ĐẠI HỌC HAY HỌC ĐẠI?

NGUYỄN LÂN DŨNG

Thành tích xây dựng hệ thống các trường đại học cao đẳng ở nước ta là rất lớn. Nhưng về chất lượng đào tạo thì quả thật là có quá nhiều vấn đề cần bàn.

Thành tích xây dựng hệ thống các trường ĐHCĐ ở nước ta là rất lớn. Không dễ gì có tới 62/63 tỉnh thành đã có trường ĐHCĐ, đấy là một cố gắng đáng kể với con số 180 trường đại học, 232 trường cao đẳng và 28 trường thuộc các ngành quốc phòng an ninh và với tổng số sinh viên ĐHCĐ niên học 2008-2009 lên đến trên 1,7 triệu. Nhưng về chất lượng đào tạo thì quả thật là có quá nhiều vấn đề cần bàn.

Truyền thống hiếu học của nhân dân ta thật quý giá. Không phải có nhiều nước mà hầu hết học sinh đều muốn học tiếp đại học, cao đẳng (ĐHCĐ) và các phụ huynh cũng đều muốn như vậy. Nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng yêu cầu cần có số người tốt nghiệp ĐH không thấp hơn nhiều so với các nước khác.

Từ lâu, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã có chỉ đạo rất xác đáng là yêu cầu “Trường ra trường, lớp ra lớp, thầy ra thầy, trò ra trò”.

Hiện nay đâu phải trường nào cũng ra trường! Có tới 15/87 các trường ngoài công lập chưa xây dựng được trường theo địa điểm đã đăng ký. Thậm chí có trường mở trong các hốc trống của sân vận động (!) Có trường thuê mướn rất nhiều cơ sở ở khá phân tán trong thành phố. Các trường tập trung quá nhiều ở khu vực đồng bằng sông Hồng. Đây là nơi có trên 18 triệu dân nhưng sinh viên trên 1 vạn dân là 393, trong khi ở đồng bằng sông Cửu Long với dân số cũng tới trên 17 triệu dân thì chỉ có 75 sinh viên/1 vạn dân.

Cần tăng cả về số lượng lẫn chất lượng các trường dự bị đại học để nhanh chóng đào tạo cán bộ giỏi cho đồng bào ở các vùng cao, vùng sâu, vùng xa. Các hình thức đào tạo từ xa, đào tạo chuyên tu, tại chức có thể kéo dài thời gian hơn đào tạo chính quy và cần thi cử thật nghiêm túc để sớm xoá bỏ thành kiến “dốt như chuyên tu, ngu như tại chức”.

Cần có chính sách ưu đãi đặc biệt cho các giảng viên có trình độ Sau đại học yên tâm công tác ở các tỉnh còn gặp nhiều khó khăn về đời sống vật chất và tinh thần. Các trường ĐHCĐ phải đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Vậy mà nhẽ nào tỉ lệ ngành khoa học tự nhiên chỉ có 2%, tỉ lệ ngành nông lâm nghiệp chỉ có 8%, trong khi các ngành như khoa học xã hội nhân văn và pháp lý lại chiếm đến 38% (!).

Hiện nay đâu phải lớp nào cũng ra lớp. Ở nước ngoài ngay trường phổ thông nhiều nơi cũng có máy chiếu (projector) để học sinh được thừa hưởng các thành tựu của công nghệ thông tin. Vậy mà liệu có bao nhiêu phần trăm số lớp ở các trường ĐHCĐ ở nước ta có máy chiếu? Số máy tính cho sinh viên đâu có nhiều, vậy mà ngay số lượng giáo trình điện tử còn rất ít (1.830 giáo trình) và bao nhiêu sinh viên có thể sử dụng? Hơn nữa những giáo trình này đã có cơ quan nào thẩm định về chất lượng chưa? Hiện tượng thầy đọc trò chép đang còn rất phổ biến.

Thầy ra thầy là vấn đề bức xúc nhất hiện nay của hệ thống các trường ĐHCĐ. Hiện tượng “cơm chấm cơm” là không thể chấp nhận được. Trong khi giai đoạn 1987-2009 số sinh viên cả nước tăng 13 lần nhưng số giảng viên chỉ tăng có 3 lần mà thôi. Hiện nay trong số 61190 giảng viên các trường ĐHCĐ chỉ có 10,16% là tiến sĩ, 37,31% là thạc sĩ. Có nghĩa là còn tới 52,53% giảng viên các trường ĐHCĐ chỉ là sinh viên đã tốt nghiệp đại học (!). Trong số 61.190 giảng viên chỉ có 2.286 giáo sư và phó giáo sư, chiếm tỉ lệ 3,74%, lại thường là các thầy cô cao tuổi, phần lớn đã về hưu, đã tách rời hoàn toàn với nghiên cứu và cập nhật các kiến thức mới. Đến hôm nay mà nhiều thầy vẫn lên lớp chay, nghĩa là không có giáo trình, thậm chí vẫn còn dùng các giáo trình cách đây vài chục năm của Liên Xô cũ (!).

Chúng ta là một nước nghèo vậy mà lại tách rời các trường ĐHCĐ với các viện, các trung tâm nghiên cứu khoa học. Đó là một chuyện khác hẳn so với các nước khác và gây nên hiện tượng lãng phí rất lớn, rất phi lý. Chúng ta nên biết hiện nay Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam có tới 25 Viện nghiên cứu quốc gia với 2.464 cán bộ khoa học, trong đó có tới 207 giáo sư, phó giáo sư, 673 tiến sĩ và 538 thạc sĩ. Viện Khoa học Xã hội Việt Nam hiện có tới 31 viện nghiên cu quốc gia với 1.500 cán bộ khoa học, trong đó có tới 600 cán bộ có trình độ trên đại học. Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam hiện có trên 10 viện nghiên cứu quốc gia với 1.770 cán bộ khoa học, trong đó có 25 giáo sư, phó giáo sư, 144 tiến sĩ và 277 thạc sĩ.

Ngoài ra trực thuộc Liên hiệp các Hội KHKT Việt Nam cũng còn có tới 500 đơn vị nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ với số lượng rất đông các nhà nghiên cứu có trình độ trên đại học. Nhiều trường khi đăng ký thì có một danh sách rất dài các giáo sư, tiến sĩ nhưng khi khai giảng thì mới biết đó chỉ là danh sách ma mà Bộ GD&ĐT đã không hề thực hiện việc hậu kiểm.

Trò ra trò cũng là chuyện đang rất đáng bàn. Đầu vào quá thấp thì làm sao tiếp thu được kiến thức tương xứng với bậc học ĐHCĐ. Có trường ĐHCĐ lấy đầu vào cả những sinh viên chỉ có 13-14 điểm cho 3 môn thi, với sinh viên thuộc diện ưu tiên có khi chỉ cần có điểm thi 9-10 điểm cho cả 3 môn thi (!).

Không có nước nào mà vào đại học mới học ngoại ngữ lại từ đầu, do đó tốt nghiệp đại học, thậm chí tốt nghiệp sau đại học mà chưa thông thạo bất kỳ một ngoại ngữ nào. Việc bắt buộc chỉ lấy tiếng Anh làm tiêu chuẩn bắt buộc khi tuyển sinh thạc sĩ, tiến sĩ là chưa hợp lý với một số ngành, như Đông y chẳng hạn, và càng không hợp lý khi nước ta đang đảm nhiệm vai trò Phó Chủ tịch Liên minh các Nghị viện Pháp ngữ, vậy mà xoá bỏ tiếng Pháp thì thật là khó hiểu.

Nước Nga cũng vẫn đang là một cường quốc về khoa học và công nghệ lại đang cấp không ít học bổng sau đại học cho sinh viên ta, nhẽ nào cũng loại bỏ nốt cả tiếng Nga? Việc phân ban ở bậc phổ thông không thực sự phân hoá đã làm hạ thấp đầu vào của sinh viên các trường ĐHCĐ. Điều này chúng ta thua kém so với cả một nước rất nhiều như Nepal. Hai lớp 11 và 12, mỗi phân ban họ chỉ cho học có 4 môn cho nên có trình độ rất cao mà không cần học thêm gì cả.

Việc cho học sinh vay tiền để có điều kiện theo học ĐHCĐ là một chủ trương rất tốt, nhưng sau khi ra trường phải chạy một khoản tiền lớn mới xin được việc làm, kể cả việc làm trái chuyên môn, thì phụ huynh còn kiếm đâu ra tiền để trả nợ cho ngân hàng? Một anh bạn tôi có cháu sắp thi ĐHCĐ đã bảo với cháu rằng: “Chọn trường nào dễ vào thì thi, cứ học đại đi, ra trường có đủ tiền hay không để xin việc mới là chuyện quan trọng”. Nghe mà buồn quá!

Phê phán bao giờ cũng dễ nhưng để có trường ra trường, lớp ra lớp, thầy ra thầy, trò ra trò thì quả là đâu có dễ. Tôi xin hiến một kế như sau: Em nào muốn học đại học mà ta chưa có điều kiện mở trường đạt chuẩn hay mở ngành thích hợp với nhu cầu của đất nước thì cứ cho các em học ngoại ngữ. Với sự bùng nổ thông tin như hiện nay thì ai giỏi một ngoại ngữ nào đều có thể tự học để có được một nghề phục vụ tốt cho nhu cầu của xã hội. Hàng vạn cử nhân ngoại ngữ đâu có thừa trong thời đại hội nhập quốc tế như hiện nay!

SOURCE: LAO ĐỘNG CUỐI TUẦN SỐ 22, NGÀY 13 THÁNG 6 NĂM 2010

Advertisements

5 Responses

  1. giáo dục nước ta à????????
    còn nhiều cái mà đáng bàn lắm….
    ngày xưa thì thầy đọc trò chép bây giờ tiến bọ hơn là thầy chiếu trò chép
    còn việc học ngoại ngữ thì như là một nỗi ám ảnh của sv đó
    trường thì mở ra nhiều vô số kể trong khi đội ngủ gióa viên thì đang còn là hạn chế
    nhiều trường khắc phục tình trạng thiếu giảng viên bằng cách mỗi năm lấy một số sinh viên ưu tú làm giảng viên, mỗi sinh viên sau khi ra trường 5 tháng là có thể đứng trên bục để dạy những người chỉ sau mình một, hai khóa chứ??
    còn đầu vào đại học à? lại một vấn đề cần bàn nữa một sinh viên đại học mà một phép tính đạo hàm cấp một cơ bản vẫn không làm được thì thử hỏi…
    mỗi người thi 3 môn trung bình mỗi môn chỉ cần 3 điểm là đỗ thì ???
    quả thật là một vấn đè nan giản?
    tôi mong bộ trưởng mới nhận chức sẻ có những giải pháp hữu hiệu

  2. Mấy năm trước, các nhà giáo chúng ta rất phấn khởi khi Bộ GD&ĐT tuyên bố “năm 2010 giáo viên có thể sống bằng lương của mình”. Tuy vậy, có người tin, có người không tin…

    Bây giờ đã là giữa năm 2010. Vừa rồi đại biểu quốc hội đã chất vấn Bộ GD&ĐT về vấn đề này và Bộ đã trả lời: So với năm 2006 thì tiền lương giáo viên năm 2010 đã tăng lên gấp 2,1 lần. Ví dụ một Giáo viên tốt nghiệp Đại học ra trường năm 2010 có mức lương 2.306.000 đ. Nếu có thâm niên 10 năm thì mức lương là 3.300.000 đ.

    Có giáo viên cho rằng với mức lương như thế cũng sống được, cũng có người cho rằng không sống được…

    Thưa các thầy cô giáo mới ra trường!

    Theo thiển ý của tôi thì các thầy cô hoàn toàn có thể sống bằng mức 2.306.000đ/tháng, nếu biết cách ăn tiêu cho khoa học, theo truyền thống thắt lưng buộc bụng… Sợ các thầy cô còn trẻ quá chưa có kinh nghiệm quản lí quỹ lương của mình, nên tôi muốn các thầy cô đọc mấy lời khuyên sau đây của tôi, một nhà giáo già có kinh nghiệm lâu năm trong việc sống bằng lương thầy giáo:

    Trước hết, về nhu cầu ăn, chúng ta cần thấm nhuần câu cách ngôn tuyệt vời: “Ăn để mà sống chứ không phải sống để mà ăn”. Chúng ta có thể ăn ngày ba bữa: buổi sáng 5 ngàn, buổi trưa 10 ngàn, buổi tối 10 ngàn. Thế là một ngày chi cho việc ăn là 25 ngàn, một tháng vị chi là 750.000 đ. Như thế cũng là khá lắm rồi, nếu chúng ta biết rằng nhiều nhà máy cho công nhân ăn bữa trưa một bát mì giá chỉ 5 ngàn mà thôi.

    Tuyệt đối không nên uống bia, uống rượu vì rất tốn tiền, rất có hại cho sức khỏe, và nhất là rượu vào lời ra ảnh hưởng đến tư thế tác phong của thầy giáo. Tốt nhất là uống nước đun sôi để nguội, mát mẻ và vệ sinh lắm.

    Sau chuyện ăn uống là chuyện ở. Cũng nên nhớ là “ăn hết nhiều chứ ở thì hết bao nhiêu” để mà đừng chi quá nhiều cho chuyện ở. Nếu chưa có nhà ở thì cố nhiên tạm thời phải đi thuê, rồi ta sẽ góp tiền dần dần để mua nhà giá rẻ. Cố tìm mà thuê lấy một căn phòng bình dân với giá khoảng 1 triệu đồng một tháng, nhưng nên rủ thêm một thầy giáo cùng giới ở chung cho vui, cho có bạn cùng đàm đạo nhân tình thế sự. Vậy là ta chỉ tốn 500.000đ cho khoản ở.

    Về phương tiện sinh hoạt và làm việc thì cũng nên mua lấy cái quạt, nhưng đừng cho nó chạy nhiều quá, phải chú ý đến tiền điện. Khoản tivi thì có thể xem nhờ nhà nào đó nếu người ta dễ tính và mến khách. Máy vi tính thì cố gắng chờ đợi, tôi tin chắc rằng đến một lúc nào đó, Bộ sẽ phát không cho thầy giáo mỗi người một cái (hôm nay đọc báo, thấy học sinh tiểu học ở Urugoay được phát không máy tính rồi). Còn khoản điều hòa nhiệt độ thì đừng nghĩ đến, đó là chuyện dành cho tương lai. Nên cố gắng chỉ chi khoảng 100.000 đ cho tiền điện, tiền nước, tiền bột giặt, xà phòng tắm, xà phòng đánh răng…

    Vấn đề trang phục nên hết sức giản dị, không nên chạy theo thời trang; nhà giáo thì phải ăn mặc đứng đắn để làm gương cho học sinh. Nên mặc quần áo mầu sẫm để đỡ tốn bột giặt. Giầy dép, áo vét , áo da… nên mua hàng Tàu giá rất rẻ so với hàng Việt.

    Nếu chưa có xe máy thì đừng mua vội. Xe đắt mà giá xăng tăng theo tốc độ lớn hơn lương tăng. Nên mua vé ô tô tháng để đi dạy, chỉ dăm chục chục ngàn một tháng là nhiều. Nếu không tiện thì nên mua một cái xe đạp Xuân Hòa, đi làm bằng xe đạp là cách tập thể dục tốt nhất.

    Đừng mua sách, mua báo làm gì, đến trường tranh thủ vào thư viện mà đọc báo ngay ở đó, còn sách thì mượn về nhà mà đọc.

    Đừng mua vé xem phim, xem kịch, mất thì giờ vào trò nhảm nhí, nhố nhăng… lại khổ vì nóng nực và đông người.

    Có đám tang thì nên đi vì nghĩa tử là nghĩa tận, còn đám cưới thì cố mà trốn (lấy cớ là bận dạy, hoặc bận đi họp, hoặc phải về quê…). Một tháng mà đi dự vài ba tiệc cưới là tiêu đời rồi đó.

    Một điều hết sức quan trọng là hãy cố gắng giữ gìn sức khỏe bằng cách sống điều độ và thanh đạm. Cương quyết “nói không” với đau ốm, bệnh tật…, “nói không” với bệnh viện, với bác sĩ với thuốc men…. Nếu không “nói không” như thế thì khó mà sống bằng lương.

    Với cách phân bổ quỹ luơng như trên, tính toán lại tôi thấy mỗi tháng các thầy giáo mới ra trường sẽ phải chi không đến 2 triệu đồng, vẫn còn thừa ba đến bốn trăm ngàn đồng để gửi vào sổ tiết kiệm và mua vài cái vé sổ số…

    Cố nhiên tính toán trên chỉ đúng đối với các thầy cô giáo chưa xây dựng gia đình, chưa có con cái, không phải nuôi bố mẹ già đau ốm, không phải giả tiền vay của nhà nước để học đại học, không phải đóng học phí cho em…

    Đối với các trường hợp sau thì phải điều chỉnh cho phù hợp hoàn cảnh thực tế. Chẳng hạn ăn sáng thì có thể xơi vài củ khoai lang, bắp ngô luộc, hoặc cùng lắm là một gói mì ăn liền; hai bữa ăn trưa và ăn chiều có thể giảm từ 15 ngàn xuống 10 ngàn… có nghĩa là “liệu cơm mà gắp mắm”.

    Dẫu sao cũng phải cám ơn Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tăng lương cho chúng ta gấp 2,1 lần so với năm 2006. Thế là chúng ta có thể cố mà sống bằng đồng lương của chính mình, chứ không phải bằng lương của… ai khác.

  3. http://www.viendongschool.edu.vn
    LEGAL ENGLISH
    English For Legal Profession
    Understand And Master The Language Of Law

    ANH VĂN CHUYÊN NGÀNH LUẬT
    Hiểu và Nắm Vững Ngôn Ngữ Của Luật Pháp
    Về Khóa Học
    Nhu Cầu:
    Tiếng Anh là ngôn ngữ Quốc tế nhất là trong quan hệ luật pháp. Điều này lại vô cùng quan trọng đối với luật sư và các tổ chức có liên quan đến việc thi hành pháp luật.
    Hơn thế nữa, khả năng Anh Ngữ trong lãnh vực luật pháp, không chỉ đơn thuần là khả năng sử dụng Tiếng Anh tốt mà là một phương tiện đánh giá sự chuyên nghiệp của ngành luật và ảnh hương đến sự thành công của nghề Luật.
    Đối Tượng:

    Sinh viên đang theo học và tốt nghiệp ngành luật có nguyện vọng làm việc cho các tổ chức mang yếu tố nước ngoài có sử dụng Tiếng Anh như là ngôn ngữ chính.
    Các chuyên gia luật: Thẩm phán, giảng viên luật, luật sư, luật gia, các chuyên viên đang làm việc với các công ty luật hoặc các tổ chức nước ngoài có sử dụng Tiếng Anh.
    Mục Tiêu Khóa Học:

    SAU KHI HOÀN TẤT KHÓA HỌC, HỌC VIÊN SẼ:
    Có được kiến thức về các đặc tính pháp lý và bản chất của pháp luật
    Có khả năng trao đổi, thương thuyết để ký hợp đồng với đối tác nước ngoài
    Có được một sự đánh giá của các từ vựng và ngữ pháp liên quan đến pháp luật
    Trở nên tự tin hơn trong giao tiếp bằng tiếng Anh trong bối cảnh pháp lý quốc tế.
    Được cấp chứng chỉ sau khi hoàn thành khoa học.
    Phương Pháp đào Tạo:

    Khả năng Nghe-Nói-Đọc-Viết tiếng Anh chuyên ngành Luật sẽ được phát triển trong chương trình đào tạo bằng nhiều hình thức:
    Đóng vai luật sư đại diện thân chủ trước Tòa.
    Phỏng vấn và Tư vấn thân chủ,
    Thương thảo hợp đồng với đối tác;
    Soạn thảo văn bản và hợp đồng, đơn khởi kiện …
    Ban giảng huấn

    Các luật sư và chuyên viên luật, tốt nghiệp, công tác và giảng dạy trong ngành luật nhiều năm tại Hoa Kỳ và các quốc gia sử dụng tiếng Anh.
    Khóa Học:

    Gồm 3 cấp độ : Căn Bản – Trung Cấp – Nâng cao.
    Mỗi cấp độ : Học 8 tuần – Học 2 Buổi/ Tuần – 2 giờ = 3 tiết / buổi.
    Lịch học : Các tối thứ 3 – 4 – 5 – 6 hàng tuần
    Đặc biệt học viên sẽ được tham dự lớp luyện phát âm “Chuẩn Giọng Mỹ” miễn phí vào các sáng thứ 7 hàng tuần.
    Chế Độ Ưu Đải

    Giảm Học Phí : 05% Học Phí cho Giảng Viên Luật
    20% Học Phí cho Sinh Viên Luật

    Hotline: 097 5207 097 (Mr Vững)
    Website: viendongschool.edu.vn
    Email: viendongschool@gmail.com
    Yahoo: charlie_kho0099

  4. KHAI GIẢNG LỚP LUẬT THƯƠNG MẠI HOA KỲ 2011

    Hotline: 097 5207 097 (Mr Vững)
    Website: viendongschool.edu.vn
    Email: viendongschool@gmail.com
    Yahoo: charlie_kho0099

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: