ những liên kết giữa các doanh nghiệp độc lập với nhau. Do đó, quản trị TĐKT chính là quản trị những liên kết đó. Vậy, quản trị TĐKT có những đặc thù gì? Và từ những đặc thù đó, có những thách thức gì? Cần giải quyết những vấn đề gì để nâng cao năng lực quản trị trong các TĐKT ở nước ta hiện nay?

Đặc trưng của quản trị các TĐKT

“Tập đoàn kinh tế là một tổ hợp gồm nhiều doanh nghiệp có tư cách pháp nhân độc lập, hoạt động trong một ngành hay những ngành khác nhau, trong phạm vi một nước hay nhiều nước, tự nguyện liên kết với nhau theo những nguyên tắc và phương thức nhất định, nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường và tối đa hoá lợi nhuận trong kinh doanh”. Đó là một trong những khái niệm về TĐKT. Khái niệm trên cho thấy, đặc điểm quan trọng nhất của TĐKT là không có tư cách pháp nhân. Trong khi đó, theo Luật Dân sự,  một doanh nghiệp, một công ty độc lập có tư cách pháp nhân lại có và buộc phải có đầy đủ bốn điều kiện: Được thành lập hợp pháp; Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; Có tài sản độc lập với các cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; Nhân danh mình trong các quan hệ pháp luật một cách độc lập.
Vì vậy, quản trị một công ty – một pháp nhân, tức là quản trị một “tổ chức chặt chẽ”. Hơn nữa, chính việc hình thành một cơ cấu tổ chức chặt chẽ lại trở thành một trong những biện pháp quan trọng để quản trị pháp nhân đó. Ngược lại, TĐKT thiếu cả bốn điều kiện của một pháp nhân và nhân tố quan trọng nhất của một TĐKT là “tự nguyện liên kết với nhau theo những nguyên tắc và phương thức nhất định”. Dó đó, quản trị TĐKT hoàn toàn khác với quản trị một công ty. Đối tượng của quản trị TĐKT không phải là một tổ chức được thành lập theo những quy định chặt chẽ của pháp luật; không phải là những quan hệ ngang, dọc, trên, dưới trong một bộ máy tổ chức; không phải là một số vốn đầu tư của TĐKT và cũng không phải những quan hệ pháp luật của nó với các TĐKT khác. Quản trị TĐKT là quản trị các mối quan hệ liên kết tự nguyện giữa các pháp nhân độc lập. Vì vậy, đối tượng của quản trị TĐKT là một “tập hợp mờ” trong quản lý. Đó là đặc trưng cơ bản và quan trọng nhất của việc quản trị TĐKT.

Những thách thức lớn trong quản trị TĐKT

Từ đặc trưng cơ bản trên, quản trị TĐKT đã gặp những khó khăn, thách thức vô cùng lớn.

Trước hết, Chủ thể của việc quản trị TĐKT không được khẳng định rõ ràng về mặt pháp luật.

Thông thường, trong các TĐKT có một công ty đầu tư vốn vào các công ty khác với tỷ lệ chi phối và trở thành công ty mẹ. Công ty mẹ có tư cách là chủ sở hữu vốn đối với các công ty con. Song, nếu để thực hiện quyền của chủ sở hữu vốn, công ty mẹ ban hành một văn bản yêu cầu các công ty con phải thực hiện những quy định nhằm ngăn chặn nguy cơ bị thất thoát vốn thì văn bản đó rất dễ bị cho là trái quy định của pháp luật vì các công ty con là những pháp nhân độc lập. Sự thừa nhận của công ty con đối với sự chỉ đạo (hay chính xác hơn là sự quản lý) như vậy của công ty mẹ hoàn toàn là tự nguyện. Vì vậy, không có gì khó hiểu khi hiện nay, một số công ty mẹ trong một vài TĐKT thuộc khu vực ngoài quốc doanh đã đưa cụm từ “Tập đoàn” vào thành một bộ phận trong tên gọi của mình như “Công ty cổ phần Tập đoàn…”… Tên gọi đó ngoài mục đích quảng bá  còn có ý nghĩa khẳng định vị trí chủ thể quản trị trong tập đoàn.

Thứ hai, Quyền của chủ sở hữu – công ty mẹ trong tập đoàn -  rất hạn chế và không rõ ràng.

Khoản 1 Điều 147 Luật Doanh nghiệp quy định: “Tuỳ thuộc vào loại hình pháp lý của công ty con, công ty mẹ thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình với tư cách là thành viên, chủ sở hữu hoặc cổ đông trong quan hệ với công ty con theo quy định tương ứng của Luật này và pháp luật có liên quan”.Quy định nêu trên có nghĩa là, công ty mẹ không được thường xuyên kiểm tra, giám sát các hoạt động của công ty con mà chỉ được thực hiện các quyền đó trong các cuộc họp hội đồng thành viên đối với Công ty TNHH; Hội đồng quản trị và Đại hội đồng cổ đông đối với công ty cổ phần. Đó là điều không hợp lý. Bởi lẽ, việc quản lý vốn đầu tư của chủ sở hữu phải thực hiện theo nguyên tắc thường xuyên, liên tục nhằm ngăn ngừa tình trạng thất thoát vốn từ các công ty con. Nếu chỉ kiểm tra, giám sát theo định kỳ các cuộc họp thì công ty mẹ không bao giờ quản lý chặt được số vốn của mình đã đầu tư vào công ty con. Tỷ lệ vốn công ty mẹ đầu tư vào công ty con càng lớn thì sự vô lý này càng nghiêm trọng hơn. Vì vậy, không ít công ty mẹ trong TĐKT đã phải thực hiện những biện pháp cứng rắn khác, dù không đúng quy định của pháp luật.

Thứ ba, khó áp dụng một cơ chế, biện pháp thống nhất để quản trị TĐKT.

Quản trị TĐKT chính là quản trị các quan hệ trong sự liên kết tự nguyện. Song, sự liên kết trong TĐKT lại theo “những nguyên tắc và phương thức nhất định”, tức nó không giống nhau giữa các TĐKT và cũng không giống nhau trong sự liên kết giữa công ty mẹ với các công ty con khác trong cùng một TĐKT. Chẳng hạn, trong một TĐKT, sự kiểm soát, chi phối của công ty mẹ với công ty con này thông qua vốn đầu tư nhưng lại kiểm soát ,chi phối công ty con khác thông qua công nghệ sản xuất và kiểm soát, chi phối  công ty con khác nữa thông qua thị trường tiêu thụ… Như vậy, cơ chế, biện pháp cần thiết để công ty mẹ thực hiện quyền của chủ sở hữu với những công ty con trong những liên kết khác nhau rất khác nhau.

Thứ tư,  Không thể thực hiện những mệnh lệnh hành chính trong quản trị TĐKT.

Nếu những văn bản, mệnh lệnh hành chính như quyết định bổ nhiệm, cách chức, khen thưởng, kỷ luật, thông báo, lệnh điều động, v.v… được coi là công cụ đặc biệt quan trọng trong quản trị các công ty, tổng công ty, thì với quản trị TĐKT, những văn bản hành chính đó, về nguyên tắc là không thể thực hiện. Lý do cơ bản là, theo quy định của pháp luật, không ai có thể nhên danh tập đoàn để ban hành những mệnh lệnh hành chính ấy; cöng ty mẹ là một pháp nhân độc lập cũng không thể ra lệnh cho những pháp nhân độc lập khác trong tập đoàn.

Thứ năm, Quản trị TĐKT đòi hỏi người chủ sở hữu – chủ của công ty mẹ – phải có năng lực quản lý ở trình độ cao.

Khác với những công ty, tổng công ty độc lập, TĐKT thường có quy mô lớn, đa sở hữu, đa ngành nghề và hoạt động trong phạm vi rộng. Hơn nữa, sự liên kết giữa các công ty trong tập đoàn cũng rất phong phú. Vì vậy, người có vai trò chủ sở hữu – đại diện cho công ty mẹ phải có năng lực quản lý ở trình độ cao và toàn diện. Một sự khiếm khuyết dù nhỏ ở vị trí này cũng có thể dẫn tới những hậu quả lớn trong toàn tập đoàn. Hơn nữa, theo quy định của pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế, khó khăn lớn nhất trong quản trị TĐKT là quản trị tài chính. Những quan hệ đan xen nhau về tài chính, yêu cầu một hệ thống các báo cáo tài chính đồng bộ và các báo cáo tài chính hợp nhất luôn là vấn đề khó khăn lớn ở mọi TĐKT.

Về quản trị TĐKT ở  Việt Nam

Ở nước ta, trong mấy năm gần đây, hình thành các TĐKT dường như đã trở thành một phong trào. Đi tiên phong trong “phong trào” này là việc chuyển từ các tổng công ty nhà nước thành TĐKT. Chỉ trong thời gian ngắn, 8 tập đoàn kinh tế nhà nước đã hình thành, cùng với 96 tổng công ty, công ty lớn của Nhà nước sở hữu gần 400.000 tỷ đồng, chiếm hầu hết vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước. Các tổng công ty, tập đoàn kinh tế nhà nước đang nắm khoảng 75% tài sản cố định quốc gia, khoảng 60% tổng lượng tín dụng ngân hàng trong nước, vốn vay nước ngoài và phần lớn nguồn nhân lực được đào tạo có chất lượng.
Mục tiêu của việc cho ra đời những TĐKT ấy là để tạo ra “những quả đấm thép”, đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Mục tiêu tốt đẹp ấy có thực hiện được hay không, xin hãy chờ câu trả lời của ngày mai. Song, đến nay những lúng túng trong quản trị các TĐKT do Nhà nước là chủ sở hữu vốn (còn gọi là TĐKT nhà nước) đã bộc lộ và ngày càng gay gắt. Những thách thức lớn trong quản trị một TĐKT như đã trình bày ở phân trên đã là hiện hữu trong các TĐKT Nhà nước . Nếu để các TĐKT Nhà nước hình thành và hoạt động theo đúng quy luật vốn có của nó, tức là bằng những liên kết tự nguyện và do đó, đối tượng của quản trị là một “tập hợp mờ” thì tình trạng thất thoát vốn nhà nước, đầu tư tràn lan, hiệu quả sử dụng vốn thấp… là điều khó tránh khỏi. Vì lý do này, để khắc phục sự lúng túng trong quản trị TĐKT, không ít trường hợp TĐKT đã bị “biến dạng”, đã bị “hành chính hóa” bằng  cách cho TĐKT một pháp nhân và có quyền lực hành chính bao trùm các công ty trong tập đoàn. Điều đó, về bản chất là sử dụng cơ chế, biện pháp trong quản lý các công ty, tổng công ty đối với TĐKT, đó là tình trạng “hồn Trương Ba, da hàng thịt” trong quản lý kinh tế. Làm gì và làm thế nào để quản trị các TĐKT mà không làm “biến dạng” nó, không quay trở lại phương thức cổ truyền là hình thành một “cơ quan chủ quản”? Đó là câu hỏi đến nay các cơ quan quản lý nhà nước vẫn đang loay hoay chưa tìm ra lời đáp.

Trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, đến nay đã xuất hiện khá nhiều TĐKT. Ngay từ năm 2004, chúng ta đã biết đến Tập đoàn PG ( Hải Phòng), tiếp sau đó là Việt Á, Hòa Phát, Nam Cường, Mai Linh, POLYCO, Bảo Sơn… Nghiên cứu về sự hình thành các TĐKT thuộc khu vực kinh tế ngoài quốc doanh hiện nay cho thấy, phần lớn những TĐKT đã hình thành đều theo đúng quy luật khách quan và thông lệ quốc tế. Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong từng tập đoàn đã được nâng lên đáng kể. Song, những thách thức đã nêu trong quản trị TĐKT vẫn xuất hiện đầy đủ và rõ nét đối với các TĐKT ngoài quốc doanh. Ngoài những thách thức chung ấy, các TĐKT ngoài quốc doanh còn đối mặt với hai thách thức riêng có đối với khu vực kinh tế này ở nước ta hiện nay, cụ thể :
– Sự mâu thuẫn gay gắt giữa tính “xã hội hóa” trong quản trị TĐKT với phương thức “gia đình trị”. Thách thức này xuất phát từ bản thân các doanh nghiệp Việt Nam. Từ quy mô gia đình đi lên, phần lớn các chủ doanh nghiệp đều mang nặng phong cách quản lý gia đình. Trong một TĐKT, chủ công ty mẹ coi tất cả các công ty con là của gia đình mình và chủ các công ty con cũng vẫn cho rằng  công ty con đó là của gia đình mình. Hậu quả bao trùm là sự thiếu minh bạch trong mọi hoạt động và sự liên kết rất có có thể bị phá vỡ.
– Còn rất nhiều quy định của pháp luật hiện nay hạn chế sự phát huy những lợi thế quan trọng của TĐKT. Có thể nêu một vài hạn chế đã tạo ra những khó khăn lớn cho các TĐKT ngoaâi quöëc doanh:
a) Hạn chế về việc điều chuyển vốn nhàn rỗi giữa công ty mẹ, công ty con và giữa các công ty con với nhau. Không ai phủ nhận được một lợi thế quan trọng của các TĐKT là các công ty trong tập đoàn có thể hỗ trợ vốn cho nhau để giải quyết những khó khăn về tài chính trong ngắn hạn và cả trong việc thực hiện các dự án đầu tư dài hạn. Song, theo quy định của pháp luật hiện nay, công ty mẹ không có quyền điều chuyển vốn nhàn rỗi từ công ty con về công ty mẹ và từ công ty con này sang công ty con khác. Để làm được việc đó, các công ty trong tập đoàn đã và đang phải sử dụng nhiều biện pháp “lách luật” với những thủ tục phức tạp và tốn nhiều thời gian.
b) Hạn chế trong điều chuyển lao động, đặc biệt những cán bộ quản lý cấp cao trong tập đoàn. Sử dụng nguồn nhân lực một cách linh hoạt và với hiệu quả cao là một lợi thế của TĐKT. Muốn phát huy được lợi thế đó, công ty mẹ và các công ty con phải được quyền điều động người lao động từ công ty mẹ đến các công ty con, từ công ty con này tới các công ty con con khác. Song, Luật Lao động của nước ta hiện nay chưa hề có quy định về vấn đề này. Với việc quản lý lao động trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, khái niệm điều động, chuyển công tác đã không tồn tại.

Vài kiến nghị

Nhằm góp phần hạn chế những hậu quả xấu có thể xảy ra do những thách thức lớn nêu trên chưa được giải quyết, xin kiến nghị:
– Tạm dừng ngay việc phê duyệt các đề án hình thành TĐKT nhà nước. Không thể tiếp tục cho ra đời những TĐKT nhà nước trong khi chúng ta chưa tìm ra những cơ chế, biện pháp có hiệu quả trong quản lý nó. Cần nhanh chóng nghiên cứu và ban hành một nghị định của Chính phủ về việc quản lý phần vốn Nhà nước đầu tư vào các TĐKT.
– Khuyến khích sự hình thành các TĐKT ngoài quốc doanh. Từ một số TĐKT ngoài quốc doanh đã hình thành và hoạt động, có thể kết luận rằng, liên kết để hình thành các TĐKT là hướng đi tất yếu, là biểu hiện cao nhất trong việc tái cấu trúc doanh nghiêp của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam. Hình thành các TĐKT, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam không chỉ phát triển mạnh về lượng mà quan trọng hơn là tất yếu sẽ có sự chuyển biến mạnh mẽ về chất, biểu hiện ở  sự nâng cao năng lực quản trị, đánh giá cao hơn hiệu quả của sự hợp tác và từ đó sẽ dần dần “đoạn tuyệt” phương thức gia đình trị trong quản lý doanh nghiệp…
– Hoàn thiện những khuân khổ pháp lý liên quan những quan hệ trong một TĐKT. Nhà nước khöng thể ban hành một văn bản luật hay nghị định để quản lý TĐKT, nhưng những quan hệ giữa các thành viên một TĐKT với nhau trong các lĩnh vực tài chính, lao động, thuế, chuyển giao công nghệ, nhượng quyền kinh doanh… đều có những điểm khác so với mối quan hệ giữa các công ty độc lập không nằm trong một TĐKT. Vì vậy, đã đến lúc các văn bản quy phạm pháp luật phải đề cập và có những quy định điều chỉnh những quan hệ này nhằm tạo ra sự minh bạch cao nhất, đảm bảo sự phát triển bền vững của các TĐKT. Trước mắt, cần sửa đổi, bổ sung Luật Doanh nghiệp theo hướng cho phép các công ty mẹ trong TĐKT ngoài quốc doanh với tư cách chủ sở hữu được phép ban hành những quy định về quản trị tập đoàn trên cơ sở những thỏa thuận tự nguyện của các công ty trong tập đoàn; sửa đổi, bổ sung Luật Lao động cho phù hợp việc sử dụng lao động tại các TĐKT hiện nay…

SOURCE: TẠP CHÍ NHÀ QUẢN SỐ 65, THÁNG 11 NĂM 2010

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: