Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

TỰ DO KINH TẾ VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

THS. TRẦN QUANG TUYẾN – Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tóm tắt. Sau hơn hai thập niên thực hiện mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam mà cốt lõi của nó là quá trình mở rộng sự tự do cho nền kinh tế, đã có những tác động  mạnh mẽ tới hầu hết các lĩnh vực kinh tế và xã hội.

Bài viết tập trung làm rõ những nội dung liên  quan tới tự do kinh tế và quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở  Việt Nam. Mặc dù cho tới nay, Ủy ban Châu Âu (EC) và Mỹ đã đưa ra một số tiêu chí để đánh giá  nền  kinh  tế  thị  trường  nhưng  nhìn chung  các  tiêu chí này mang  tính chất định  tính  và  khó định lượng. Vì vậy, xuất phát từ cách đặt vấn đề bản chất của nền kinh tế thị trường là tự do kinh doanh, tự do  trao đổi,  tự do  lao động, hay nói một cách ngắn gọn và đầy đủ nhất, đó là “tự do kinh  tế”.  Tác giả đã phân tích quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, được nhìn nhận  như là sự mở rộng của mức độ tự do kinh tế trong gần hai thập kỷ qua. Bài viết chỉ ra những ảnh  hưởng tích cực của tự do hoá kinh tế tới sự thịnh vượng kinh tế, gia tăng việc làm, ổn định tiền tệ ở  nhiều quốc gia trên thế giới và phân tích quá trình mở rộng tự do kinh tế trong quá trình phát triển
kinh tế – xã hội của Việt Nam.

1. Tự do kinh tế và sự tiến triển của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

Chúng ta đã chứng kiến hai hệ thống kinh tế trong cuộc chiến  tranh  lạnh kéo dài nhiều  thập kỷ. Hệ thống kinh tế kế hoạch hoá tập trung tồn tại  ở  các  nước  thuộc  khối  xã  hội  chủ  nghĩa, được  chỉ  huy  bởi  chính  quyền  trung  ương  còn hệ  thống kia  là các nền kinh  tế  thị  trường dựa trên nền tảng là các tổ chức kinh doanh của khu vực  tư  nhân.  Cho  tới  nay,  chúng  ta  đều  hiểu rằng  kinh  tế  thị  trường  là mô hình  kinh  tế mà hàng  hóa  và  dịch vụ được  sản  xuất  ra  để  trao đổi  trên  thị  trường.  Khi  nói  tới  kinh  tế  thị trường, chúng ta hiểu ngay đó là cơ chế kinh tế mà mọi giao dịch mua bán các yếu  tố đầu vào  cho  sản xuất và  sản phẩm đầu ra đều  được  giao dịch  mua  bán trên  thị  trường.

“Khi  nói  đến  kinh  tế  thị trường là nói đến nguyên  tắc  “tự  do  kinh  tế”,  bao  gồm  các quyền  tự  do  của  người  sản xuất  kinh  doanh,  quyền  lựa chọn của người tiêu dùng,  tự do  của  người  lao  động  trong lựa  chọn  công  việc  và  người thuê  cũng  có  quyền  lựa  chọn và  tuyển  dụng  những  người phù hợp”.

Cơ  chế  kinh  tế của  nền  kinh  tế  thị  trường  được Adam  Smith  ví  như “bàn tay vô
hình”  điều  tiết nền kinh tế. Khi  nói  đến  kinh  tế thị trường là nói đến  nguyên  tắc  “tự  do  kinh  tế”,  bao  gồm  các quyền  tự  do  của  người  sản  xuất  kinh  doanh, quyền  lựa chọn của người  tiêu dùng,  tự do của người  lao  động  trong  lựa  chọn  công  việc  và người  thuê  cũng  có  quyền  lựa  chọn  và  tuyển dụng  những  người  phù  hợp.  Như  vậy,  có  thể hiểu rằng mức độ tự do sản xuất, kinh doanh và trao  đổi  hàng  hóa  là  thước  đo  quan  trọng  để đánh giá mức độ tự do của thị trường trong một nền kinh  tế. Một nền kinh  tế  thị  trường đầy đủ có nghĩa sẽ đạt đến một trạng thái tự do kinh tế cao và do vậy, nó đòi hỏi mức độ can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế là tối thiểu trong các vấn đề phân bổ nguồn  lực và  sự can  thiệp vào hoạt  động  kinh  doanh  của  khu  vực  doanh nghiệp.  Hơn  nữa,  nó  cũng  đòi  hỏi  Chính  phủ phải có một hệ  thống pháp  lý và cơ quan  thực thi  hiệu  quả  các  quyền  về  sở  hữu  và  tạo  hành lang pháp lý hiệu quả cho hoạt động kinh doanh của  doanh  nghiệp. Ủy  ban Châu Âu    (EC)  đã đưa ra 5 tiêu chí để đánh giá một nền kinh tế thị trường như sau:

Năm  tiêu  chí  đánh  giá  nền  kinh  tế  thị trường của EC
1.   Mức  độ ảnh  hưởng  của Chính phủ đối  với  việc  phân  bổ  các  nguồn  lực  và  các  quyết định của doanh nghiệp, bất kể  là trực tiếp hay gián  tiếp,  chẳng  hạn  như  thông  qua  việc  áp dụng giá  cả  do Nhà nước ấn định, hoặc  phân biệt đối xử trong chế độ thuế, thương mại hoặc tiền tệ.
2. Không có hiện tượng Nhà nước can thiệp bóp méo  hoạt  động  của  các  doanh  nghiệp  liên quan đến khu vực tư nhân hoá. Không sử dụng cơ chế thương mại phi thị trường hoặc các hệ thống đền bù (ví dụ như thương mại hàng đổi hàng).
3. Ban hành và  thực thi  luật doanh nghiệp minh bạch và không phân biệt đối xử, đảm bảo quản  lý  doanh nghiệp một  cách  thích  hợp  (áp dụng các tiêu chuẩn kế toán quốc tế, bảo vệ cổ đông,  đầy  đủ  thông  tin  chính  xác  về  doanh nghiệp).
4. Ban hành và áp dụng một hệ thống  luật thống nhất, hiệu quả và minh bạch đảm bảo tôn trọng quyền  sở hữu  tài  sản và đảm bảo  sự vận hành của quy chế phá sản doanh nghiệp.

5. Tồn  tại một khu vực tài chính đích  thực hoạt động độc lập với Nhà nước, với đầy đủ các quy định về các biện pháp đảm bảo tín dụng và giám sát điều chỉnh về mặt pháp luật cũng như trên thực tế.

(Nguồn: Cục Quản lý cạnh tranh Bộ Thương mại)(1)

Bộ Thương mại  Hoa  Kỳ  đưa  ra  6  tiêu  chí dưới đây để xem xét một nền kinh tế có phải là kinh tế thị trường hay không. Sáu  tiêu  chí  đánh  giá  nền  kinh  tế  thị trường của Bộ Thương mại Hoa Kỳ

1. Khả năng chuyển đổi của đồng tiền 
2. Tự do thoả thuận mức lương 
3. Đầu tư nước ngoài 
4. Sở  hữu  hoặc  quản  lý  của Nhà  nước  đối với các ngành sản xuất 
5. Quản  lý  của Nhà  nước  đối  với  sự phân bổ các nguồn lực 
6. Các yếu tố thích hợp khác 
(Nguồn: http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/bta_nmefactsheet.html)

Đối chiếu hai hệ  thống  tiêu chí  trên  ta  thấy có một vài  điểm  tương đồng nhau. Cả hai đều đưa  ra  yêu  cầu  về một  nền  kinh  tế  thị  trường phải đảm bảo  sự can  thiệp của Nhà nước dưới các hình thức khác nhau trong nền kinh tế là tối thiểu;  trong đó, Hoa Kỳ nhấn mạnh tới quy mô sở hữu Nhà nước và  sự quản  lý của Nhà nước tới các ngành sản xuất và sự phân bổ nguồn lực, trong khi đó EC nhấn mạnh  tới việc Nhà nước không được can thiệp và làm méo mó các hoạt động  kinh  doanh  của  khu  vực  tư  nhân.  Bên cạnh nhấn mạnh tới tự do tài chính và tự do tiền tệ, Bộ Thương mại Hoa Kỳ cho  rằng: một nền kinh  tế  thị  trường  đầy  đủ  phải  đảm  bảo  đồng tiền được  tự do chuyển đổi  trên  thị  trường vốn và  không  có  bất  cứ  sự  can  thiệp  nào  của Nhà nước. Tương tự, EC cũng nhấn mạnh rằng: một nền kinh tế thị trường đầy đủ phải dựa trên một khu vực tài chính lành mạnh, hoạt động độc lập với Chính phủ và  có  tính minh bạch  cao. Tuy nhiên,  chúng  ta  có  thể  thấy  giữa  hai  hệ  thống đánh  giá  này  đề  cập  tới  một  số  tiêu  chí  liên quan tới những lĩnh vực không hoàn toàn giống nhau và thậm chí còn khác biệt. EC khẳng định, một nền kinh tế thị trường phải dựa trên một hệ thống  pháp  luật  thống  nhất,  đồng  bộ  và  hiệu quả, nhằm tạo hành lang pháp lý cho hoạt động của  doanh  nghiệp,  đảm  bảo  quyền  sở  hữu  tài sản cũng như quy chế hoạt động cho các doanh nghiệp  phá  sản.  Hơn  nữa,  EC  cho  rằng  việc quản  lý  doanh  nghiệp  phải  dựa  trên  một  hệ thống  các  tiêu  chuẩn kế  toán minh bạch,  công khai và bình đẳng nhằm cung cấp thông tin một cách chính xác cũng như bảo vệ quyền  lợi cho các  cổ  đông.  Trong  khi  đó,  các  tiêu  chí  được  Bộ  Thương  mại  Hoa  Kỳ  lại  nhấn  mạnh  tới quyền  tự do  lao động và  tự do đầu  tư cho các nhà đầu tư nước ngoài. Đáng chú ý là một tiêu chí được  tổ chức này đưa ra rất đặc biệt, mang tính chủ quan và rất khó xác định, đó là tiêu chí “Các yếu tố  thích hợp khác”  – đây có  thể xem như tiêu chí được Hoa Kỳ vận dụng trong từng trường hợp khác nhau đối với từng quốc gia cụ thể. Vì vậy, nó phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố  chính  trị,  quan  hệ  ngoại  giao  và  vị  thế  của từng quốc gia trên bàn đàm phán. Đối chiếu với các  tiêu  chí  trên,  trong  những  năm  qua  Việt Nam đã đạt được những  tiến bộ đáng kể  trong việc xây dựng một nền kinh  tế  thị  trường  theo nghĩa  đầy  đủ  hơn.  Theo  đánh  giá  của  Bộ Thương mại Hoa Kỳ thì Việt Nam đã thực hiện những  cuộc  cải  cách  thị  trường  đáng  kể  và thông qua các văn bản pháp  lý để  thúc đẩy  sự phát  triển  kinh  tế  thị  trường(2).  Sự  chuyển  đổi sang  thể  chế  kinh  tế  thị  trường  được  thể  hiện trước  tiên  bằng  việc  thông  qua  các  chính  sách tôn trọng quy luật kinh tế thị trường, để cho giá cả  tự  điều  tiết,  tôn  trọng  quan  hệ  cung  cầu,
khuyến  khích  kinh  tế  tư  nhân  và  hình  thành hàng  loạt  các  thị  trường  quan  trọng  như:  thị trường sức lao động, thị trường vốn, thị trường đất  đai,…  Năm  1987,  Việt  Nam  đã  ban  hành Luật  Đầu  tư  nước  ngoài  và  tiếp  đó  là  Luật Doanh  nghiệp  tư nhân  và  Luật Công  ty  (năm 1991).  Năm 1992,  Hiến  pháp đã  được  sửa  đổi và  khẳng  định  rõ sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế hàng hóa nhiều  thành  phần  vận  động  theo  cơ  chế  thị trường và khu vực đầu tư nước ngoài. Tiếp đến là sự thể chế  hoá các chủ trương trên bằng việc ra đời nhiều bộ  luật quan  trọng,  tạo hành  lang pháp lý cho sự vận hành nền kinh tế thị trường như:  Luật  Đất  đai;  Luật  Thuế;  Luật  Phá  sản; Luật  Môi  trường;  Luật  Lao  động  đi  cùng  với hàng trăm pháp lệnh, nghị định khác của Chính phủ giúp cho việc cụ thể hóa quá trình thực thi luật  và  thực  hiện  các  chương  trình  phát  triển kinh  tế  -  xã  hội. Kể  từ  01/01/2004, Việt  Nam cũng  đã  thực  hiện  chế  độ  thuế  thu  nhập  như nhau  đối  với  các  loại  hình  doanh  nghiệp,  với mức thuế chung là 28%. Giá cả của hầu hết các mặt hàng đã được quyết định theo quy luật cung -  cầu và  thiết  lập  quyền  tự  do  xuất  nhập  khẩu bình  đẳng  cho  các  doanh  nghiệp.  Luật  đầu  tư chung và  luật  doanh nghiệp  thống  nhất  có hiệu lực từ 01/07/2006, đảm bảo sự bình đẳng cho các
thành phần kinh tế. 
Tuy nhiên, nền kinh  tế  thị  trường của Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế. Hiện  tại, các điều kiện  thực  tế  chưa  cho  phép Việt Nam  quản  lý doanh  nghiệp  một  cách  hiệu  quả,  thông  qua việc  áp  dụng  rộng  rãi  các  tiêu  chuẩn  kế  toán quốc  tế. Thông  tin  về  doanh  nghiệp  còn  thiếu minh bạch và cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền lợi cho các cổ đông còn chưa đầy đủ(3). Theo nghị định  kiểm  toán  độc  lập  (năm  2003)  thì  kiểm toán  bắt  buộc đối  với  các  doanh nghiệp  thuộc lĩnh vực  tài chính, ngân hàng, bảo hiểm và các doanh  nghiệp  Nhà  nước,  cũng  như  doanh nghiệp  thuộc  khối  doanh  nghiệp  FDI.  Với  đa phần các doanh nghiệp  tư nhân còn  lại  thì  luật định  chỉ  khuyến  khích  các  doanh  nghiệp  này kiểm  toán  các  báo  cáo  tài  chính.  Khu  vực  tài chính của Việt Nam với sự tồn tại của các ngân hàng thương mại thuộc sở hữu Nhà nước tuy thị phần đã giảm đáng kể nhưng vẫn có ảnh hưởng rất  lớn  tới  các  hoạt  động  trên  thị  trường  tín dụng ở Việt Nam. Cũng  theo nhận xét của Bộ Thương  mại  Hoa  Kỳ,  nền  kinh  tế  thị  trường Việt Nam  vẫn  đang  trong  thời  kỳ  chuyển đổi, chưa  thực  sự  là một nền kinh  tế  thị  trường đầy đủ. Hiện tại, quyền sở hữu đất tư còn thiếu vắng và  chưa  được  xác  định một  cách  đầy  đủ;  quy mô của quá  trình cải cách hệ  thống ngân hàng còn hạn chế;  tiến trình tư nhân hoá chậm chạm và họ cho rằng Nhà nước còn hiện diện và can thiệp vào nhiều hoạt động kinh tế(4). Tuy nhiên, cần  nhìn  nhận một  cách khách  quan  rằng việc đánh giá của Hoa Kỳ đối với Việt Nam, tuy còn mang  tính chủ quan và chưa đầy đủ, nhưng nó cũng phản ánh được những hạn chế cơ bản của nền  kinh  tế  thị  trường  của Việt Nam. Mặc  dù vậy,  cho  tới  nay  rất  nhiều  các  quốc  gia  và  tổ chức  trên  thế  giới  đã  công  nhận  Việt  Nam  là một nền kinh tế thị trường đầy đủ như Ucraina, Đức, Nam  Phi,… Nhưng hiện hai  đối  tác  quan trọng  nhất  là  EC  và  Hoa  Kỳ  vẫn  chưa  công nhận Việt Nam  có  nền  kinh  tế  thị  trường  đầy  đủ. Điều đó cho thấy, Việt Nam cần nỗ lực hơn nữa trong việc tạo dựng các điều kiện cần thiết cho việc  phát  triển một  nền kinh  tế  thị  trường đầy đủ trong thời gian tới.
Các  tiêu  chí  đánh  giá  của  EC  và  Hoa  Kỳ dường như được vận dụng nhiều hơn trong các trường  hợp  cụ  thể  liên  quan  tới  tranh  chấp thương mại. Trên thực tế, nếu theo các  tiêu chí trên của EC và Hoa Kỳ  thì  sẽ  rất khó khăn khi đánh giá trình độ phát triển của một nền kinh tế thị  trường.  Hơn  nữa,  sẽ  là  không  đầy  đủ  khi chúng ta không đề cập tới các chỉ số tự do khác liên  quan  tới  hệ  thống  tài  khoá  hay  sự  trong sạch của bộ máy Nhà nước, đây vốn  là những nền  tảng  cần  thiết  của  một  nền  kinh  tế  thị trường  phát  triển  đầy  đủ. Do  vậy,  để  xem  xét đầy đủ hơn các khía cạnh khác nhau của   một nền  kinh  tế  thị  trường,  chúng  ta  cần  xem  xét mức  độ  tự  do  kinh  tế  thông  qua  chỉ  số  tự  do kinh  tế được công bố hàng năm do hai  tổ chức quốc tế uy tín là The Wall Street Journal và The Heritage  Foundation  hợp  tác  nghiên  cứu.  Chỉ số  này  được  tính  bình  quân  từ  10  chỉ  số, mỗi chỉ  số  được  tính  toán  từ  0%  cho  tới  100%  và phần  trăm  càng  cao  thì mức  độ  tự  do  kinh  tế
càng lớn(5).
Bảng  1  cho  thấy,  chỉ  số  tự  do  kinh  tế  của Việt  Nam  ở mức  49.8%,  xếp  thứ  135  trên  thế giới,  thấp hơn  thứ hạng của một  số nước  trong khu  vực  như:  Trung  Quốc  (126),  Philippines (92),  thấp  hơn  nhiều  so  với  Thái  Lan  (54)  và Malaysia (51). Tuy nhiên, nếu nhìn vào các chỉ số  liên  quan  tới  quy mô  chính  phủ,  tự  do  lao
động và khác cho thấy Việt Nam khá tiến bộ ở một  số  lĩnh  vực như quy mô  chính  phủ,  tự  do kinh doanh,  tự  do  tài  khóa và  tự  do  lao  động. Mặc  dù vậy,  khi  xem  xét  các  chỉ  số  liên  quan đến  tự do  tiền  tệ,  đầu  tư, quyền  sở  hữu,  tự  do lao  động  và  tham  nhũng  thì  kết  quả  cho  thấy rằng  các  chỉ  số  của  Việt  Nam  thấp  hơn  các nước trong khu vực và ở mức độ rất thấp so với mức trung bình của Thế giới. Năm 2008, chỉ số tự  do  tiền  tệ  của  Việt  Nam  là  67.42%,  tương đương  với  chỉ  số  của  Thái  Lan  và  Indonexia; thấp hơn mức bình quân của  thế giới là 74.4%.  Tiếp đến là chỉ số tự do đầu tư của Việt Nam là 30%,  tương đương với Trung Quốc,  Indonexia và  Thái  Lan,  thấp  hơn  Malaysia  và  Ấn  Độ (40%), và thấp hơn nhiều so ới mức trung bình của Thế giới  là 50.3%. Tương  tự, chỉ  số  tự do tài chính của Việt Nam chỉ đạt 30%, ở mức độ thấp  hơn  nhiều  so  với  Malaysia  (40%),  Thái Lan  và  Philippines  (50%),  và  thấp  hơn  mức trung bình của Thế giới  (51.7%). Chỉ  số  tự do đầu tư của Việt Nam là 30%, thấp hơn Malaysia và Ấn Độ (40%), và thấp hơn nhiều so với mức trung bình của Thế giới là 50.3%.  Bên cạnh đó, chỉ số Quyền sở hữu tài sản ở Việt Nam  chỉ  đạt  10%,  thấp  hơn  mức  20%  của rung  Quốc  và  30%  của  Indonexia  và Philippines,  đồng  thời  thấp  xa  so  với  mức 45.6% trên thế giới.  Hơn nữa, chỉ số Không có tham  nhũng(6)  của Việt Nam  năm  2008  ở mức để có thể nảy sinh trong việc đo lường và đánh giá mức độ tự do kinh tế là độ tin cậy của thông tin  được  khảo  sát  để  tính  toán  các  chỉ  số  này.

Đây  là  những  vấn đề  không  thể  tránh khỏi  và chắc chắn chúng  sẽ được  tối  thiểu hoá bởi các chỉ  số  này  được  các  chuyên  gia  hàng  đầu  của hai tổ chức uy tín trên tính toán và phân tích kỹ lưỡng. Vì vậy, các  thông tin có mức độ tin cậy cao và có thể được sử dụng để đánh giá sự mở rộng tự do kinh tế của các nước trên thế giới. Biểu  đồ  1  cho  thấy  sự  tiến  triển  của  nền kinh  tế  thị  trường  ở Việt  Nam  thông  qua việc mở  rộng mức độ  tự do kinh  tế  trong giai đoạn từ 1995  – 2008. Năm 1995, mức độ  tự do kinh tế của Việt Nam ở mức xấp xỉ 40%, so với mức bình quân là 60% trên thế giới và khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Tuy nhiên, xu hướng cho thấy khoảng cách này đã dần bị thu hẹp đáng kể khi chỉ số tự do kinh tế của Việt Nam  tăng đều trong hơn một  thập kỷ qua. Tới năm 2008, chỉ số  tự  do  kinh  tế  của  Việt Nam  đạt  tới  xấp  xỉ 50%,  nhưng  vẫn  thấp hơn mức  bình quân  của thế  giới  là  60.3%  và  khu  vực  Châu  Á  -  Thái Bình Dương là 58.7%. Trong giai đoạn từ 1995 – 2008, mức độ tự do kinh tế ở Bungary đã tăng rất mạnh, từ 50% lên  gần  63%.  Hungary  tăng  từ  55%  lên  68%. 
Mặc  dù  chỉ  số  tự  do  kinh  tế  của Việt Nam  đã tăng  lên đáng kể   (khoảng 10%  trong  thời gian này). Nhưng tới nay nền kinh tế thị  trường của Việt Nam vẫn ở mức độ tự do thấp hơn hầu hết các nước có nền kinh tế chuyển đổi ở Đông Âu. Năm  2008,  chỉ  số  tự    do  kinh  tế  của  Việt  là 50%, tương đương với mức độ tự do kinh tế của Ucraina, Nga và Trung Quốc.

Qua việc phân  tích  sự  tiến  triển và các chỉ số  cấu  thành  mức  độ  tự  do  kinh  tế  của  Việt Nam,  chúng  ta  có  thể  thấy  rằng: mặc  dù Việt Nam đã đạt được những  tiến bộ đáng kể  trong việc  thúc  đẩy  sự  phát  triển  nền  kinh  tế  thị trường  thông  qua  việc  gia  tăng mức  độ  tự  do kinh tế, còn rất nhiều chỉ số khác Việt Nam cần
phải  cải  thiện  để  phát  triển  nền  kinh  tế  thị trường trong thời gian tới. Đó là các chỉ số liên quan tới tự do tài chính, tự do đầu tư, tự do lao động,  quyền  sở  hữu  và  tham  nhũng.  Do  vậy, công việc trong thời gian  tới mà Việt Nam cần phải làm để hoàn thiện nền kinh tế thị trường là cải  cách  hệ  thống  tài  chính  và  ngân  hàng,  cải
thiện môi  trường  đầu  tư,  phát  triển  thị  trường lao động, hoàn thiện bộ máy pháp luật thực thi quyền  sở  hữu  và  quyết  tâm  đẩy  lùi  vấn  nạn tham nhũng.

2. Những  tác  động  của  tự  do  kinh  tế  trong quá  trình  chuyển  đổi  sang  nền KTTT  định hướng XHCN ở Việt Nam

Mặc dù kinh  tế  thị  trường đã chứng  tỏ  tính ưu việt của nó trong việc đem lại sự giàu có và thịnh vượng cho các quốc gia từ Tây Âu cho tới Bắc Mỹ  và  nhiều  quốc  gia Châu Á  ngày  nay, nhưng nó vẫn còn bị thành kiến và bị hiểu lầm như một cái gì đó thuộc về ý thức hệ. Quả thật, kinh  tế  thị  trường  không  phải  là  không  tồn  tại những  bất  công  và  hạn  chế. Hơn  nữa,  nếu  cơ chế  thị  trường  được  vận  hành  ở một  quốc  gia thiếu  dân  chủ  và  minh  bạch  thì  cơ  chế  thị trường  còn bị  lạm dụng  để  thu  lợi  cho một  số nhóm  đặc  quyền  cũng  như  gây  ra  những  bất công  trầm  trọng.  Tuy  nhiên,  các  bằng  chứng phân tích tương quan gia tăng về mức độ tự do
kinh tế và GDP/người ở 157 quốc gia cho thấy, mối quan hệ tích cực và chặt chẽ giữa hai chỉ số này(7).  Số  liệu  thực  tế  cho  thấy  phần  lớn  các nước có điểm số tự do kinh tế dưới 60% chỉ đạt mức GDP theo ngang giá sức mua (PPP – GDP) bình quân trên đầu người dưới 10000USD/năm. Ngược lại, hầu hết các nước có chỉ số trên 60%
đều đạt mức  PPP  – GDP  bình  quân đầu  người trên 10000 USD. Số liệu thực tế cũng cho thấy, 20%  nhóm nước  có mức độ  tự do kinh  tế  cao nhất  đạt mức  PPP  -  GDP  bình  quân  trên  đầu người  hàng  năm  là  28000USD,  nhóm  20%  có mức độ tự do kinh tế cao thứ hai đạt mức PPP – GDP/người  xấp xỉ  14000USD, nhóm  thứ ba  là 8000USD.  Hai  nhóm  cuối  cùng  có mức  độ  tự do  kinh  tế  thấp  nhất  chỉ  đạt  mức  PPP  – GDP/người  hàng  năm  xấp  xỉ  4000USD.  Hơn nữa, các nước có mức độ tự do kinh tế cao hơn thường  có  tỷ  lệ  thất  nghiệp  thấp  hơn.  Nhóm 20% các nước có chỉ  số  tự do kinh  tế cao nhất có  tỷ  lệ  thất nghiệp  là 5.9%,  trong khi đó  tỷ  lệ thất nghiệp  lần  lượt cho các nhóm  tiếp  theo  là 8.9%,  14.6%,  17.4%  và  19.6%.  Bên  cạnh  đó, nhóm các nước có mức độ tự do kinh tế cao có xu  hướng  duy  trì mức  lạm  phát  thấp  hơn.  Số liệu thực tế cho thấy nhóm 20% các nước có chỉ số tự do kinh tế cao nhất có mức lạm phát chỉ là 2.9% trong khi đó nhóm 20% các nước có mức độ tự do kinh tế thấp nhất trải qua mức lạm phát lên tới 44% năm 2008(8). Ngược  lại,  sự  thịnh vượng về kinh  tế gia tăng sẽ làm cho nền kinh tế thị trường phát triển hơn  thông qua việc  cải  thiện các chỉ  số cấu  thành mức  độ  tự  do kinh  tế. Trong một nghiên  cứu  của Minxin Pei về “Thiết chế chính trị, dân chủ và phát triển”(9)
ở 83 nước cho  thấy mối quan hệ  tích cực giữa  sự  thịnh  vượng  và  tự  do  kinh  tế.  Sự  thịnh vượng kinh  tế  tạo điều kiện cho các doanh nghiệp cũng như từng cá nhân sẽ tích luỹ được nguồn lực nhiều  hơn, ý  thức  hơn được  những  quyền  lợi  của mình về sự độc lập. Do vậy, họ đòi hỏi quyền tự do kinh doanh,  tự do đầu  tư và  tự do  lao động nhiều hơn nữa. Đương nhiên, đây phải là những quyền lợi chính đáng và hợp pháp cấu thành nên nền tảng cơ bản cho một xã hội dân chủ.  

2.1. Tự do kinh tế và  sự thịnh vượng kinh  tế ở Việt Nam

Kết quả phân  tích  tương quan ở Việt Nam cũng cho  thấy xu hướng  tương  tự về mối quan hệ giữa sự tự do kinh tế và sự gia tăng mức độ thịnh vượng kinh  tế  trong gần hai  thập kỷ qua. Kết  quả  phân  tích  dữ  liệu  về  tự  do  kinh  tế  và GDP/người  theo  PPP  cho  hệ  số  tương  quan Pearson(10)  bằng  0,867.  Điều  đó  cho  thấy mối tương quan chặt chẽ giữa mức độ tự do kinh tế và sự gia tăng GDP/người theo PPP ở Việt Nam trong hơn một thập kỷ qua. 
Năm 1995, điểm  số  tự do kinh  tế của Việt Nam  là  41.7%  và  PPP  -  GDP/người  là
1550USD.  Sau  hơn một  thập kỷ,  chỉ  số  tự  do kinh  tế của Việt Nam đã  tăng  tới khoảng 50% và GDP/người  theo PPP cũng gia  tăng gấp đôi (3100USD) vào năm 2007. Năm 2008, mặc dù chỉ số tự do kinh tế được cải thiện một phần rất nhỏ,  từ 49.4% năm  2007  lên 49.8% năm  2008 nhưng do lạm phát và khủng khoảng kinh tế đã làm cho PPP-GDP/người ở Việt Nam  sụt giảm đáng  kể,  xuống  còn  2600USD  mặc  dù  Việt Nam  đã  đạt  mức  GDP  trên  đầu  người  là 1024USD(11).  Như  vậy,  đằng  sau  những  cải thiện về chỉ số cấu thành nên mức độ tự do kinh tế  nói  lên   điều  gì  và  vì  sao khi mức  độ  tự  do kinh tế tăng lên lại làm gia tăng sự thịnh vượng
về kinh tế? Thứ nhất, các chỉ số cấu thành tự do kinh  tế  tăng  lên  nhanh  chóng  phản  ánh  sự  cải thiện của các chính sách và cơ chế liên quan tới hoạt động của bộ máy cơ quan Nhà nước, hiệu lực  và  hiệu  quả  của  hệ  thống  pháp  luật,  hiệu quả của hệ thống tài chính và ngân hàng, và sự khuyến  khích  đầu  tư.  Thứ  hai,  chính  sự  cải thiện  các  cơ  chế  và  chính  sách  đã  làm  cho nguồn lực trong nền kinh tế được sử dụng hiệu quả hơn,  từ đó  thúc đẩy  tăng  trưởng kinh  tế và thu  nhập  bình  quân  trên  đầu  người  tăng  lên. Hơn nữa, sự thịnh vượng về kinh tế gia tăng sẽ làm  cho nền  kinh  tế  thị  trường phát  triển  hơn, thông  qua  việc  cải  thiện  các  chỉ  số  cấu  thành mức  độ  tự  do  kinh  tế  ở  Việt  Nam  trong  quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế thời gian qua. Ví dụ, khi người dân có thu nhập cao hơn, kéo theo tích luỹ nguồn tiền tệ và tài sản nhiều hơn; do vậy, họ yêu cầu phải có một hệ  thống ngân hàng  và  thị  trường  chứng  khoán với  thông  tin minh bạch, hiệu quả hơn để  tiền  tiết kiệm của họ được đầu tư và sinh lợi một cách hiệu quả và an toàn. Từ đó, khu vực tài chính phải được cải thiện, hoạt động minh bạch hơn, và vì thế chỉ số tự do tài chính sẽ được cải thiện. 

2.2. Tự do kinh tế và sự ổn định kinh tế – xã hội ở Việt Nam

Tự do kinh  tế đem  lại những  tác động  tích cực  đến  các mục  tiêu  phát  triển  kinh  tế  và  xã hội. Thực  tế  ở Việt  Nam  cho  thấy,  sự  chuyển đổi  sang  nền  kinh  tế  thị  trường  đã  đem  lại những  tác động  tích cực  tới việc  xoá đói giảm nghèo, tạo việc làm, ổn định giá cả. Do vậy, các sức  ép  về  vấn  đề  xã  hội  đã  được  giảm  thiểu đáng  kể  trong  quá  trình  chuyển  đổi  sang  nền kinh tế thị trường ở Việt Nam. Biểu đồ 2 cho  thấy diễn biến của chỉ  số  tự do kinh tế và một số chỉ số liên quan tới sự ổn
định kinh tế vĩ mô cũng như mục tiêu phát triển của Việt Nam  trong  thời  gian  từ  1993  -  2008. Cùng  với  sự  gia  tăng  gần  10% mức  độ  tự  do kinh tế của Việt Nam trong thời gian này là sự thành công đầy ấn tượng trong công tác xóa đói giảm nghèo. Từ 40% dân số sống dưới ngưỡng nghèo vào đầu những năm 1990(12), chỉ  số này
đã giảm mạnh xuống còn khoảng 20% vào năm 1997, 10% vào năm 2004 và 8% vào năm 2006.

“Tự  do  kinh  tế  đem  lại  những điều  kiện  tích  cực  cho phát  triển kinh tế,  tạo  việc làm và giảm nghèo”.

Bên cạnh đó, kết quả phân tích tương quan cho thấy mối quan hệ khá mạnh giữa việc mở rộng tự  do  kinh  tế  và  sự  giảm  thiểu  thất  nghiệp(13). Trong  thời gian này,  tỷ  lệ  thất nghiệp của Việt Nam  đã  giảm  từ  khoảng  6%  vào  giữa  những năm 1990 xuống còn 5% vào năm 2008. Tự do kinh  tế  tạo  ra  nhiều  cơ  hội  cho  người  dân  có việc  làm  và  thu  nhập  thông  qua  quá  trình mở rộng  các  quyền  tự do  kinh  doanh,  tự do  thương  mại,  tự do đầu  tư và  tự do lao động. Hơn nữa, sự gia  tăng các chỉ số  liên  quan  tới  tự do tài chính làm cho việc tiếp cận vốn dễ dàng hơn, tự do tài khoá và quy mô Chính phủ được hoàn  thiện, quyền  sở hữu được bảo vệ. Những yếu  tố này đã  làm cải  thiện môi  trường đầu  tư trong  nước,  từ  đó khuyến  khích  sản  xuất  kinh doanh, tạo ra việc làm và cải thiện thu nhập cho người dân ở Việt Nam trong thời gian qua.
Mặc  dù  thành  tựu về  giảm  nghèo  của Việt Nam  được  các  tổ  chức  quốc  tế  và  nhiều  quốc gia đánh giá cao, nhưng một vấn đề đáng lưu ý là: phần  lớn người nghèo  tập  trung ở các vùng nông  thôn và họ  là đối  tượng dễ bị  tổn  thương nhất  trong  quá  trình  tự  do  hoá  kinh  tế  ở  Việt Nam.  Năm  2007,  có  73.3%  dân  số  Việt  Nam sống  ở  nông  thôn  với  tỷ  lệ  nghèo  theo  chuẩn mới là 20.3%. Hơn nữa, tỷ  lệ dân số trong khu vực phi nông nghiệp  là 29% và  tỷ  lệ nghèo  là 5.0%,  trong khi đó  71.0%  dân  số  nông nghiệp với  tỷ  lệ  nghèo  là  23.4%.  Hay  90.9%  tỷ  lệ nghèo đến từ dân số trong nông nghiệp và 9.1% tỷ  lệ  nghèo  đóng  góp  bởi  dân  số  phi  nông nghiệp. Một con số không đáng ngạc nhiên nữa cho  thấy,  có  tới  53.1%  dân  số Việt  Nam  sinh sống nhờ cây  lúa và  trong  số họ  tỷ  lệ nghèo  là 23.4%, đóng góp vào tỷ lệ nghèo chung của cả nước  là  78%(14).  Cả  nước  hiện  có  khoảng  3.9 triệu hộ nghèo, chiếm 22% số hộ cả nước (theo chuẩn  mới,  2005).  Tuy  nhiên,  phần  lớn  số người nghèo chỉ tập trung ở các vùng kém phát triển. Nếu tính theo vùng, thì tỷ lệ nghèo ở vùng Tây  Bắc:  49%;  Đông  Bắc:  25%;  đồng  bằng sông  Hồng:  8.8%;  Duyên  hải  Bắc  Trung  bộ: 29.1%;  duyên  hải Nam Trung  bộ:  12.6%; Tây Nguyên: 28.6%; Đông Nam bộ: 5.8%; và vùng ĐBSCL: 10.3%(15). Như vậy, tự do kinh tế đem
lại những điều kiện tích cực cho phát triển kinh tế,  tạo việc  làm và giảm nghèo. Tuy nhiên,  tác động  của  nó  tới mức  độ  giảm  nghèo  là  khác nhau giữa các vùng, các ngành. Theo quy  luật kinh  tế, ở đâu có nhiều nguồn  lực và điều kiện thuận lợi hơn cho phát triển kinh tế, thì ở đó sẽ khai  thác  được  nhiều  hơn  các  cơ  hội  do  quá trình tự do kinh tế đem lại. Trái với một số nhận định bi quan cho  rằng  tự do kinh  tế  sẽ  làm gia tăng nhanh chóng mức độ bất bình đẳng ở Việt Nam  trong quá  trình chuyển đổi  sang nền kinh tế thị trường. Biểu đồ trên cho thấy mặc dù mức độ  tự do kinh  tế đã gia  tăng đáng kể nhưng hệ số gini theo thu nhập chỉ tăng nhẹ từ 0.39 năm
1993 lên 0.43 trong năm 2006.
Chính  vì  vậy,  tạp  chí  The  Economist  của Anh đã đánh giá thành tựu tăng trưởng của Việt Nam  có  ý  nghĩa  “nhân  bản”  bởi  chúng  ta  đã duy  trì  được  sự  công  bằng  và  trong  so  sánh tương  quan  với nhiều nước khác như  Trung Quốc, Ấn Độ và Philippines,…

“Tạp  chí The Economist  của Anh  đã  đánh  giá  thành  tựu tăng  trưởng  của  Việt  Nam có  ý  nghĩa  “nhân  bản”  bởi chúng  ta đã duy  trì được sự công  bằng  và  trong  so  sánh tương  quan  với  nhiều  nước khác  như  Trung  Quốc,  Ấn Độ và  Philippines,… thì Việt Nam  được  coi  là  nước  đạt được  sự  tăng  trưởng  mang tính công bằng hơn”.

Việt  Nam  được coi  là  nước  đạt được  sự  tăng trưởng  mang tính  công  bằng hơn(16).  Thành công  này  có được  là  do  Việt Nam  đã  thực hiện khá  tốt các chính  sách  liên quan  tới phân phối thu nhập(17) và khuyến khích phát triển khu vực  tư  nhân  trong  thời  gian  qua.  Tuy  nhiên, điều  này  không  khẳng  định  là  tình  trạng  bất bình đẳng ở Việt Nam  sẽ không gia  tăng  cùng với quá  trình  tự do hoá kinh  tế. Trong gần hai thập kỷ qua,  sự chênh  lệch giữa  các nhóm  thu nhập  cao nhất và  thấp nhất đang  có  xu  hướng tăng  lên  đáng  kể.  Theo  số  liệu  của  Tổng  cục Thống  kê  thì  năm  1990,  nhóm  20%  dân  số  có thu nhập cao nhất có  thu nhập  lớn hơn 4.1  lần so với 20% nhóm dân số có thu nhập thấp nhất. Tỷ  lệ  chênh  lệch  này  đã  tăng  lên  6.2  lần  năm 1993, 7.6 lần năm 1999 và 8.4 lần năm 2006. Số liệu của Tổng Cục Thống Kê năm 2006 cho thấy, có tới 85% dân số đô thị thuộc nhóm 20% dân số giàu nhất  trong khi đó  tới một nửa dân  số nông thôn thuộc 20% nhóm dân số nghèo nhất.

Để mở rộng tự do kinh tế, các quốc gia phải tiến hành cải cách khu vực  tài chính, hệ  thống ngân hàng và tự do hóa thương mại. Những cải cách  này  tạo  tiền  đề  cho  sự  ổn định  của  đồng nội  tệ. Tuy nhiên,  trong giai đoạn đầu của quá trình  chuyển  đổi,  không  riêng  gì  nền  kinh  tế Việt  Nam mà  các  quốc  gia  khác  ở Đông  Âu, Trung Quốc cũng phải  trải qua những  thay đổi mạnh mẽ  và  những  thay  đổi  trong  chính  sách cải cách đã tạo ra những cú sốc cho nền kinh tế. Ở Việt Nam,  do  giá  cả  đã  bị kìm  hãm và vận hành không theo nguyên lý thị trường trong một thời  gian  dài,  nên  khi  chuyển  sang  cơ  chế  thị trường  thì  sự  thay  đổi  tất  yếu  sẽ  tạo  ra  những thay đổi  lớn  trong giá cả và gây  ra  sự bùng nổ lạm phát. Chính vì vậy, lạm phát đã tăng ở mức kỷ  lục  vào  nửa  cuối  các  năm  1980  và  đầu những năm 1990 ở Việt Nam. Tuy nhiên, bằng chứng  từ  phân  tích mối  tương  quan  giữa  lạm phát và tự do kinh tế từ đầu thập niên 1990 cho tới năm 2008 cho thấy mối liên hệ giữa hai yếu tố  này  là  rất  thấp  và  không  có  ý  nghĩa  thống kê(18). Do  vậy,  chúng  ta  không đủ bằng  chứng
để  kết  luận  rằng  sự mở  rộng  tự  do  kinh  tế  đã dẫn  tới  lạm phát  trong  thời gian này. Hơn nữa, kể  từ 1993 cho  tới 2007,  lạm phát ở Việt Nam được duy trì ở mức dưới 10% đã tạo ra một môi trường kinh  tế vĩ mô ổn định cho  sự phát  triển kinh tế xã hội của Việt Nam.

2.3. Tự do kinh tế, cải cách hành chính và sự ổn định chính trị ở Việt Nam

Ở  Việt  Nam  trong  thời  gian  qua,  sự  mở rộng  tự do kinh  tế đã đặt  ra yêu cầu phải hoàn thiện bộ máy chính quyền và chế độ chính  trị. Hệ  thống  luật pháp đã và đang được xây dựng và hoàn thiện, các cơ quan Nhà nước được yêu cầu phải hoàn thành các công việc gắn với tính giải  trình cũng cũng như  trách nhiệm cao hơn. Có  thể chỉ ra một  tác động  tích cực của  sự mở rộng  tự  do  kinh  tế  tới  yêu  cầu  hoàn  thiện  hệ thống luật pháp và sự vận hành của các cơ quan Nhà nước ở Việt Nam. Quyền  tự do đầu  tư và tự do kinh doanh đã đặt ra yêu cầu phải cải cách cơ  chế,  thủ  tục  hành  chính  sao  cho  doanh nghiệp có thể đăng ký kinh doanh và vận hành một cách tối ưu nhất. Sự ra đời của Luật doanh nghiệp năm 2000 được coi là một bước đột phá trong cải cách hành chính ở Việt Nam bởi  luật đã xoá bỏ hàng trăm giấy phép con và nhiều thủ tục hành chính phiền hà gây  tốn kém  thời gian và  tiền  bạc  cho  doanh  nghiệp  khi  khởi  sự  và vận hành. Sự ra đời của luật này khẳng định sự thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ quyền tự do kinh doanh của người dân. Qua đó, nó cũng giúp cho bộ máy chính quyền hoạt động hiệu quả hơn và do vậy thể chế chính trị ổn định hơn. Quá trình  mở rộng tự do kinh tế trong thời gian qua đã tạo ra  những  nền  tảng  thuận  lợi  cho  sự  phát  triển của  khu vực  kinh  tế  tư  nhân  và  chính  sự  phát triển lớn mạnh của khu vực kinh tế này cũng là minh  chứng  cho  sự mở  rộng  tự  do  kinh  tế  ở Việt Nam trong thời gian qua. Khu vực tư nhân với  những  ưu  thế  như  quy  mô  nhỏ,  sử  dụng nhiều  lao  động  và  phân  bố  rộng  khắp  ở  mọi vùng miền, ngành nghề;  đã  đem  lại  những  tác động  tích  cực  tới  tạo  việc  làm,  cải  thiện  thu nhập và làm cho sự phát triển ít thiên lệch cũng như  mang  tính  đồng  đều  hơn  giữa  các  vùng miền, ngành nghề ở Việt Nam. 
Kết  quả  phân  tích  tương  quan  giữa  tự  do kinh  tế và chỉ  số không có  tham nhũng ở Việt Nam và 157 nước quốc gia cho  thấy mối quan hệ khá mạnh giữa hai chỉ số này, điều đó hàm ý rằng  tự  do  kinh  tế  sẽ  làm  giảm  thiểu mức  độ tham nhũng(19). Tuy nhiên, trên thực tế ở một số nước như Uganda và Mêhicô(20), mặc dù chỉ số tự do kinh tế khá cao nhưng mức độ giảm thiểu tham nhũng  lại  rất  thấp vì  tự do kinh  tế đi  liền với một bộ máy Nhà nước kém hiệu quả, thiếu minh bạch và hệ  thống  thực  thi pháp  luật  lỏng lẻo  chỉ  càng  làm  cho  tham  nhũng  thêm  trầm trọng. Trong những năm qua, Việt Nam đã tỏ rõ quyết  tâm  chống  tham  nhũng  thông  qua  việc
phát hiện và đem ra xét xử, kỷ luật nhiều cán bộ cấp cao dính  líu  tới  tham nhũng. Hơn nữa, các biện  pháp  tuyên  truyền,  các  chính  sách  chống tham  nhũng  cũng  được  phổ  biến,  thực  hiện nhằm kiềm  chế  và  từng  bước  loại  bỏ  vấn nạn này. Tuy nhiên, chỉ  số không có  tham nhũng ở Việt Nam vẫn duy trì ở mức rất thấp, trung bình
26% trong gần một thập kỷ qua. Năm 2001, chỉ số  này  của Việt Nam  là  26%,  năm  2005  giảm xuống  24%  và  ba năm  gần đây  duy  trì  ở mức 26%. Năm 2008, điểm số không có tham nhũng của  Việt  Nam  là  26%  cũng  ở  mức  thấp  hơn mức bình quân của Thế giới (41.1%),  thấp hơn cả Trung Quốc và Ấn Độ là 33% và Thái  Lan
là 36%. Do vậy, Việt Nam được xếp cùng với các nhóm nước như Campuchia, Indônêxia, Lào và  Philipin  -  những  n
ước  có  mức  độ  tham nhũng cao ở khu vực và  trên  thế giới. Điều đó cho thấy, tự do kinh tế chưa đem  lại nhiều  tác động  tích  cực  tới  việc  giảm  thiểu  tham nhũng(21).  Tham  nhũng    đã  và  đang  gây  ra những tác động tiêu cực về kinh tế, chính trị và xã hội ở Việt Nam. Nếu  theo ước  tính khoảng 20  -  30%  vốn  đầu  tư  xây  dựng  cơ  bản  bị  thất thoát  sẽ  tương đương với khoảng 4  – 5% GDP của Việt Nam bị mất đi do  tham nhũng. Ngoài việc làm thất thoát tài sản, gây thiệt hại về kinh tế cho Nhà nước và nhân dân,  tham nhũng còn gây ra những tác động tiêu cực khác đối với sự suy  giảm  lòng  tin  của  nhân  dân  vào  bộ máy công chức, lãnh đạo. Đối với quốc tế, đó là hình ảnh không  tốt và  làm phương hại đến các mối quan hệ hợp  tác. Nếu vấn nạn này không được đẩy lùi và xoá bỏ, Việt Nam sẽ rất khó đạt đến một  nền  kinh  tế  thị  trường  phát  triển  đầy  đủ trong thời gian tới. Hơn nữa, điều đó đã và đang làm tổn hại đến nỗ lực xây dựng nền kinh tế thị
trường  định  hướng  xã  hội  chủ  nghĩa  với mục tiêu tốt đẹp như Việt Nam mong muốn.

3. Kết luận

Nền kinh tế của Việt Nam sau hơn hai thập kỷ chuyển đổi, đã hình thành những nền tảng để tiến  tới một nền kinh  tế  thị  trường đầy đủ hơn. Xét  ở  khía  cạnh mở  rộng  tự  do  kinh  tế,  trong thời gian qua, trình độ phát triển của nền kinh tế thị  trường ở Việt Nam đã đạt được những  tiến bộ đáng kể  thông qua việc cải  thiện mức độ  tự
do kinh tế, trong đó phải kể đến sự cải thiện các quyền tự do về lao động, tự do tiền tệ, tự do tài chính,  tự do kinh doanh,  tự do đầu  tư và  tự do tài khoá. Điều đó đã được thể hiện rõ trong thực tế như: sự phát triển nhanh chóng của thị trường sức lao động, thị trường vốn, quá trình cải cách hệ  thống  tài  chính,  thuế  khoá  và  đặc  biệt thành  tích  về  thu  hút  đầu  tư  nước  ngoài  cũng như  tiến  bộ  trong  cải  thiện  môi  trường  kinh doanh  những năm gần đây.
Tuy  nhiên,  còn  rất  nhiều  các  vấn  đề  liên quan tới quyền sở hữu, tham nhũng mà đặc biệt khu vực ngân hàng cần  phải  cải  thiện, bởi  những  chỉ  số  này  có  ảnh  hưởng quan  trọng  tới việc xây  dựng một  nền kinh  tế  thị  trường định  hướng  xã  hội chủ  nghĩa  ở  Việt Nam.  Trong  đó, vấn  đề  tham nhũng,  không những  chỉ  là  một
chỉ số liên quan tới tự do kinh tế, mà nó còn là một chỉ  số đánh giá mức độ  trong  sạch của bộ máy, hiệu quả hoạt động và tính minh bạch của một chế độ. Vì vậy, nó có ý nghĩa chính trị hết sức quan trọng. Do đó, Việt Nam cần hết sức nỗ lực để cải thiện chỉ số này trong những năm tới.

“Tự do kinh tế cũng đang bộc  lộ  những  tác  động tiêu cực tới sự phân tầng xã  hội,  bởi  nó  đem  lại những lợi  ích lớn hơn và đổ  dồn  về  các  vùng,  các ngành  và  những  nhóm người sở hữu những điều kiện  thuận  lợi  hơn  cho phát triển kinh tế”.

Tự do kinh  tế cũng đang bộc  lộ những  tác động  tiêu  cực  tới  sự  phân  tầng  xã  hội,  bởi  nó đem lại những lợi ích lớn hơn và đổ dồn về các vùng, các ngành và những nhóm người  sở hữu những  điều  kiện  thuận  lợi  hơn  cho  phát  triển
kinh tế. Mặc dù, nhìn vào chỉ số gini, chúng ta có thể lạc quan nói rằng bất bình đẳng của Việt Nam  còn  thấp  xa  hơn  nhiều  nước  trong  khu vực. Tuy nhiên, điều đó không hoàn  toàn phản ánh  một  thực  tế  rõ  ràng  là  sự  bất  bình  đẳng đang  tăng  lên  nhanh  chóng  giữa  thành  thị  và nông thôn, giữa các nhóm dân cư trong xã hội.
Trong đó, phải nói tới khu vực nông thôn, nông dân và nông nghiệp – đây là đối tượng dễ bị tổn thương  nhất  trong  bất  cứ  hoàn  cảnh  nào.  Do vậy,  sự   điều  tiết hợp  lý  là  cần  thiết và những chính sách phát triển thiên lệch bất lợi cho nông nghiệp, nông thôn cần được xem xét. Hơn nữa, một chương trình, kế hoạch quan tâm tới vấn đề “tam nông” là nông nghiệp, nông thôn và nông  dân là hoàn toàn cấp thiết trong những năm tiếp theo.

CÁC BIỂU BẢNG LIÊN QUAN TRONG BÀI, CÁC BẠN CÓ THỂ XEM TẠI ĐÂY

Chú thích:

(1)  Trích từ: http://vietnamnet.vn/kinhte/2005/06/463469/

(2)  Xem: h t tp: //vi e tn ame se .v i etn am.u semba s sy .g ov /bt a _nme f a ct sh e e t .h tml 

(3)  Simeon Djankov and Caralee McLiesh (2006), Doing  Business Report 2006, xem tại: http://www.doingbusiness.org

(4)  h t tp: //vi e tn ame se .vi etnam.usemba s s y.go v/bt a _nme f a ct s he et .html 

(5) Xem  thêm:  the 2008  index of  economic  freedom, p 5 (www.heritage.org.index).

(6)  Được  tính  toán dựa  trên  chỉ số nhận  thức  tham nhũng (CPI  – Corruption Perceptions  Index)  của  Tổ  chức minh bạch Quốc tế. Chỉ số này càng cao thì mức độ tham nhũng càng thấp và ngược lại.    Xem  th êm cá ch   t ín h   toá n   ch ỉ  s ố  ở ht tp: / /www. t ransparency .org/pol icy _research/survey s_indices /cpi /20

(7)  Xem thêm: www.heritage.org/index. tr 5.

(8)  [sđd, tr 8].
(9)  Farrukh Iqbal và Jong-ll You (2002), Dân chủ , Kinh tế thị  trường  và Phát  triển  từ góc nhìn Châu Á, Ngân hàng Thế giới và NXB Thế giới, Hà Nội, tr 60,61.

(10)   Số  liệu  tính  toán  của  tác  giả  từ  dữ  liệu  của  http://www.cia.gov/library/publications/the-word- facebook/  và  www.heritage.org/index.    Hệ  số  tương quan  Pearson  đo  lường  mức  độ  và  hướng  của  quan  hệ tương quan. Hệ số có giá  trị giữa – 1 và +1. Giá trị càng
gần ± 1 cho thấy mối quan hệ tương quan hoàn hảo. Xem thêm: Pete Y. Chen and Paula M. Popovich  “Correlation: Parametric  and  Non-parametric  measures”  a  SAGE University Paper. 2002.
(11)  Xem thêm
http://www.cia.gov/library/publications/the-word-
facebook/ và www.heritage.org/index

(15)  Ngân hàng Thế giới  (2008), Báo  cáo phát  triển Việt Nam 2008 – Bảo trợ xã hội, tr 9-11.
(16) http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID
=154967&ChannelID=11
(17)
Xem: Nguyễn Công Nghiệp  (2006), Phân phối  trong
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam, Sách chuyên khảo, NXBCTQG, Hà Nội.

(18)  Hệ số tương quan Pearson = 0,048 là rất nhỏ, và không có ý nghĩa thống kê.

(19)   Chỉ  số  không  có  tham  nhũng  (  freedom  from corruption) càng cao có nghĩa là mức độ tham nhũng càng thấp. Kết quả phân tích tương quan giữa chỉ số  tự do kinh tế và chỉ số không có tham nhũng ở   Việt Nam cho hệ số tương quan Pearson = 0,734 và 157 nước trên thế giới năm 2008 cho thấy hệ số tương quan Pearson = 0,78.
(20)  Năm 2008, chỉ số tự do kinh tế của Uganda  là 63,5 và chỉ số không có tham nhũng là 28,0 và ở Mêhicô tương tự là 65,8 và 35,0. Trong khi đó chỉ số không có tham nhũngbình  quân  trên  thế  giới  là  40,3.  Xem  thêm http://www.heritage.org/Index/Country
(21)   Xem:  http://vietbao.vn/Xa-hoi/Tham-nhung-lang-phi-lam-giam-4-GDP-nam/40134042/157

Tài liệu tham khảo

[1]  Farrukh  Igbal  và  Jong-ll  You  (2002),  Dân  chủ, Kinh  tế  thị  trường  và  Phát  triển  -  Từ  góc  nhìn Châu Á, Ngân hàng Thế giới và NXB Thế giới.
[2]  Ngân  hàng  Thế  giới  (2008),  Báo  cáo  phát  triển Việt Nam 2008 – Bảo trợ xã hội. 
[3]  Ngân hàng Thế giới (2008), Hội nghị giữa nhiệm kỳ  nhóm  tư  vấn  các  nhà  tài  trợ  cho  Việt  Nam, Sapa.
[4]  Nguyễn Công Nghiệp (2006), Phân phối trong nền kinh  tế  thị  trường  định  hướng  xã  hội  chủ  nghĩa, sách  chuyên  khảo, NXB  Chính  trị Quốc  gia, Hà Nội.
[5]  Kornai Jánas (2001), Con đường dẫn tới nền kinh tế thị trường, Hội tin học Việt Nam.
[6]  Richard Bergeron  (1995), Phản phát  triển, cái giá
của chủ nghĩa tự do, sách tham khảo, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[7]  Werner Zohlnhoefer & Hans  – Rimbert Hemmer (1997), Kinh  tế  thị  trường  xã  hội,  tập  bài  giảng chuyên đề, chương  trình  hợp  tác Việt Đức, Viện Konnra Adenauer xuất bản, Bonn.
[8]  Chuyển đổi kinh tế  trên thế giới và một số vấn đề lý  luận  và  bằng  chứng  thực  nghiệm  mới  (2006), Viện Khoa học xã hội Việt Nam, NXB Thế giới.
[9]  The  2008  index  of  economic  freedom,  p5,  xem tại: www.heritage.org.index
[10]  Simeon  Djankov  and  Caralee  McLiesh  (2006),
Doing  Business  Report  2006,  xem  tại: http://www.doingbusiness.org

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI, KINH TẾ VÀ KINH DOANH SỐ 25 (2009), TR 217 – 229

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: