Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

BÁO CÁO SỐ 327/BC-UBTVQH12 NGÀY 22 THÁNG 5 NĂM 2010 VỀ GIẢI TRÌNH TIẾP THU, CHỈNH LÝ DỰ THẢO LUẬT NUÔI CON NUÔI

Kính thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Tại kỳ họp thứ 6 (tháng 11/2009), các vị đại biểu Quốc hội đã thảo luận, cho ý kiến về dự án Luật nuôi con nuôi. Sau kỳ họp, Ủy ban pháp luật đã phối hợp với Bộ Tư pháp và các cơ quan hữu quan tổ chức khảo sát việc thực hiện pháp luật về nuôi con nuôi tại một số địa phương, tổ chức hội thảo để tiếp tục lấy ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, đại diện một số cơ quan, tổ chức ở trung ương và địa phương, các chuyên gia trong và ngoài nước về dự án Luật nuôi con nuôi.

Dự án Luật đã được gửi xin ý kiến các Đoàn đại biểu Quốc hội. Trong quá trình hoàn thiện, Thường trực Ủy ban pháp luật và cơ quan soạn thảo đã làm việc với đại diện Đại sứ quán của 9 nước ký hiệp định nuôi con nuôi với nước ta, một tổ chức quốc tế và một số tổ chức con nuôi nước ngoài hoạt động tại Việt Nam. Sau đây, Ủy ban thường vụ Quốc hội xin báo cáo Quốc hội việc giải trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật nuôi con nuôi.

I/ NHỮNG VẤN ĐỀ LỚN

1. Về đối tượng và độ tuổi được nhận làm con nuôi; điều kiện của người được nhận làm con nuôi

a) Về đối tượng và độ tuổi được nhận làm con nuôi (Điều 7)

– Nhiều ý kiến đề nghị Luật chỉ điều chỉnh việc nuôi con nuôi là trẻ em dưới 16 tuổi; không áp dụng với trường hợp là “thương binh, người khuyết tật, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc làm con nuôi người già yếu, cô đơn”. Một số ý kiến đề nghị cân nhắc đối tượng được nhận nuôi là người trên 15 tuổi, vì thực tế có phát sinh, nếu không quy định sẽ bỏ trống nhóm đối tượng này. Có ý kiến đề nghị quy định tuổi trẻ em được nhận làm con nuôi là dưới 14 tuổi. Ý kiến khác đề nghị quy định tuổi trẻ em làm con nuôi “từ đủ 15 tuổi trở xuống”, vì pháp luật về hình sự, dân sự, lao động hiện hành quy định trách nhiệm đối với người trên độ tuổi này. Ngoài ra, có ý kiến băn khoăn quy định độ tuổi trẻ em được nhận làm con nuôi như dự thảo Luật sẽ thấp hơn độ tuổi trong Công ước Lahay về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực con nuôi quốc tế năm 1993 (dưới 18 tuổi).

Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, quy định đối tượng được nhận làm con nuôi như dự thảo Luật đã trình Quốc hội là kế thừa Luật hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, trong thực tế, từ khi có Luật hôn nhân và gia đình chưa có trường hợp nuôi con nuôi nào được đăng ký mà người được nhận nuôi trên 15 tuổi là thương binh, người tàn tật, người mất năng lực hành vi dân sự. Chỉ có rất ít trường hợp người trên 15 tuổi làm con nuôi của người già yếu, cô đơn, nhưng những trường hợp này thực chất lại là quan hệ phụng dưỡng, chăm sóc, không phù hợp với mục đích nuôi con nuôi quy định tại Điều 2 của dự thảo Luật.

Về độ tuổi được nhận làm con nuôi, Ủy ban thường vụ Quốc hội thấy rằng, mỗi lĩnh vực pháp luật có những đặc thù riêng nên thường có những quy định khác nhau về tuổi chịu trách nhiệm của cá nhân. Chẳng hạn, Bộ luật hình sự quy định người từ đủ 14 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự; Bộ luật dân sự quy định người từ đủ 15 tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải bồi thường; Bộ luật lao động cho phép người từ đủ 15 tuổi trở lên được tham gia một số quan hệ lao động. Về độ tuổi được coi là trẻ em, Luật chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em xác định trẻ em là “người dưới 16 tuổi”… Với mục đích chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em được nhận làm con nuôi trong môi trường gia đình nên độ tuổi trẻ em được nhận làm con nuôi trong Luật nuôi con nuôi có quan hệ và gắn bó mật thiết với độ tuổi được coi là trẻ em trong Luật chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em. Vì vậy, đề nghị cho tiếp thu ý kiến của nhiều vị đại biểu Quốc hội theo hướng quy định đối tượng được nhận làm con nuôi là trẻ em dưới 16 tuổi. Việc quy định đối tượng và độ tuổi để được nhận làm con nuôi như vậy là hợp lý, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật và thực hiện các cam kết quốc tế.

– Khoản 2 Điều 30 của dự thảo Luật trình Quốc hội quy định trường hợp ngoại lệ là người từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể được nhận làm con nuôi có yếu tố nước ngoài theo diện đoàn tụ gia đình.

Hiện nay, pháp luật không quy định việc nhận nuôi con nuôi theo diện đoàn tụ gia đình. Tuy nhiên, trong một số quan hệ dân sự lại có sự điều chỉnh thông qua việc ghi nhận quan hệ thừa kế giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên (Điều 679 BLDS). Vì vậy, nếu chỉ quy định đối tượng từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể được nhận làm con nuôi có yếu tố nước ngoài sẽ tạo ra sự phân biệt đối xử giữa nuôi con nuôi nước ngoài và nuôi con nuôi trong nước. Trong thực tế, ở trong nước cũng có thể có những trường hợp người chưa thành niên ở độ tuổi từ đủ 16 đến dưới 18, vì những lý do khác nhau mà không còn cha, mẹ. Việc tạo điều kiện để các em tiếp tục được nuôi dưỡng, giáo dục và phát triển trong môi trường gia đình là cần thiết và mang tính nhân đạo sâu sắc. Vì vậy, Ủy ban thường vụ Quốc hội đề nghị cho chỉnh lý dự thảo Luật theo hướng quy định đối tượng được nhận nuôi về nguyên tắc là trẻ em dưới 16 tuổi; người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể được cô, cậu, dì, chú, bác ruột hoặc bố dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi (Điều 7).

b) Về điều kiện của người được nhận làm con nuôi

Nhiều ý kiến cho rằng, trong dự thảo Luật trình Quốc hội có sự khác biệt giữa điều kiện nuôi con nuôi trong nước và nước ngoài; đề nghị quy định thống nhất, tránh phân biệt đối xử, gây tổn thương cho trẻ em.

Tiếp thu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, dự thảo Luật đã chỉnh sửa Điều 7 quy định điều kiện người được nhận làm con nuôi để áp dụng chung đối với nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi nước ngoài.

2. Về thẩm quyền đăng ký nuôi con nuôi và giải quyết yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi (Điều 8 và Điều 10)

– Một số ý kiến đề nghị quy định cơ quan hành chính đăng ký việc nuôi con nuôi, Tòa án nhân dân giải quyết yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi như hiện nay. Một số ý kiến khác đề nghị giao Tòa án nhân dân đăng ký việc nuôi con nuôi và giải quyết yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi; cơ quan hành chính chỉ tiến hành các thủ tục hành chính ban đầu. Có ý kiến đề nghị quy định Ủy ban nhân dân thực hiện cả việc đăng ký nuôi con nuôi và giải quyết yêu cầu chấm dứt nuôi con nuôi.

Ủy ban thường vụ Quốc hội thấy rằng, trong điều kiện hiện nay, chưa thể giao ngay cho Tòa án nhân dân cả việc đăng ký nuôi con nuôi mà cần có lộ trình, bước đi phù hợp với tiến trình cải cách tư pháp ở nước ta. Vì vậy, trước mắt đề nghị tiếp tục giao cơ quan hành chính thực hiện việc đăng ký nuôi con nuôi, Tòa án nhân dân giải quyết yêu cầu chấm dứt nuôi con nuôi như quy định của pháp luật hiện hành.

– Có ý kiến đề nghị quy định việc đăng ký nuôi con nuôi được thực hiện tại một nơi là Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người nhận nuôi con nuôi thường trú.

Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, việc tổ chức đăng ký nuôi con nuôi phải bảo đảm yêu cầu tạo thuận lợi cho người dân và đơn giản về thủ tục hành chính. Hiện nay, quy định về đăng ký kết hôn cũng cho phép lựa chọn nơi đăng ký là nơi thường trú của vợ hoặc chồng. Đăng ký nuôi con nuôi là một công việc đòi hỏi nhiều thủ tục, liên quan đến nhiều người. Vì vậy, đề nghị Quốc hội cho giữ quy định đăng ký tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người nhận con nuôi thường trú hoặc nơi người được giới thiệu làm con nuôi thường trú để tạo thuận lợi cho các bên.

3. Về lệ phí đăng ký nuôi con nuôi, chi phí giải quyết nuôi con nuôi nước ngoài (Điều 12)

Một số ý kiến đồng ý quy định về lệ phí đăng ký nuôi con nuôi và phí giải quyết việc nuôi con nuôi, nhưng cần cụ thể hóa các loại phí; một số ý kiến đề nghị quy định chi phí giải quyết việc nuôi con nuôi thay cho phí giải quyết việc nuôi con nuôi; ý kiến khác đề nghị không quy định lệ phí đăng ký nuôi con nuôi, phí giải quyết việc nuôi con nuôi; một số ý kiến đề nghị chỉ quy định lệ phí đăng ký nuôi con nuôi, không quy định phí giải quyết việc nuôi con nuôi…

Về vấn đề này, nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trong khu vực như Phi-lip-pin, Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ, Hàn Quốc… cho thấy các nước này, khi giải quyết việc nuôi con nuôi nước ngoài đều có thu một khoản tiền để chi phí cho việc giải quyết nuôi con nuôi là khoảng 4.000-7.000 USD cho một trường hợp và được chi cho việc chăm sóc trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng, hoạt động tác nghiệp của các cơ quan chuyên môn trong giải quyết nuôi con nuôi quốc tế, các dịch vụ liên quan[1]. Công ước Lahay năm 1993 cũng cho phép thu để chi trả những phí tổn và chi phí bao gồm cả lệ phí chuyên môn vừa phải cho những người có liên quan trong việc nuôi con nuôi.[2]

Vì vậy, để bảo đảm công khai, minh bạch các khoản chi trong nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, phù hợp với quy định của Công ước Lahay năm 1993 và thông lệ quốc tế, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo các cơ quan hữu quan nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, chỉnh sửa Điều 12 của dự thảo Luật như sau:

Điều 12. Lệ phí đăng ký nuôi con nuôi, chi phí giải quyết nuôi con nuôi nước ngoài

1. Người nhận nuôi con nuôi phải nộp lệ phí đăng ký nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật.

2. Ngoài lệ phí quy định tại khoản 1 Điều này, người nước ngoài không thường trú tại Việt Nam nhận con nuôi là người Việt Nam phải trả một khoản tiền để bù đắp một phần chi phí cho việc giải quyết nuôi con nuôi nước ngoài, bao gồm chi phí lập hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi; xác minh nguồn gốc của người được giới thiệu làm con nuôi; thẩm định hồ sơ của người xin nhận con nuôi; nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ khi được giới thiệu làm con nuôi đến khi hoàn thành thủ tục giao nhận con nuôi và thù lao hợp lý cho nhân viên của cơ sở nuôi dưỡng.

Chính phủ quy định chi tiết thẩm quyền thu, mức thu, việc miễn, giảm và chế độ quản lý, sử dụng chi phí giải quyết nuôi con nuôi nước ngoài quy định tại khoản này.

3. Nghiêm cấm tổ chức, cá nhân có liên quan đặt ra các khoản thu trái pháp luật từ hoạt động nuôi con nuôi.”

4. Về hệ quả của việc nuôi con nuôi (Điều 24)

Một số ý kiến cho rằng việc nuôi con nuôi không chỉ xác lập quyền, nghĩa vụ giữa con nuôi với cha mẹ nuôi mà còn với các thành viên khác trong gia đình của cha mẹ nuôi; một số ý kiến khác lại cho rằng việc nuôi con nuôi chỉ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, không phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa con nuôi và các thành viên khác trong gia đình cha mẹ nuôi.

Ủy ban thường vụ Quốc hội thấy rằng, nuôi con nuôi là quan hệ được xác lập giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, nhưng xét về tình cảm cũng làm xuất hiện quan hệ qua lại giữa các thành viên khác trong gia đình cha mẹ nuôi. Khi trở thành thành viên trong gia đình cha mẹ nuôi, con nuôi cần có mối quan hệ chặt chẽ, gắn bó, có các quyền, nghĩa vụ với các thành viên khác trong gia đình cha mẹ nuôi như con đẻ. Chỉ có như vậy con nuôi mới hòa nhập một cách tốt nhất vào gia đình cha mẹ nuôi, tránh được sự phân biệt đối xử giữa con đẻ và con nuôi. Pháp luật về nuôi con nuôi của một số nước như Nga, Trung Quốc… cũng xác định quyền, nghĩa vụ giữa con nuôi và các thành viên khác trong gia đình cha mẹ nuôi. Vì vậy, đề nghị Quốc hội cho giữ quy định tại khoản 1 Điều 24 của dự thảo Luật là “Kể từ ngày giao nhận con nuôi và ghi vào sổ hộ tịch, giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con; giữa con nuôi và các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi cũng có các quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật.”

5. Về căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi (Điều 25)

– Một số ý kiến đề nghị bổ sung các trường hợp vi phạm điều cấm tại Điều 13 là căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi tại Điều 25.

Tiếp thu ý kiến này, Điều 25 đã bổ sung khoản 4 như trong dự thảo Luật.

– Có ý kiến đề nghị bổ sung vào khoản 1 Điều 25 quy định con nuôi từ đủ 9 tuổi trở lên và cha mẹ nuôi có thể tự nguyện thỏa thuận chấm dứt việc nuôi con nuôi, bởi vì tại Điều 21 có quy định việc nhận trẻ em từ đủ 9 tuổi trở lên làm con nuôi phải được sự đồng ý của trẻ em đó.

Mục đích của việc nuôi con nuôi là nhằm xác lập quan hệ gia đình bền vững, lâu dài và vì lợi ích tốt nhất cho trẻ em được nhận làm con nuôi. Người từ đủ 9 tuổi đến dưới 18 tuổi chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, pháp luật cần quy định hạn chế tối đa việc chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi có thể làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của trẻ em. Do đó, việc chấm dứt nuôi con nuôi chỉ đặt ra khi con nuôi đã thành niên và cha mẹ nuôi tự nguyện chấm dứt mối quan hệ này. Đây cũng là nội dung kế thừa quy định của Luật hôn nhân và gia đình hiện hành.[3] Pháp luật về nuôi con nuôi của Trung Quốc[4] và một số nước cũng có quy định tương tự. Vì vậy, đề nghị Quốc hội cho giữ quy định về vấn đề này như dự thảo Luật.

6. Về Hội đồng tư vấn giới thiệu trẻ em làm con nuôi người nước ngoài

Một số ý kiến tán thành việc thành lập Hội đồng tư vấn giới thiệu trẻ em làm con nuôi người nước ngoài để bảo đảm khách quan trong việc giới thiệu trẻ em làm con nuôi; nhiều ý kiến khác đề nghị không thành lập Hội đồng này vì trách nhiệm không rõ ràng.

Ủy ban thường vụ Quốc hội thấy rằng, hiện nay, việc quản lý giới thiệu trẻ em làm con nuôi người nước ngoài còn có những điểm bất cập. Cơ sở nuôi dưỡng vừa là nơi tiếp nhận trẻ em, vừa là nơi nhận tài trợ từ nước ngoài, đồng thời cũng là nơi giới thiệu trẻ em. Thực trạng này trong không ít trường hợp đã dẫn đến sự thiếu vô tư, khách quan trong việc giới thiệu trẻ em làm con nuôi người nước ngoài; cá biệt, đã có những tiêu cực, vi phạm pháp luật. Để khắc phục tình trạng này, cần tổ chức lại việc giới thiệu trẻ em làm con nuôi, bảo đảm khách quan, minh bạch, tách việc giới thiệu trẻ em làm con nuôi với việc tiếp nhận tài trợ và bảo đảm sự quản lý của Nhà nước. Trong thực tế, hình thức hội đồng tư vấn trong nhiều lĩnh vực hoạt động không hiệu quả, trách nhiệm không rõ ràng. Vì vậy, thay vì thành lập Hội đồng tư vấn, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã cho chỉnh lý dự thảo Luật theo hướng quy định cụ thể trách nhiệm của từng cơ quan, tổ chức trong từng khâu công việc. Theo đó, cơ sở nuôi dưỡng có trách nhiệm tiếp nhận trẻ em bị bỏ rơi, mồ côi và thông báo cho Sở Tư pháp trẻ em cần có gia đình thay thế (Điều 15); Bộ Tư pháp có trách nhiệm thông báo tìm gia đình thay thế cho trẻ em, tiếp nhận, kiểm tra và xử lý hồ sơ của người nhận con nuôi (các điều 15, 31 và 34); Sở Tư pháp tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ của trẻ em và xem xét, giới thiệu trẻ em làm con nuôi người nước ngoài trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định (các điều 32, 33, 36 và 37); Công an cấp tỉnh xác minh hồ sơ trẻ em bị bỏ rơi (khoản 1 Điều 33)…

7. Về nuôi con nuôi ở khu vực biên giới (Điều 42)

Dự thảo Luật được chỉnh lý theo hướng tiếp tục giao Chính phủ căn cứ vào các quy định của Luật và tình hình thực tế để quy định việc giải quyết nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với công dân của nước láng giềng thường trú ở khu vực biên giới. Bởi vì, nuôi con nuôi ở khu vực biên giới là vấn đề phức tạp, liên quan đến một số nước có chung đường biên giới với nước ta, đến vấn đề dân tộc, tôn giáo, phong tục của đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là việc thực hiện chính sách, pháp luật về dân số của Việt Nam cũng như của các nước láng giềng. Vấn đề này đang được Luật hôn nhân và gia đình quy định giao Chính phủ hướng dẫn thi hành. Bên cạnh đó, cũng có ý kiến cho rằng không nên quy định trong Luật vấn đề nuôi con nuôi ở khu vực biên giới, bởi vì trên thực tế cho đến nay chưa có trường hợp nào được đăng ký; nếu có việc nuôi con nuôi thì áp dụng quy định về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.

8. Về quy định chuyển tiếp việc nuôi con nuôi thực tế (Điều 50)

Một số ý kiến đề nghị quy định cụ thể về nuôi con nuôi thực tế để tránh xảy ra tranh chấp, đặc biệt là về tài sản, thừa kế; một số ý kiến khác đề nghị cần có một số quy định có tính nguyên tắc về việc nuôi con nuôi thực tế, làm cơ sở để Chính phủ quy định cụ thể. Có ý kiến đề nghị không quy định vấn đề con nuôi thực tế, pháp luật không nên thừa nhận, khuyến khích việc này.

Ở nước ta, việc nuôi con nuôi đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật, nhưng chưa đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã phát sinh. Nguyên nhân chủ yếu là do người dân còn thiếu hiểu biết pháp luật, chưa nhận thức được lợi ích của việc đăng ký nuôi con nuôi. Các quan hệ này cần được ghi nhận trong Luật để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, đặc biệt là người được nhận làm con nuôi. Vì vậy, tiếp thu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, Điều 50 của dự thảo Luật đã bổ sung các quy định với những tiêu chí cụ thể xác định nuôi con nuôi thực tế; đồng thời giao Chính phủ quy định thủ tục đăng ký nuôi con nuôi thực tế bảo đảm thuận lợi và phù hợp với điều kiện của nhân dân ở các vùng, miền.

II/ NHỮNG VẤN ĐỀ CỤ THỂ

1. Về bố cục của dự thảo Luật

Tiếp thu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, dự thảo Luật đã bỏ Điều về đối tượng áp dụng, chuyển một số nội dung của Chương II, Chương III lên quy định tại Chương I để áp dụng chung đối với nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài; tách quy định về hồ sơ đăng ký việc nuôi con nuôi trong nước thành 2 điều quy định về hồ sơ của người nhận con nuôi (Điều 17) và hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi (Điều 18); bổ sung một điều quy định về nộp hồ sơ, thời hạn giải quyết việc nuôi con nuôi trong nước (Điều 19) cho phù hợp với quy định về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.

2. Về các hành vi bị cấm (Điều 13)

Một số ý kiến đề nghị bổ sung vào Điều 13 quy định cấm các hành vi: cho con đẻ làm con nuôi để sinh thêm con; nhận con đẻ làm con nuôi; lợi dụng việc nuôi con nuôi để vi phạm pháp luật về dân số; phân biệt đối xử giữa con đẻ và con nuôi; nhận nuôi con nuôi giữa ông bà và cháu, giữa anh chị em với nhau.

Tiếp thu các ý kiến này, Điều 13 đã được bổ sung, chỉnh sửa như trong dự thảo Luật.

3. Về điều kiện đối với người nhận con nuôi (Điều 14)

– Một số ý kiến đề nghị làm rõ căn cứ của việc quy định khoảng cách tuổi giữa người nhận nuôi và con nuôi là 20; đề nghị nâng khoảng cách độ tuổi này là 25 tuổi trở lên hoặc từ 30 tuổi trở lên.

Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, việc quy định khoảng cách về tuổi giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi là cần thiết để bảo đảm tư cách làm cha, mẹ của người nhận nuôi. Quy định khoảng cách tuổi giữa người nhận nuôi và con nuôi như trong dự thảo Luật là sự kế thừa quy định của Luật hôn nhân và gia đình hiện hành (khoản 2 Điều 69). Thực tế giải quyết nuôi con nuôi trong thời gian qua không có vướng mắc về vấn đề này. Qua thảo luận, nhiều ý kiến đề nghị giữ quy định về khoảng cách tuổi giữa người nhận nuôi và con nuôi như hiện nay. Vì vậy, đề nghị Quốc hội cho giữ quy định về vấn đề này như dự thảo Luật trình Quốc hội.

– Có ý kiến đề nghị quy định tuổi tối đa của người nhận con nuôi là 60 tuổi, đặc biệt là trong trường hợp nhận trẻ em dưới 6 tuổi làm con nuôi; ý kiến khác đề nghị không quy định độ tuổi tối đa của người nhận con nuôi mà việc nuôi con nuôi nên căn cứ vào khả năng và điều kiện thực tế của người nhận con nuôi.

Ủy ban thường vụ Quốc hội cho rằng, việc nuôi con nuôi hoàn toàn xuất phát từ tấm lòng, khả năng và điều kiện thực tế của người nhận; pháp luật hiện hành không quy định về độ tuổi tối đa của người nhận con nuôi. Hơn nữa, đối với một số gia đình, cá nhân có điều kiện thì việc nuôi con nuôi không nhất thiết phải trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; quan trọng là xác lập được quan hệ cha mẹ và con vì lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi, bảo đảm con nuôi được sống trong môi trường gia đình. Vì vậy, đề nghị Quốc hội cho không bổ sung nội dung này vào dự thảo Luật.

– Có ý kiến đề nghị cần hạn chế số trẻ em được một người nhận nuôi để bảo đảm điều kiện chăm sóc, giáo dục trẻ; quy định người nhận con nuôi chỉ được nhận tối đa 2 con nuôi.

Ủy ban thường vụ Quốc hội thấy rằng, để được nhận con nuôi, người nhận nuôi con nuôi phải đáp ứng các điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi và các điều kiện khác theo quy định của Luật. Việc nhận một hay nhiều con nuôi đều phải đáp ứng các điều kiện Luật định. Luật hôn nhân và gia đình không quy định hạn chế số lượng trẻ em được nhận nuôi. Thực tế, đã có những trường hợp người nhận nuôi có điều kiện nhận nhiều trẻ em về chăm sóc, nuôi dưỡng và thực hiện tốt. Vì vậy, đề nghị không quy định về số lượng trẻ em được nhận làm con nuôi trong Luật.

4. Về hồ sơ của người nhận con nuôi (Điều 17)

Có ý kiến đề nghị quy định vợ chồng ở vùng sâu, vùng xa không có giấy đăng ký kết hôn xin nhận nuôi con nuôi thì trong hồ sơ của người nhận con nuôi không cần có bản sao giấy đăng ký kết hôn.

Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, việc kết hôn phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền; nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng không được pháp luật công nhận là vợ chồng (Điều 11). Do vậy, để được công nhận là vợ chồng trước pháp luật và cùng nhận con nuôi thì những người chung sống như vợ chồng phải tiến hành đăng ký kết hôn tại địa phương trước khi nộp hồ sơ xin nhận con nuôi; trường hợp không đăng ký kết hôn thì chỉ một người được nhận con nuôi theo quy định của Luật này.

5. Về tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi (Điều 26)

Có ý kiến đề nghị bổ sung Ủy ban nhân dân cấp xã, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Viện kiểm sát nhân dân có quyền yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi.

Chấm dứt nuôi con nuôi là vấn đề quan trọng, có ảnh hưởng tới quyền, nghĩa vụ của cha mẹ nuôi và con nuôi. Ngoài những người có liên quan trực tiếp như cha mẹ nuôi, con nuôi, cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của con nuôi, chỉ nên quy định những cơ quan, tổ chức có chức năng chăm sóc, bảo vệ trẻ em như cơ quan lao động – thương binh và xã hội, Hội phụ nữ có quyền yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi. Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành cũng quy định chỉ có 02 cơ quan, tổ chức này có quyền khởi kiện vụ án về hôn nhân và gia đình để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên (Điều 162). Vì vậy, đề nghị Quốc hội cho giữ quy định về vấn đề này như dự thảo Luật.

6. Về tổ chức con nuôi nước ngoài tại Việt Nam (Điều 43)

Có ý kiến đề nghị bổ sung quy định thu lệ phí cấp giấy phép hoạt động cho tổ chức con nuôi nước ngoài tại Việt Nam.

Tham khảo pháp luật về nuôi con nuôi một số nước như Hoa Kỳ, Phi-lip-pin[5]… có quy định về lệ phí cấp phép hoạt động của tổ chức con nuôi quốc tế. Vì vậy, tiếp thu ý kiến này, Điều 43 của dự thảo Luật đã bổ sung quy định nghĩa vụ nộp lệ phí cấp, gia hạn, sửa đổi giấy phép hoạt động tại Việt Nam của tổ chức con nuôi nước ngoài.

7. Về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước về nuôi con nuôi (Chương IV)

Có ý kiến đề nghị quy định cụ thể trách nhiệm của Bộ Tư pháp, các bộ, Ủy ban nhân dân các cấp trong quản lý nhà nước về nuôi con nuôi.

Tiếp thu ý kiến này, Chương IV của dự thảo Luật đã được chỉnh sửa theo hướng quy định cụ thể trách nhiệm của Bộ Tư pháp, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao và Ủy ban nhân dân các cấp trong quản lý nhà nước về nuôi con nuôi.

8. Về thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi

Nhiều ý kiến cho rằng, dự thảo Luật trình Quốc hội chủ yếu quy định về thủ tục cho – nhận con nuôi, trong đó nặng về các quy định nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, nhiều quy định còn chung chung, không cụ thể.

Tiếp thu ý kiến các vị đại biểu Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã cho chỉnh lý dự thảo Luật theo hướng ngoài việc quy định rõ quyền và nghĩa vụ của các bên, cụ thể hóa các thủ tục trong việc nuôi con nuôi như: giới thiệu trẻ em làm con nuôi, quyết định cho nhận con nuôi; vai trò, trách nhiệm của cơ sở nuôi dưỡng, tổ chức, cá nhân khác trong việc giới thiệu trẻ em làm con nuôi; cơ quan tiếp nhận đăng ký nhu cầu nhận con nuôi; lập và quản lý hồ sơ nuôi con nuôi; hoạt động của tổ chức con nuôi nước ngoài tại Việt Nam… để bảo đảm khi Luật có hiệu lực có thể áp dụng được ngay trong thực tế.

Ngoài những vấn đề trên đây, tiếp thu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, dự thảo Luật đã được rà soát, chỉnh lý, hoàn thiện về nội dung cũng như kỹ thuật lập pháp.

Kính thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Trên đây là Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật nuôi con nuôi. Ủy ban thường vụ Quốc hội kính trình Quốc hội xem xét, quyết định.

TM. ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI

PHÓ CHỦ TỊCH

(đã ký)

Uông Chu Lưu


[1] Phi-lip-pin: 4.253 USD (bao gồm: 1.000 USD đóng góp cho trại trẻ mồ côi thông qua cơ quan trung ương về nuôi con nuôi, 200 USD phí nộp hồ sơ, 2.000 USD phí giải quyết hồ sơ, 400 USD làm visa, 1.053 USD chi phí bàn giao con nuôi); Trung Quốc: 7.100 USD (bao gồm: 5.000 USD đóng góp cho trại trẻ mồ côi thông qua cơ quan trung ương về nuôi con nuôi, 750 USD phí nộp hồ sơ, 300 USD chi phí dịch hồ sơ, 400 USD làm visa, 650 USD phí cho địa phương); Ấn Độ: 3.900 USD (bao gồm: 3.500USD đóng góp cho trại trẻ mồ côi, 400 USD làm visa); Hàn Quốc: 11.560 USD (bao gồm: 1.800 USD đóng góp qua cơ quan con nuôi trung ương, 9.200 USD phí con nuôi, 140 USD kiểm tra sức khoẻ, 400 USD làm visa, 20 USD ảnh). Nguồn: Cục Con nuôi – Bộ Tư pháp, Phí giải quyết việc nuôi con nuôi một số nước.

[2] Điều 32 của Công ước Lahay năm 1993 quy định:

“1. Không ai được thu tiền hay thu lợi bất chính từ một hoạt động liên quan đến vấn đề nuôi con nuôi nước ngoài.

2. Chỉ có thể chi trả những phí tổn và chi phí bao gồm cả lệ phí chuyên môn vừa phải cho nhưng người có liên quan vào việc nuôi con nuôi.

3. Những người lãnh đạo, người quản lý và nhân viên của những tổ chức có liên quan đến vấn đề nuôi con nuôi không được nhận thù lao cao hơn một cách bất hợp lý với công việc mà họ đã làm.”

Điều 34 của Công ước Lahay năm 1993 quy định: “Nhà chức trách có thẩm quyền của quốc gia nhận được giấy tờ có yêu cầu thì một bản dịch hợp thức phải được cung cấp. Trừ khi được miễn, cha mẹ nuôi tương lai phải trả những chi phí cho việc dịch”.

[3] Khoản 1 Điều 76 Luật Hôn nhân và gia đình quy định một trong các trường hợp chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi là “cha mẹ nuôi và con nuôi đã thành niên tự nguyện chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi”.

[4] Điều 26 của Luật nuôi con nuôi Trung Quốc quy định: “Người nuôi con nuôi không được chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi trước khi trẻ làm con nuôi trưởng thành…”

[5] Lệ phí cấp, gia hạn giấy phép hoạt động của tổ chức con nuôi quốc tế tại Hoa Kỳ là 6.720 USD (Nguồn: http://www.coanet.org), Phi-lip-pin là 3.000 USD. (Nguồn: Cục Con nuôi – Bộ Tư pháp, Báo cáo kết quả Đoàn khảo sát nghiên cứu kinh nghiệm trong việc xây dựng và thực hiện Luật nuôi con nuôi tại Philippines, ngày 10/5/2010).

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: