Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

CÁC QUI ĐỊNH QUỐC TẾ VỀ THƯƠNG MẠI VÀ MÔI TRƯỜNG LIÊN QUAN ĐẾN CẤM NHẬP KHẨU, CẤM LƯU THÔNG CÁC HÀNG HÓA ẢNH HƯỞNG TỚI MÔI TRƯỜNG

1. Các Điều ước quốc tế về môi trường về cấm nhập khẩu và lưu thông hàng hoá.

Cho đến thời điểm hiện nay đã có trên 140 Hiệp định quốc tế về môi trường và các công cụ quốc tế về lĩnh vực môi trường, trong số đó có khoảng 20 Hiệp định có các quy định liên quan đến thương mại quốc tế. Các biện pháp môi trường trong các hiệp định môi trường quốc tế được áp dụng đối với việc vận chuyển buôn bán, trao đổi, khai thác các sản phẩm có ảnh hưởng đến môi trường như chất thải độc hại, động vật hoang dã, các nguồn gen thực động vật, các chất phá huỷ tầng ô zôn…

Những Hiệp định môi trường quốc tế có thể được phân thành 3 nhóm chính:

– Các Hiệp định kiểm soát ô nhiễm xuyên biên giới hoặc để bảo vệ môi toàn cầu, ví dụ như Công ước Viên bảo vệ tầng ôzôn và Nghị định thư Montreal về các chất huỷ hoại tầng ôzôn thực hiện Công ước trên và Hiệp định về thay đổi môi trường.

– Các Hiệp định bảo vệ các chủng loại bị đe doạ, các loài chim di trú, và các loại cá và động vật biển. Ví dụ như Hiệp định về thương mại quốc tế đối với những loài có nguy cơ bị diệt chủng (CITES) và Công ước quốc tế quy định về săn bắt cá voi. Trong số các điều khoản của các Hiệp định này là các hướng dẫn về cách thức bắt và giết các loại động vật hoang dã và cá.

– Các Hiệp định về quản lý việc sản xuất và thương mại các sản phẩm và các chất nguy hiểm. Ví dụ là Hiệp định Basel về Quản lý di chuyển và thải các chất thải nguy hiểm xuyên biên giới, Hướng dẫn Luân Đôn về việc trao đổi thông tin về các chất hoá học trong thương mại quốc tế.

Một số Công ước cụ thể:

– Công ước quốc tế về buôn bán các loại động vật, thực vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng (CITES);

– Công ước Basel về kiểm soát vận chuyển qua biên giới các phế thải nguy hiểm;

– Công ước đa dạng hoá sinh học (CBD);

– Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ôzôn;

– Công ước An toàn sinh học;

– Công ước Quốc tế về Bảo vệ thực vật;

– Công ước Quốc tế về bảo tồn cá hồi Đại Tây Dương;

– Công ước về Bảo tồn các nguồn tài nguyên biển Nam Cực;

– Công ước khung của Liên Hiệp quốc về biến đổi khí hậu;

– Nghị định thư Kyoto;

– Hiệp định Quốc tế về gỗ nhiệt đới;

– Hiệp định Liên Hiệp quốc về cá biển;

– Công ước Rotterdam về Thủ tục đồng thuận thông báo trước đối với các hoá chất độc hại và thuốc diệt côn trùng trong thương mại quốc tế;

– Công ước Stokhom về các chất ô nhiễm hữu cơ.

Nhìn chung, các nghĩa vụ của các thành viên tham gia các hiệp định này để kiểm soát thương mại được thể hiện dưới hình thức cấm nhập khẩu hoặc xuất khẩu. Bên cạnh hệ thống phân loại này của WTO, UNEP cũng đưa ra một danh mục khoảng gần 30 Hiệp định đa phương về môi trường, trong đó có thể có các quy định liên quan đến thương mại. Các quy định và biện pháp thương mại trong các Hiệp định môi trường đa phương được áp dụng vì những lý do khác nhau, tuỳ thuộc vào mục tiêu chung của mỗi Hiệp định. Trong mỗi Hiệp định đều nhằm 4 mục đích chính như sau :

– Tạo ra khung khổ pháp lý cho các thành viên tham gia thị trường:

Như đã từng đề cập, thương mại có thể là nguồn gốc của nhiều vấn đề môi trường, do đó việc giải quyết các vấn đề môi trường không thể tách rời việc áp dụng các biện pháp quản lý thương mại. Một khía cnh khác là các hạn chế thương mại có thể dễ được chấp nhận hơn. Khi được áp dụng đối với tất cả các thành viên trên một thị trường nhất định, các hạn chế thương mại vì mục đích bảo vệ người tiêu dùng hoặc bảo vệ các nguồn tài nguyên môi trường có thể được chấp nhận như một điều kiện cạnh tranh chung mà họ phải chấp nhận khi tham gia thị trường;

– Đóng vai trò ngăn chặn, phòng ngừa các nguy cơ môi trường:

Trong thực tế, các biện pháp thương mại được sử dụng để ngăn chặn các nguy cơ môi trường. Ví dụ: một nước có thể áp dụng hạn chế về kích cỡ tôm hùm được phép nhập khẩu (không nhập khẩu tôm quá bé) nhằm mục đích bảo vệ trữ lượng tôm ở các vùng biển quốc tế. Các nước có thể cấm buôn bán vận chuyển các chất thải nguy hại nhằm ngăn chặn nguy cơ môi trường do các chất này gây ra (công ước Basel).

– Kiểm soát thị trường và định hướng tiêu dùng:

Thị trường có thể có nhu cầu cao đối với một số sản phẩm nhưng việc đáp ứng nhu cầu của thị trường có thể dẫn tới cạn kiệt các nguồn lực môi trường. Rất khó có thể xác định được trị giá của nguồn lực. Đó chính là những ý tưởng lôgic đằng sau các Công ước CITES và CBD;

– Đảm bảo sự tuân thủ:

Các biện pháp thương mại có thể gây sức ép buộc các nước phải tuân thủ và thực hiện mục tiêu của các MEAs. Việc hạn chế buôn bán các sản phẩm có chứa chất gây thủng tầng ôzôn của Nghị định thư Montreal giữa các nước tham gia và không tham gia Nghị định thư là một ví dụ điển hình.

Nó tạo sức ép buộc các nước loại bỏ các chất nêu trên trong sản phẩm của mình hoặc đáp ứng những điều kiện nhất định để tham gia Nghị định thư nếu không muốn giảm kim ngạch thương mại.

Sau đây sẽ giới thiệu tóm tắt nội dung của một số Công ước liên quan đến việc cấm nhập khẩu, lưu thông hàng hoá liên quan đến môi trường.

1.1. Công ước quốc tế về buôn bán các loại động vật, thực vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng (CITES)

Công ước CITES ra đời nhằm đảm bảo rằng việc buôn bán các loài động thực vật này không đe doạ sự tồn tại của chúng. Ngày nay, các phương tiện thông tin đại chúng đang nói đến rất nhiều nguy cơ tuyệt chủng của các loài động vật như hổ, voi … do đó nhu cầu về một công ước quốc tế giải quyết vấn đề thương mại đối với những loài động thực vật này trở nên rõ ràng. Tuy vậy, vào những năm 1960, khi ý tưởng về CITES được đưa ra thì vấn đề còn hết sức mới mẻ. Hàng năm, thương mại quốc tế về những loài động thực vật hoang dã ước tính lên đến hàng tỷ đôla kể cả động thực vật sống và các sản phẩm từ động thực vật hoang dã như thức ăn, da, nhạc cụ bằng gỗ, đồ lưu niệm, dược phẩm… Với mức độ khai thác sử dụng vào mục đích thương mại cao như hiện nay, cùng với nhiều nhân tố khác, nhiều loài động thực vật bị đẩy đến bờ vực tuyệt chủng. Thậm chí, đối với những loài chưa bị đẩy đến nguy cơ tuyệt chủng, sự tồn tại của một công ước như thế nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của thương mại, bảo vệ nguồn tài nguyên cho tương lai là rất quan trọng.

Ngày 3 tháng 3 năm 1973, đại diện của 80 nước gặp nhau tại Washington (Hoa Kỳ) để ký kết CITES. Ngày 1 tháng 7 năm 1975, CITES chính thức có hiệu lực. CITES được coi là một trong những Hiệp định đa phương về môi trường ra đời sớm nhất. CITES ràng buộc trách nhiệm của các nước thành viên tham gia. CITES đưa ra một khuôn khổ mà các nước thành viên phải tuân thủ thông qua hệ thống luật pháp quốc gia của mình. CITES yêu cầu các hoạt động nhập khẩu, xuất khẩu, tái xuất khẩu (xuất khẩu các loài đã được nhập khẩu) các loài chịu sự điều chỉnh của Công ước đều phải được thực hiện thông qua hệ thống cấp phép, hạn ngạch và nhãn mác xuất xứ.

Công ước này có 3 phụ lục, trong đó đưa ra danh mục các loại với các cấp độ cần bảo vệ khác nhau:

– Phụ lục I : Bao gồm các loại có nguy cơ bị tuyệt chủng. Thương mại đối với các loài này chỉ được phép trong một số trường hợp ngoại lệ;

– Phụ lục II : Bao gồm các loài chưa có nguy cơ tuyệt chủng nhưng cần phải kiểm soát thương mại nhằm tránh việc khai thác bừa bãi;

– Phụ lục III : Bao gồm các loài được bảo vệ tại ít nhất một quốc gia.

Mỗi nước tham gia phải có một hoặc một vài Cơ quan Quản lý chuyên trách giám sát hệ thống cấp phép và một vài Cơ quan Khoa học tư vấn cho các cơ quan chuyên trách tác động của thương mại đối với các loài động thực vật.

Một loài đông vật thuộc diện điều chỉnh của CITES chỉ có thể được nhập khẩu, xuất khẩu hoặc tái xuất khẩu từ nước thành viên khi các tài liệu phù hợp được xuất trình khi thông quan tại cửa khẩu. Mới đây, Công ước còn bổ sung thêm biện pháp mới là đình chỉ thương mại tất cả các loài thuộc sự điều chỉnh của CITES đối với những thành viên nào không nộp báo cáo hàng năm trong 3 năm liên tiếp.

CITES được coi là một MEAs thành công. Kể từ khi CITES chính thức có hiệu lực, chưa có một loài nào bị tuyệt chủng do thương mại gây nên. Tính đến cuối tháng 12 năm 2002, CITES đã có 160 nước thành viên. Việt Nam là nước thứ 121 tham gia Công ước này. Việt Nam ký kết Công ước vào ngày 20 tháng 1 năm 1994 và Công ước chính thức có hiệu lực với Việt Nam từ ngày 20 tháng 4 năm 1994. Hiện nay, chỉ có 7 nước là thành viên WTO nhưng chưa tham gia CITES là: Angola, Bahrain, Haiti, Kyrgyz, Lesotho, Maldives, Solomon Island.

Công ước quy định các bên tham gia nếu có tranh chấp gì thì phải giải quyết thông qua đàm phán. Nếu đàm phán không có kết quả, hai bên thống nhất đưa tranh chấp ra Trọng tài quốc tế tại La Hay. Phán quyết của trọng tài có giá trị ràng buộc các bên tranh chấp. Cho đến nay vẫn chưa có tranh chấp nào xảy ra.

1.2. Công ước Basel về kiểm soát vận chuyển qua biên giới các phế thải nguy hiểm.

Vào cuối những năm 1980, những quy định chặt chẽ về môi trường tại các nước công nghiệp phát triển dẫn đến chi phí xử lý rác thải nguy hiểm tăng đột biến. Để tiết kiệm chi phí xử lý rác thải, các nhà kinh doanh của các nước này đã vận chuyển rác thải nguy hiểm sang các nước đang phát triển và các nước Đông Âu. Khi các hoạt động này bị tiết lộ và ngày càng trở nên nghiêm trọng, Công ước Basel ra đời vào năm 1989 tại Basel, Thuỵ Sỹ trước sự lên tiếng của các nước đang phát triển trước tình hình bị các nước phát triển biến thành bãi rác thải độc hại.Năm 1992, Công ước Basel chính thức có hiệu lực. Năm 1995, bổ sung danh mục cấm xuất khẩu các chất thải độc hại vì bất kỳ lý do nào từ các nước thành viên Liên minh Châu Âu (EU), OECD, Liechtenstein tới tất cả các thành viên khác của Công ước.

Năm 1998, Nhóm Công tác kỹ thuật của Công ước Basel đã thống nhất danh mục phân loại các chất thải độc hại và không độc hại. Danh mục này được các nước thành viên thông qua và từ đó làm rõ phạm vi điều chỉnh của Công ước.

Năm 1999, Tuyên bố Bộ trưởng (Tuyên bố Basel) đã đưa ra phương hướng hoạt động cho thập kỷ tiếp theo. Trong suốt thập kỷ đầu tiên (1989 ư 1999), Công ước cơ bản đưa ra một khung pháp lý kiểm soát sự di chuyển “xuyên qua biên giới” của các chất thải nguy hiểm. Công ước cũng phát triển tiêu chí “quản lý môi trường bền vững”.

Một hệ thống kiểm soát dựa trên các thông báo trước bằng văn bản cũng được đưa vào sử dụng. Dự kiến, giai đoạn 2000 ư 2010, Công ước sẽ xây dựng khung khổ nhằm thực thi đầy đủ các cam kết. Mặt khác, Công ước cũng sẽ tập trung làm giảm thiểu việc sản xuất ra các chất thải độc hại cả về mặt số lượng lẫn mức độ độc hại. Hội nghị Bộ trưởng tháng 12 năm 1999 đã đặt ra các hoạt động cho giai đoạn này như sau:

Chủ động phát triển và sử dụng công nghệ và phương pháp sản xuất sạch hơn;

– Tiếp tục giảm vận chuyển các chất thải và chất thải độc hại;

– Ngăn chặn và giảm sát buôn lậu;

– Tăng cường năng lực kỹ thuật và thể chế ư thông qua công nghệ phù hợp, đặc biệt cho các nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi;

– Phát triển hơn nữa các trung tâm đào tạo chuyển giao công nghệ vùng và tiểu vùng.

Một số quy định liên quan đến thương mại trong Công ước cụ thể như sau:

-  Điều 4 của Công ước quy định các bên tham gia có quyền cấm nhập khẩu các chất thải độc hại. Đối với các chất thải mà một bên tham gia không cấm nhập khẩu một cách cụ thể thì bên tham gia xuất khẩu sẽ cấm xuất khẩu nếu nước nhập khẩu không có văn bản cụ thể đồng ý nhập khẩu;

– Nước xuất khẩu cũng có thể cấm xuất khẩu nếu có họ có đủ bằng chứng cho thấy nước nhập khẩu không thể xử lý một cách bền vững với môi trường;

– Công ước cũng cấm xuất nhập khẩu chất thải độc hại với các nước không phải thành viên của Công ước, không được xuất khẩu rác thải đến vùng Nam Cực và cần phải đáp ứng các yêu cầu về nhãn mác, đóng gói và vận chuyển các chất thải độc hại;

– Các nước xuất khẩu phải được sự chấp thuận của nước nhập khẩu. Nước xuất khẩu phải có trách nhiệm nhập khẩu lại nếu rác thải không được xử lý một cách bền vững với môi trường.

Cũng tương tự như các Hiệp định đa phương về môi trường khác, Công ước Basel quy định các tranh chấp phải được giải quyết thông qua tham vấn và đàm phán trước khi đưa ra trọng tài hay toà án quốc tế.

Mặc dù cho đến nay vẫn chưa có tranh chấp nào xảy ra trong khuôn khổ Công ước, song người ta cũng nhận thấy một số điểm bất đồng giữa các quy định của Công ước và WTO. Chẳng hạn như rác thải và rác thải độc hại được phân loại trong Công ước theo mục đích sử dụng. Mà điều này thì hoàn toàn trái ngược với quy định của WTO trong việc sử dụng Hệ thống mã hài hoà (HS) để làm cơ sở giám sát thương mại và thuế ở tất cả các quốc gia. Bên cạnh đó, Công ước còn đi ngược lại với tinh thần không phân biệt đối xử của WTO thể hiện qua các bổ sung cấm xuất khẩu từ một số nước.

Cho đến nay, Công ước này đã có 152 thành viên. Việt Nam trở thành thành viên của Công ước từ ngày 13 tháng 3 năm 1995. Có 22 nước thành viên của WTO, trong đó có Hoa Kỳ chưa tham gia vào Công ước này.

Bên cạnh mặt mạnh của mình là tạo ra một khung khổ pháp lý cho vận chuyển rác thải qua biên giới, tạo ra hàng chục trung tâm đào tạo chuyển giao công nghệ quản lý rác thải độc hại một cách thân thiện với môi trường tại các nước đang phát triển, Công ước cũng đã thể hiện một số điểm yếu.

Thứ nhất, Công ước ngăn cản một cách cứng nhắc việc vận chuyển rác thải qua biên giới.

Thứ hai, khái niệm về quản lý môi trường một cách bền vững vẫn chỉ mang tính học thuật mà chưa thực sự đi vào đời sống và cũng chưa có một định nghĩa rõ ràng nào. Công ước cũng chưa tạo được những khuyến khích cần thiết nhằm sử dụng các công nghệ và phương pháp quản lý tái chế. Một điểm đáng lưu ý khác là đi ngược lại với mục tiêu đặt ra ban đầu, Công ước đã làm cho nhu cầu sử dụng nguồn tài nguyên nguyên thuỷ tăng cao. Trước kia, các nước như Trung Quốc, ấn Độ, Hàn Quốc vẫn là những nước nhập khẩu rất nhiều rác thải có thể tái chế được để phục vụ các ngành công nghiệp trong nước. Chẳng hạn như trước kia 50% nhu cầu phục vụ ngành sản xuất chì trong nước của ấn Độ là do nhập khẩu các chất thải có thể tái chế cung cấp. Tuy nhiên, do các quy định của Công ước, ấn Độ phải sản xuất nhiều chì hơn từ quặng chì trong nước.

1.3. Công ước Đa dạng Sinh học

Công ước Đa dạng Sinh học được ký kết tại Hội nghị Rio de Janero năm 1992. Mục tiêu của Công ước là bảo vệ đa dạng sinh học, sử dụng lâu dài các cấu thành của đa dạng sinh học, chia sẻ công bằng và tương thích các lợi ích xuất phát từ việc sử dụng các nguồn gen. Công ước này có 135 thành viên. Có 12 nước đã ký kết nhưng chưa thông qua Công ước. Nội dung của Công ước không đề cập về các biện pháp thương mại và cũng không quy định về việc áp dụng các biện pháp thương mại cụ thể. Tuy nhiên, Công ước bao gồm một số quy định mà theo cách diễn giải chung thì chúng đòi hỏi phải áp dụng các biện pháp cụ thể và những biện pháp này có thể gây ảnh hưởng đối với thương mại. Ngoài ra, một số quy định có mối quan hệ chặt chẽ với một số Công ước thương mại quốc tế. Dưới đây là một số quy định có liên quan tới việc áp dụng các biện pháp thương mại cụ thể.

Theo Điều 8 của Công ước quy định mỗi Bên tham gia Công ước phải tôn trọng, bảo tồn và duy trì các kiến thức, sáng kiến và tập tục truyền thống của cộng đồng người bản xứ và địa phương liên quan đến việc bảo tồn và khai thác bền vững sự đa dạng sinh học. Các Bên phải ngăn chặn, kiểm soát hoặc loại trừ tận gốc các loài sinh vật lạ đe doạ hệ sinh thái.

Theo Điều 10 của Công ước, các Bên tham gia phải có những biện pháp để ngăn chặn hoặc giảm thiểu ảnh hưởng bất lợi đối với đa dạng sinh học, bảo vệ và khuyến khích các biện pháp truyền thống để thực hiện mục tiêu khai thác bền vững các yếu tố của đa dạng sinh học.

Điều 14 của Công ước quy định các Bên tham gia phải áp dụng các thủ tục đánh giá tác động môi trường đối với các dự án có nguy cơ gây ảnh hưởng tới đa dạng sinh học, và xúc tiến các biện pháp trong nước để phản ứng khẩn cấp trước những hoạt động hoặc sự việc có nguy cơ ảnh hưởng xấu tới đa dạng sinh học.

Nhìn chung, các quy định của Công ước mặc dù không quy định cụ thể về các biện pháp thương mại được áp dụng nhưng việc đặt ra những nghĩa vụ về môi trường (cụ thể là bảo vệ và khai thác bền vững đa dạng sinh học) tạo điều kiện cho các Bên tham gia Công ước có quyền lựa chọn và áp dụng những biện pháp phù hợp với mình, trong đó có những biện pháp hạn chế thương mại.

1.4. Ôzôn nằm trong tầng bình lưu cách mặt đất từ 10ư50 km. Các phân tử ôzôn được hình thành từ ba nguyên tử ôxy. Tầng ôzôn có vai trò đặc biệt trong việc bảo vệ mặt đất khỏi những tác động có hại của tia cực tím. Do đó, bất kỳ sự suy giảm nào của ôzôn trên tầng bình lưu cũng có thể gây ra bức xạ của tia cực tím đến bề mặt trái đất.Bức xạ của tia cực tím lên bề mặt trái đất có thể gia tăng bệnh ung thư da, giảm khả năng miễn dịch, tăng các bệnh về mắt…

Năm 1928, các nhà khoa học phát hiện ra rằng các chất Chlorofluorocarbon được tìm thấy trong hoá chất, bột giặt, tủ lạnh, máy điều hoà, dung môi, chất cứu hoả… có thể tồn tại rất lâu và khi những chất này bay đến tầng bình lưu thì chúng có khả năng phá huỷ tầng ôzôn. Năm 1985, thông qua thực nghiệm, các nhà khoa học khẳng định rằng có “lỗ thủng ôzôn” tại Nam Cực và có chiều hướng ngày càng lớn.

Ngày 16/09/1987, Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ôzôn được ký kết. Nghị định thư được xây dựng một cách rất linh hoạt trong đó có quan tâm đến nhu cầu phát triển của các nhóm nước, đặc biệt là các nước đang phát triển. Mục tiêu cuối cùng của Nghị định thư là xoá bỏ các chất gây suy giảm tầng ôzôn (ODS). Nghị định thư này có hiệu lực vào ngày 01/01/1989 với sự tham gia của 29 nước và Cộng đồng Châu Âu, chiếm khoảng 82% lượng tiêu thụ toàn thế giới của các chất gây tổn hại đến tầng ôzôn.

Cốt lõi của Nghị định thư này là cơ chế giám sát sản xuất và tiêu thụ các ODS. Nghị định thư quy định 3 nhóm sản phẩm cần kiểm soát là các ODS, các sản phẩm có chứa ODS, các sản phẩm trong quá trình sn xuất có sử dụng nhưng thành phần cuối cùng không có các ODS. Ban đầu, Nghị định thư đưa tám hoá chất vào danh mục kiểm soát trong đó gồm có 5 chất chlorofluorocarbons (CFC) và 3 chất halon. Cả sản xuất và tiêu thụ các chất CFC phải được cắt giảm 50% từ năm 1986 đến năm 1998, trong khi đó sản xuất và tiêu thụ 3 chất halon kể từ năm 1993 phải dừng ở năm 1986. Lịch trình cắt giảm cụ thể cho từng năm cũng được đưa ra. Bốn lần sửa đổi của Nghị định thư đã liên tục đưa ra thời hạn và mở rộng phạm vi điều chỉnh đối với các chất làm suy giảm tầng ôzôn khác.

Các biện pháp thương mại được được sử dụng như một công cụ nhằm đạt được lịch trình xoá bỏ ODS. Các biện pháp này gồm có việc kiểm soát thương mại giữa các nước thành viên thông qua công thức tính tiêu thụ ODS:

sản xuất cộng nhập khẩu trừ đi lượng xuất khẩu (xuất nhập khẩu các ODS tái sử dụng được khuyến khích, do đó không tính vào lượng tiêu thụ ODS); cấm nhập khẩu ODS và các sản phẩm có chứa ODS từ các nước không phải thành viên, cấm xuất khẩu ODS cho các nước không phải thành viên; thoả thuận hệ thống cấp phép cho thương mại các ODS giữa các nước thành viên nhằm tránh thương mại phi pháp, tự nguyện thông báo các sản phẩm có chứa ODS mà một thành viên không muốn nhập khẩu.

Nghị định thư có một số các quy định chính như sau:

– Đưa ra thời hạn cắt giảm và xoá bỏ 96 ODS;

– Các nước đang phát triển có giai đoạn chuyển đổi 10 năm. Nghị định thư cũng cho phép các nước đang phát triển có thể sản xuất trên 15% mức họ đã đưa ra cam kết nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cơ bản của các nước đang phát triển. Ngoài ra, Nghị định thư cũng có những quy định nhằm hợp lý hoá ngành công nghiệp sản xuất các chất có hại này bằng cách cho phép các bên tham gia chuyển đổi sản xuất cho nhau. Kể từ năm 1993, xuất khẩu từ một nước tham gia Nghị định thư vào một nước không tham gia cũng bị tính vào tổng lượng tiêu thụ chung của nước tham gia nhằm khuyến khích các nước xuất khẩu thuyết phục các nước bạn hàng của mình cùng tham gia vào Nghị định thư.

– Nghị định thư không quy định các chính sách và biện pháp cụ thể nào nhằm đạt được các mục tiêu đề ra. Do đó, tại các bên tham gia áp dụng rất nhiều các biện pháp chính sách khác nhau nhằm thực hiện nghĩa vụ của Nghị định thư bao gồm: thuế cho các chất làm suy giảm tầng ôzôn, định lượng sản xuất, hạn ngạch nhập khẩu (trong một số trường hợp có thể chuyển nhượng được), cấm nhập khẩu, giấy phép nhập khẩu, xuất khẩu và sản xuất, yêu cầu nhãn mác sản phẩm, tiêu chuẩn kỹ thuật của sản phẩm, cấm tiêu thụ, các thoả thuận tự nguyện với ngành công nghiệp, và phát triển các vật liệu thay thế. Các biện pháp thương mại được áp dụng trong các biện pháp chính sách hỗn hợp nhằm kiểm soát sản xuất và tiêu thụ trong nước cũng như xuất nhập khẩu.

Cho đến nay, Nghị định thư Montreal được đánh giá là Hiệp định Đa phương về Môi trường thành công nhất. Theo báo cáo gần đây của UNEP, Nghị định thư Montreal đã góp phần làm giảm 88% ODS và 84% các chất halons (so với mức giữa những năm 1980). Với tốc độ này, hy vọng đến khoảng năm 2050 lỗ hổng ôzôn tại Nam Cực sẽ được hồi phục. Cùng với sự tham gia của hơn 180 nước, cho tới nay chỉ có một số rất ít nước với khoảng 100 triệu người dân không tham gia Nghị định thư Montreal. Không có nước nào trong số này là nước sản xuất hay tiêu thụ chính các ODS. Đa số đều là những nước nhỏ hoặc mới thành lập. Tất cả các nước thành viên của WTO đều tham gia Nghị định thư Montreal.

2.  Các Quy định có liên quan đến môi trường trong hệ thống các Hiệp định của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) về cấm nhập khẩu và lưu thông hàng hoá ảnh hưởng đến môi trường.

2.1. Điều XX về các ngoại lệ chung

Điều XX của GATT 1994 cho phép các nước thành viên WTO áp đặt các biện pháp mà có thể không vi phạm các nghĩa vụ của WTO của mình như "sự cần thiết bảo vệ cuộc sống của con người, động vật, thực vật hoặc sức khỏe (Điều XX (b)) hoặc liên quan đến việc bảo tồn những nguồn tài nguyên đang bi cạn kiệt, nếu những giải pháp này được thiết lập có hiệu quả, kết hợp với các hạn chế về sản xuất và tiêu dùng trong nước Điều XX (c)“. Tuy nhiên, nội dung của điều XX nhằm để đảm bảo rằng GATT không bao gồm các giải pháp gây ra sự phân biệt đối xử hoặc tạo ra những hạn chế về thương mại quốc tế. Có nghĩa rằng các giải pháp đó chỉ nhằm các mục đích môi trường chứ không phải vì mục đích bảo hộ mậu dịch. Hiệp định này chỉ ra những nguyên tắc để xây dựng và áp dụng các biện pháp môi trưiờng hạn chế thương mại.

2.2.  Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT)

Hiệp định về các rào cản trong thương mại quy định các chuẩn mực và tiêu chuẩn đã được ký năm 1979 và được bổ sung tại vòng đàm phán Urugoay. Hiệp  định này đã trở thành một bộ phận cấu thành của WTO: được áp dụng cho mọi thành viên của WTO và tuân theo quy chế giải quyết tranh chấp của WTO. Hiệp định này tập trung vào hai nội dung chính: chuẩn mực kỹ thuật và tiêu chuẩn từ khâu đóng gói, dán nhãn mác hay nhãn hiệu chứng nhận sản phẩm đến các thủ tục kiểm tra quy cách của sản phẩm theo những chuẩn mực này.

Về khía cạnh môi trường, Hiệp định TBT đòi hỏi phải dung hoà được hai mục tiêu trái ngược nhau: vừa bảo đảm cho các nước có quyền tự do bảo vệ an ninh quốc gia, sức khoẻ con người và môi trường, vừa không gây trở ngại không cần thiết đối với hoạt động thương mại. Phạm vi điều chỉnh mới của Hiệp định không chỉ dừng lại ở quy định đối với sản phẩm mà còn liên quan tới quy trình và phương pháp sản xuất.

Chính vì vậy, các bên tham gia hiệp định phải có trách nhiệm ở cả ba cấp độ: xây dựng và áp dụng các quy định kỹ thuật; thành lập các cơ quan đo lường tiêu chuẩn hoạt động tuân theo luật ứng xử đúng mực; và cấp chứng nhận sản phẩm đúng quy cách. Cả ba giai đoạn này phải tôn trọng các quy tắc của hiệp định dù chúng do các tác nhân địa phương, nghiệp đoàn hay tư nhân đảm nhận.

Một vấn đề cần chú ý khi tìm hiểu về Hiệp định này là các thủ tục đánh giá sự phù hợp. Hiệp định TBT quy định rằng các hệ thống áp dụng để đánh giá sự phù hợp với các quy định kỹ thuật nên được xây dựng và áp dụng sao cho không tạo ra những cản trở đối với thương mại. Theo hướng này, hiệp định quy định:

– Các thủ tục đánh giá sự phù hợp không nên được xây dựng và áp dụng cho các sản phẩm nhập khẩu theo các điều kiện kém ưu đãi hơn những quy định áp dụng cho các sản phẩm của nước nhập khẩu;

– Nên cung cấp cho các nhà cung cấp nước ngoài khi họ có yêu cầu thông tin về thời gian giải quyết và các tài liệu yêu cầu để đánh giá sự phù hợp của sản phẩm mà họ muốn xuất khẩu.

– Bất cứ loại phí nào áp dụng cho các nhà cung cấp nước ngoài phải tương đương như các loại phí áp dụng cho sản phẩm có nguồn gốc nội địa;

– Nơi đặt cơ quan đánh giá sự phù hợp và việc lấy mẫu thử không được tạo khó khăn bất tiện cho nhà cung cấp nước ngoài;

– Các thủ tục đánh giá sự phù hợp phải có quy định về việc xem xét các khiếu nại trong quá trình thực hiện.

2.3. Hiệp định về áp dụng các biện pháp vệ sinh an toàn đối với động thực vật (SPS)

Hiệp định về áp dụng các biện pháp vệ sinh an toàn đối với động thực vật (SPS) đề cập đến các biện pháp khác nhau được các chính phủ sử dụng để đảm bảo rằng thực phẩm cho người và động vật phải được an toàn không bị nhiễm bẩn, có độc tố và các biện pháp bảo vệ sức khoẻ cho con người khỏi các côn trùng hoặc bệnh tật do các loại động thực vật mang theo.

Nguyên tắc áp dụng của hiệp định:

-Các biện pháp áp dụng để bảo vệ con người và động thực vật phải dựa trên các chứng cứ khoa học thông qua các quá trình phân tích rủi ro.

-  Cac biện pháp SPS có thể chỉ được áp dụng tới mức mà chúng là cần thiết đối với việc bảo vệ cuộc sống của con người và động thực vật;

– Chúng không được tạo ra sự phân biệt đối xử một cách tuỳ tiện hoặc phi lý giữa các quốc gia thành viên khi họ có các điều kiện tương đương, tức là chấp thuận các quá trình và phương pháp khác với phương pháp mình sử dụng nếu kết quả đạt được như nhau;

– Các quốc gia thành viên được khuyến khích thiết lập các biện pháp trên cơ sở các tiêu chuẩn, quy chế và các khuyến nghị quốc té để hài hoà với các biện pháp vệ sinh an toàn động thực vật được quốc tế thừa nhận;

– Các quốc gia thành viên của WTO thực hiện hoặc duy trì các biện pháp nghiêm ngặt hơn nếu các biện pháp này được dựa trên các chứng minh khoa học hoặc là nếu chúng là kết quả của những quyết định rõ ràng dựa trên các đánh giá rủi ro thích hợp;

– Nguyên tắc phân vùng, tức là phân loại các vùng không là đối tượng điều chỉnh của hiệp định trong phạm vi quốc gia;

– Nguyên tắc không phân biệt đối xử đối với một loại sản phẩm có xuất xứ khác nhau;

– Nguyên tắc ưu tiên áp dụng hệ thống quy định nào gây cản trở ít nhất đối với các hoạt động trao đổi thương mại, song vẫn đem lại những kết quả đáp ứng được mục tiêu chung như các hệ thống quy định khác;

– Nguyên tắc minh bạch của hệ thống quy định, đặc biệt là nghĩa vụ thông báo và tạo điều kiện cho quá trình kiểm tra được tiến hành trong những điều kiện thực tế chấp nhận được;

2.4. Hiệp định về các khía cạnh của quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại (TRIPS)

Hiệp định TRIPS tại Vòng đàm phán Uruguay đã xem xét các vấn đề về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại với mục đích giảm bớt những trở ngại trong hoạt động thương mại quốc tế. Tuy nhiên, Hiệp định cũng đề cập đến một số đối tượng mà các thành viên cần chú ý khi xem xét để cấp văn bằng bảo hộ sáng chế. Điều 27(2) cho phép các thành viên của tổ chức thương mại thế giới có thể không công nhận sáng chế cho một số đối tượng như: động thực vật và những quy trình sinh học cần thiết nhưng với điều kiện chúng phải phục vụ cho quá trình tạo ra những cấu trúc vi sinh vật mới và những quy trình vi sinh vật. Hơn nữa, các quốc gia thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới có thể không cấp văn bằng cho những sáng chế cần phải bị cấm khai thác vì mục đích thương mại trong lãnh thổ của mình để bảo vệ trật tự công cộng, giữ gìn đạo đức xã hội, bảo vệ cuộc sống của con người, động thực vật và để tránh gây tổn hại nghiêm trọng đến môi trường.

Mục đích của Hiệp định về các khía cạnh của quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại là nhằm tăng cường bảo vệ một cách có hiệu quả các quyền sở hữu trí tuệ, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển giao công nghệ, đồng thời gỡ bỏ các trở ngại cho thương mại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, việc thực hiện Hiệp định này trong một số trường hợp làm ảnh hưởng đến việc thực thi Công ước quốc tế về đa dạng sinh học. Các vấn đề nảy sinh ở đây là việc chuyển giao các công nghệ nhạy cảm về môi trường, việc bảo vệ các thông tin và quyền lợi truyền thống, việc kiểm soát những tác động của công nghệ có hại cho môi trường, sự nhất quán của một số các điều khoản của Hiệp định với Công ước quốc tế về đa dạng sinh học.

(Hiệp định chung về TM và thuế quan, rào cản kỹ thuật đối với TM (TBT), kiểm dịch động thực vật (SPS). Tự do hóa thương mại, một mặt thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thế giới, mặt khác làm trầm trọng thêm những vấn đề môi trường toàn cầu. Đó là vấn đề ô nhiễm môi trường qua biên giới, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên. Để hạn chế tác động tiêu cực của quá trình tự do hóa thương mại đối với môi trường, các nước ngày càng áp dụng nhiều quy định và tiêu chuẩn môi trường trong buôn bán quốc tế. Các tổ chức quốc tế cũng đưa vấn đề môi trường liên quan đến thương mại vào trong các điều khoản của các Hiệp định/Công ước quốc tế về thương mại và môi trường.

Việc áp dụng các biện pháp và công cụ môi trường trong thương mại quốc tế đã góp phần tích cực hạn chế ô nhiễm môi trường giữa các nước, khuyến khích sản xuất và trao đổi sản phẩm thân thiện với môi trường. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, chúng được áp dụng như những biện pháp bảo hộ mậu dịch và trở thành rào cản trong buôn bán quốc tế. Trong điều kiện như vậy, việc đáp ứng các quy định và tiêu chuẩn quốc tế về môi trường thương mại quốc tế đang là thách thức to lớn đối với các nước, đặc biệt là các nước kém phát triển, nơi đang thiếu nhiều điều kiện để thực hiện và áp dụng các hiệp định/công ước và tiêu chuẩn quốc tế về môi trường.

SOURCE: “CƠ SỞ KHOA HỌC  XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÁC VĂN BẢN QUI PHẠM CỦA NƯỚC TA CẤM NHẬP KHẨU, LƯU THÔNG MỘT SỐ HÀNG HÓA CÓ LIÊN QUAN ĐẾN MÔI TRƯỜNG, PHÙ HỢP VỚI CÁC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VỀ MÔI TRƯỜNG”, VIỆN NGHIÊN CỨU THƯƠNG MẠI – BỘ CÔNG THƯƠNG. NĂM 2005

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: