THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ: KHÓ ĐẢM BẢO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CỦA NGƯỜI THẮNG KIỆN

PHẠM DÂN

Những năm gần đây, tình trạng tranh chấp đất trong nội bộ nhân dân gia tăng. Ở một địa phương, theo thống kê chưa đầy đủ, trong tổng số vụ hòa giải không thành, các bên đương sự phải khởi kiện ra tòa án vì tranh chấp đất đai chiếm hơn 50% tổng số vụ tranh chấp dân sự. Điều đáng quan tâm là những vụ tranh chấp này thường diễn ra khá gay gắt từ phiên sơ thẩm, kháng cáo rồi đến phúc thẩm; án đã có hiệu lực pháp luật nhưng người bị tòa án bác yêu cầu vẫn không chịu thi hành, tiếp tục gửi đơn đề nghị xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm; hoặc quay trở lại khởi kiện theo thủ tục hành chính, làm cho tình hình trở nên phức tạp.

Khi giải quyết tranh chấp, tòa án chấp nhận yêu cầu đồng nghĩa với việc ghi nhận tính pháp lý về quyền sử dụng đất cho người thắng kiện và ngược lại. Thế nhưng, khi đất đã được giao, người thắng kiện không dễ gì thực hiện được các quyền của người sử dụng đất. Cụ thể là, khi tiến hành sửa chữa nhà cửa hoặc xây dựng công trình cơ bản thường gặp phải sự chống đối quyết liệt của người vừa thua kiện. Mặc dù vụ việc đã được tòa án xét xử bằng một bản án có hiệu lực pháp luật, nhưng khi bên thua kiện có hành vi cản trở thì người thắng kiện phải khởi kiện một vụ án dân sự khác, với nội dung “yêu cầu chấm dứt hành vi trái pháp luật”. Tất nhiên, việc điều tra, xét xử vụ kiện này cũng dựa trên kết quả bản án, quyết định mà Tòa án đã xét xử trước đó, buộc đối tượng phải chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện quyền sử dụng đất. Những bản án này thường mang hình thức: điều tra, xét xử để đưa ra một bản án, nhưng thực chất chỉ để khẳng định lại một lần nữa tính hợp pháp của người có quyền sử dụng thửa đất đó. Bản án xét xử tranh chấp quyền sử dụng đất bác yêu cầu của bên nào thì bản án sau cũng sẽ buộc bên đó “chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện quyền sử dụng đất”.

Tổ chức thi hành, cưỡng chế buộc “chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện quyền sử dụng đất” thực chất là áp dụng điều 119 luật Thi hành án dân sự về “cưỡng chế thi hành nghĩa vụ không được thực hiện công việc nhất định”. Tuy nhiên, gặp phải các trường hợp này, cơ quan thi hành án rất lúng túng, không biết tổ chức thi hành theo phương thức nào. Bản án tuyên “buộc chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện quyền sử dụng đất”, nhưng khi nào buộc và buộc một người khi nào phải chấm dứthành vi cản trở? Những thuật ngữ pháp lý này khó xác định nội hàm, do đó đã làm nảy sinh một số vướng mắc, dễ bị lạm dụng hoặc thực hiện một cách tùy tiện.

Có quan điểm cho rằng, khi tổ chức thi hành loại việc này, Chấp hành viên chỉ cần mời hai bên đương sự đến tại cơ quan thi hành án hoặc tại trụ sở UBND xã, thị trấn, có sự chứng kiến của đại diện chính quyền cơ sở để lập biên bản “Buộc chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện quyền sử dụng đất”; những sự kiện, hành vi diễn ra sau đó thuộc quan hệ pháp luật khác- tức là thuộc trách nhiệm của chính quyền địa phương (nếu là vi phạm hành chính) hoặc của cơ quan công an (nếu hành vi cấu thành tội phạm hình sự). Như vậy, không lẽ tổ chức thi hành một bản án chỉ cần một động tác đơn giản là lập biên bản? Quan điểm này không có sức thuyết phục và trong thực tế, không được sự đồng tình của người được thi hành án và chính quyền cơ sở.

Khác với quan điểm nêu trên, nhiều ý kiến cho rằng, hành vi cản trở chỉ xuất hiện khi người được công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp tiến hành xây dựng nhà hoặc kiến trúc khác. Do vậy, mặc dù đã có quyết định “thi hành án” nhưng Chấp hành viên vẫn phải chờ đến khi nào người được thi hành án tiến hành xây dựng cơ bản, nếu người phải thi hành án đến cản trở thì báo Chấp hành viên thụ lý hồ sơ đến lập biên bản “Buộc chấm dứt hành vi”. Thông thường, khi người được thi hành án tiến hành thi công và báo cáo cơ quan thi hành án, Chấp hành viên phối hợp với chính quyền địa phương đến tại hiện trường để bảo vệ quyền lợi cho người được thi hành án; biên bản được lập, có chữ ký xác nhận của người được thi hành án và chính quyền địa phương, sau đó cơ quan thi hành án “xếp sổ” theo dõi vụ việc.

Vấn đề đặt ra ở đây là, một bản án đã có hiệu lực pháp luật, quyền sử dụng đất của công dân được khẳng định nhưng các chế định pháp luật về hành chính không điều chỉnh được, phải qua một lần xét xử khác thì quyền của người sử dụng đất mới được bảo đảm? Nên chăng, khi thụ lý giải quyết các vụ tranh chấp quyền sử dụng đất, ngoài việc công nhận tính pháp lý của Giấy chứng nhận QSDĐ cho một bên, trách nhiệm của tòa án là phải đồng thời tuyên buộc bên kia “chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện quyền sử dụng đất”. Bởi, xét về bản chất thì tranh chấp quyền sử dụng đất và cản trở việc thực hiện quyền sử dụng đất đều cùng một quan hệ pháp luật. Cơ quan thi hành án phát sinh trách nhiệm ngay từ khi đương sự có đơn yêu cầu thi hành án. Sau thời gian tự nguyện được ấn định theo luật, Chấp hành viên phải buộc “chấm dứt hành vi cản trở ” ngay; nếu không chấp hành phải phạt tiền, kiên quyết buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu, nếu có hành vi phá phách, gây thiệt hại. Tùy theo tính chất, mức độ, hậu quả gây ra mà cơ quan chức năng phải  truy cứu trách nhiệm hình sự theo đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự. Chính quyền cơ sở cũng phải tăng cường trách nhiệm trước những vấn đề nhạy cảm này… Có như vậy, pháp luật mới được thực hiện nghiêm minh, quyền lợi chính đáng của người dân được bảo đảm.

SOURCE: BÁO NGƯỜI ĐẠI BIỂU NHÂN DÂN ĐIỆN TỬ

Trích dẫn từ:

http://www.nguoidaibieu.com.vn/Trangchu/VN/tabid/66/CatID/7/ContentID/109438/Default.aspx

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: