SỰ TRỞ LẠI ĐÁNG LO NGẠI CỦA MỘT HỌC THUYẾT LỖI THỜI

TS. NGUYỄN QUỐC VINH – Giảng viên Học viện Tư pháp, Cơ sở 2, TP. Hồ Chí Minh

Những tưởng quy định lỗi thời của Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 (Pháp lệnh HĐKT) và Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995 rằng, giao dịch do một pháp nhân giao kết khi pháp nhân này không (hoặc chưa) có đăng ký kinh doanh (ĐKKD) trong lĩnh vực cụ thể nào đó sẽ bị vô hiệu, đã được loại bỏ bởi việc ban hành BLDS năm 2005. Nhưng, với số lượng ngày càng tăng các bản án tuyên vô hiệu hợp đồng do doanh nghiệp không ĐKKD trong thời gian gần đây, (thời điểm gần nhất mà chúng tôi được biết là Bản án số 2354/2009/DSPT ngày 10/12/2009 của TAND TP. Hồ Chí Minh1), thì đây là sự trở lại đáng lo ngại của hiện tượng tuyên vô hiệu hợp đồng do pháp nhân không có ĐKKD.

Bài viết, vì vậy, sẽ tập trung phân tích nguồn gốc học thuyết yêu cầu pháp nhân phải kinh doanh trong phạm vi ĐKKD trên thế giới, lược sử áp dụng quy định tại Việt Nam và những khuyến nghị cho Tòa án và cơ quan lập pháp Việt Nam về vấn đề này.

1. Nguồn gốc của học thuyết ultra vires

Học thuyết yêu cầu doanh nghiệp phải kinh doanh trong phạm vi ĐKKD hay trong văn kiện thành lập công ty như Điều lệ (Charter hay Articles of Association) hoặc Thỏa thuận thành lập (Memorandum of Association) được hiểu chung trên thế giới là học thuyết về ultra vires (the doctrine of ultra vires). Học thuyết này có nguồn gốc từ nước Anh. Tại các nước theo hệ thống luật lục địa, học thuyết này không tồn tại (như tại nước Đức) hoặc có phạm vi áp dụng không đáng kể (như tại nước Pháp)2. “Ultra” theo tiếng La-tinh có nghĩa là vượt quá, còn “vires” có nghĩa là thẩm quyền của một người3. Học thuyết ultra vires được áp dụng trong một số ngành luật như luật hiến pháp, hành chính và công ty. Tuy nhiên, học thuyết được áp dụng phổ biến nhất trong luật công ty với nghĩa là hành vi vượt quá phạm vi hoạt động kinh doanh của công ty mà đã được nêu trong văn kiện thành lập công ty (và đã được đăng ký với cơ quan đăng ký công ty)4.

Về lịch sử, học thuyết ultra vires được áp dụng đầu tiên tại Anh đối với công ty thành lập theo các đạo luật của Nghị viện. Các công ty này được thành lập nhằm phục vụ cho các nhu cầu thiết yếu của xã hội như giao thông vận tải, điện lực hay khai thác than… Trong các đạo luật thành lập công ty có các quy định hạn chế phạm vi hoạt động của công ty. Việc vi phạm các quy định hạn chế này được coi là hành vi ultra vires và giao dịch vì vậy sẽ vô hiệu5.

Tuy nhiên, học thuyết chỉ bắt đầu được áp dụng phổ biến sau sự ban hành Đạo luật về Công ty cổ phần năm 1856 (Joint Stock Company Act 1856). Trước thời điểm ban hành đạo luật này, một công ty cổ phần tại Anh có tư cách và trách nhiệm giống như một công ty hợp danh. Đạo luật về Công ty cổ phần 1856 được ban hành nhằm mục đích sửa đổi bản chất hợp danh của công ty cổ phần. Đặc tính vô hạn của thành viên hợp danh được chuyển thành đặc tính trách nhiệm hữu hạn của một cổ đông công ty, sao cho phù hợp với tinh thần của Đạo luật về Trách nhiệm hữu hạn 1855 (Limited Liability Act 1855). Tuy nhiên, khi ban hành Đạo luật về Công ty cổ phần năm 1856, các nhà lập pháp có suy nghĩ rằng, một khi cho phép trách nhiệm của cổ đông là hữu hạn thì chủ nợ của công ty sẽ không được đảm bảo. Bởi vì, cổ đông trong công ty có thể lạm dụng địa vị trách nhiệm hữu hạn để trốn tránh trách nhiệm cá nhân của mình6. Vì lẽ đó, để bảo vệ chủ nợ và cổ đông tương lai, Đạo luật về Công ty cổ phần 1856 có một điều khoản quy định rằng trong thỏa thuận thành lập công ty7, các cổ đông phải có điều khoản về phạm vi hoạt động của công ty, trong đó liệt kê các lĩnh vực kinh doanh của công ty8,9. Bằng cách này, một chủ nợ hoặc một cổ đông tương lai có thể tham chiếu đến điều khoản về phạm vi hoạt động của công ty tại thỏa thuận thành lập/điều lệ công ty để biết phạm vi hoạt động của công ty và quyết định có cho nợ hoặc đầu tư vào công ty hay không. Nếu công ty có hành vi vượt quá phạm vi hoạt động đã quy định thì chủ nợ hoặc cổ đông có quyền yêu cầu tòa án ra lệnh cho công ty chấm dứt hành vi vượt quá thẩm quyền hoặc yêu cầu giải thể công ty. Đối với giao dịch vượt quá thẩm quyền đã giao kết với bên thứ ba, cổ đông hoặc chủ nợ có quyền yêu cầu tòa án tuyên vô hiệu giao dịch với bên thứ ba. Từ thời điểm ban hành Đạo luật về Công ty cổ phần 1856 và qua án lệ vụ Ashbury Carriage Company v. Riche10, học thuyết ultra vires đã được áp dụng rộng khắp nước Anh11.

Tuy nhiên, ngay từ khi áp dụng học thuyết ultra vires, các bên liên quan đã thấy những nhược điểm của học thuyết này khi nó hạn chế quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp. Những người điều hành doanh nghiệp một mặt luôn phải xác định xem hành vi của mình đang thực hiện nhân danh doanh nghiệp có nằm trong phạm vi hoạt động của doanh nghiệp hay không. Nếu không, dù đó là cơ hội kinh doanh có lợi nhuận cao cũng không được quyền giao dịch. Tất nhiên, các cổ đông có thể sửa đổi thỏa thuận thành lập và điều lệ tương ứng nhưng quy trình sửa đổi thì lâu mà cơ hội kinh doanh có thể đã bị mất. Đối với các bên giao dịch với doanh nghiệp, trước khi giao dịch cũng phải tìm hiểu xem doanh nghiệp có thẩm quyền giao kết trong một lĩnh vực nào đó không. Tuy nhiên, quan trọng hơn là một bên ác ý luôn có thể lạm dụng học thuyết để yêu cầu vô hiệu hợp đồng, khiến học thuyết trở thành một cái bẫy cho những bên ngay tình12. Chính bản thân tòa án cũng nhận thấy sự bất hợp lý của quy định mà những án lệ sau đó, tòa án bằng cách này hay cách khác giảm thiểu đi tính hà khắc của học thuyết ultra vires mà chính tòa đã áp dụng13.

Vì những lẽ này mà Anh quốc đã thực hiện một loạt những sửa đổi trong luật công ty của mình để loại bỏ ảnh hưởng bất lợi của học thuyết. Những sửa đổi lớn đối với học thuyết được thực hiện tại Đạo luật về Công ty 1948 (Companies Act 1948), Đạo luật về Công ty 1985 (Companies Act 1985) và Đạo luật về Công ty 1989 (Companies Act 1989). Trong đó, những sửa đổi tại Đạo luật về Công ty 1989 được coi là triệt để nhất.

Khoản 1 Điều 35, Đạo luật về Công ty 1989 quy định: “Tính có hiệu lực của một hành vi của công ty không bị ảnh hưởng bởi lý do rằng công ty không có thẩm quyền thực hiện hành vi đó như được quy định tại thỏa thuận thành lập công ty”14.

Theo quy định trên, dù công ty có hay không quy định tại Thỏa thuận thành lập/Điều lệ phạm vi hoạt động, kinh doanh của mình nhưng quy định này sẽ không có hiệu lực khi công ty thực hiện giao dịch với bên thứ ba (dù bên thứ ba là ngay tình hay thậm chí ác ý)15. Nói cách khác, giao dịch với bên thứ ba vẫn có hiệu lực dù giao dịch này vượt quá lĩnh vực ngành, nghề kinh doanh của công ty.

Tuy nhiên, mặc dù thừa nhận tính có hiệu lực của giao dịch với bên thứ ba, các nhà lập pháp Anh vẫn cho phép học thuyết có giá trị ràng buộc trong nội bộ công ty. Giả sử các cổ đông trong Thỏa thuận thành lập vẫn quy định về phạm vi hoạt động của công ty mà người đại diện cho công ty lại hành động vượt quá phạm vi này, gây thiệt hại cho công ty hay chủ nợ thì người đại diện sẽ chịu trách nhiệm trực tiếp với cổ đông hoặc chủ nợ công ty. Cổ đông hay chủ nợ khác có quyền kiện đòi người đại diện công ty cho hành vi ultra vires được thực hiện bởi người này.

Như vậy, có thể thấy qua thời gian, nội hàm của học thuyết ultra vires đã được thay đổi ngay tại nước nguyên xứ của học thuyết. Theo đó, học thuyết không có giá trị ràng buộc đối với bên thứ ba. Hợp đồng, giao dịch với bên thứ ba vượt quá phạm vi hoạt động kinh doanh vẫn có hiệu lực. Tuy nhiên, học thuyết lại có giá trị ràng buộc trong nội bộ công ty. Cơ quan điều hành của công ty khi giao kết hợp đồng phải chịu trách nhiệm trực tiếp với cổ đông hay chủ nợ cho những giao dịch vượt quá phạm vi hoạt động kinh doanh nêu tại văn kiện thành lập công ty.

2. Lược sử áp dụng học thuyết tại Việt Nam và một số khuyến nghị

Ở Việt Nam, dường như yêu cầu về doanh nghiệp phải hoạt động trong phạm vi ĐKKD16được đề cập đầu tiên tại Pháp lệnh HĐKT. Điểm b, Khoản 1, Điều 8 Pháp lệnh này quy định hợp đồng sẽ vô hiệu toàn bộ nếu “một trong các bên ký kết hợp đồng kinh tế không có ĐKKD theo quy định của pháp luật để thực hiện công việc đã thoả thuận trong hợp đồng”.

Tiếp theo, Điều 96 BLDS năm 1995 cũng khẳng định một pháp nhân “phải hoạt động đúng mục đích [được thành lập]”. Đây là một quy định bắt buộc, việc vi phạm sẽ mang đến hậu quả, trong phạm vi giao dịch dân sự/kinh tế, là hợp đồng vô hiệu.

Điều 8 Luật Doanh nghiệp năm 1999 cũng quy định doanh nghiệp có nghĩa vụ “hoạt động kinh doanh theo đúng các ngành, nghề đã đăng ký”. Luật này còn đề cập hậu quả hành chính đối với hành vi vi phạm, còn hậu quả về mặt pháp luật dân sự (giao dịch có vô hiệu hay không), luật không đề cập tới.

Các nhà làm luật không giải thích vì sao họ đặt ra các yêu cầu trên. Vì vậy, thật khó mà xác định được ý chí đích thực của nhà làm luật Việt Nam. Trong một bài nghiên cứu về học thuyếtultra vires tại các nước theo hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa (XHCN), hai nhà nghiên cứu người Trung Quốc đã chứng minh rằng, việc quy định doanh nghiệp phải hoạt động trong phạm vi ĐKKD có nguồn gốc là nhằm để bảo đảm rằng các doanh nghiệp nhà nước hoạt động theo đúng các chỉ tiêu, kế hoạch kinh tế của Nhà nước tại các nước theo mô hình kinh tế tập trung XHCN trước đây17. Nhà nước giao vốn cho các doanh nghiệp (Nhà nước) và yêu cầu các doanh nghiệp này phải hoạt động trong phạm vi lĩnh vực, ngành nghề mà mình cho phép thành lập.

Kể từ thời điểm Việt Nam ban hành Pháp lệnh HĐKT và BLDS năm 1995, quy định yêu cầu doanh nghiệp phải hoạt động trong phạm vi ĐKKD cũng đã tạo ra nhiều phiền toái cho doanh nghiệp làm ăn đứng đắn. Bên không ngay tình luôn viện đến quy định này để trốn tránh trách nhiệm của mình18. Tòa án đã tuyên bố vô hiệu rất nhiều hợp đồng chỉ vì doanh nghiệp vi phạm quy định này. Nhận thức được sự vô lý của quy định, trong phạm vi thẩm quyền của mình, Tòa án nhân dân tối cao trong Nghị quyết số 04/2003/NQ-HĐTP đã nới lỏng tính hà khắc của quy định bằng việc cho phép bên không ĐKKD nếu đã bổ sung ĐKKD trước khi xảy ra tranh chấp (sau khi hợp đồng được giao kết) thì hợp đồng vẫn có hiệu lực19.

Việc ban hành BLDS năm 2005 và Luật Thương mại năm 2005 đã thay thế BLDS năm 1995 và Pháp lệnh HĐKT. Hậu quả vô hiệu tại các văn bản trên đã được gỡ bỏ. Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp năm 2005 lại vẫn giữ nguyên điều khoản yêu cầu doanh nghiệp có nghĩa vụ hoạt động trong phạm vi ĐKKD tại Khoản 1 Điều 9. Đây là tiền đề cho sự trở lại của hậu quả hợp đồng vô hiệu do doanh nghiệp vi phạm phạm vi ĐKKD mà vụ án nói tại phần đầu bài viết là một ví dụ.

Việc áp dụng trở lại học thuyết ultra vires tại Việt Nam lại một lần nữa mang đến tính không thể lường trước của giao dịch và những phán quyết bất hợp lý sau đó. Cái bẫy cho bên ngay tình lại được chăng ra và lạm dụng bởi các bên ác ý.

Để tạo môi trường kinh doanh ổn định, lành mạnh, bảo vệ bên ngay tình, các nhà làm luật Việt Nam cần phải quy định triệt để về hậu quả dân sự của yêu cầu kinh doanh trong phạm vi ĐKKD. Giao dịch vượt quá phạm vi ĐKKD có vô hiệu hay không? Trường hợp nào thì vô hiệu và vì sao?

Để trả lời những câu hỏi này, giải pháp của Anh quốc, nơi nguyên xứ của học thuyết ultra vires, là đáng để cho nhà làm luật và các Tòa án Việt Nam quan tâm, tham khảo.

Một điểm cần lưu ý là trong các ngành, nghề kinh doanh luôn có ngành, nghề kinh doanh có điều kiện. Tức là pháp luật quy định doanh nghiệp chỉ có thể kinh doanh khi có chứng chỉ hành nghề hoặc điều kiện vốn hoặc điều kiện khác về cơ sở vật chất, con người… Chỉ khi thỏa mãn những điều kiện pháp luật quy định, doanh nghiệp mới được quyền kinh doanh trong lĩnh vực này. Nó khác với các ngành kinh doanh thông thường, nơi doanh nghiệp chỉ cần thực hiện việc đăng ký và sẽ đương nhiên được kinh doanh trong lĩnh vực đó. Vậy, giả sử nếu một công ty chưa thỏa mãn điều kiện kinh doanh do pháp luật yêu cầu, ví dụ chưa có chứng chỉ hành nghề, giấy phép kinh doanh hay vốn pháp định, nhưng lại giao dịch với một bên thứ ba thì giao dịch có vô hiệu hay không? Về vấn đề này, nguyên tắc chung là thẩm phán sẽ phải xác định xem yêu cầu về điều kiện kinh doanh là quy định cấm (quy định bắt buộc) của pháp luật hay chỉ là quy định mang tính quản lý hành chính. Nếu quy định về điều kiện kinh doanh là quy định cấm (bắt buộc) của pháp luật – yêu cầu được đặt ra để bảo vệ lợi ích công cộng (ví dụ sức khỏe cộng đồng, an ninh quốc gia…), bên liên quan nhất thiết phải thỏa mãn điều kiện kinh doanh mới được giao dịch, thì hậu quả giao dịch sẽ vô hiệu tuyệt đối. Nếu là quy định mang tính quản lý – yêu cầu mang tính quản lý hành chính nhà nước mà không phải để bảo vệ lợi ích công cộng, thì giao dịch không nhất thiết bị vô hiệu mà hậu quả chỉ là phạt vi phạm hành chính đối với các bên vi phạm.

Chú thích:

(1) Nội dung tranh chấp của vụ án là nguyên đơn giao kết hợp đồng dịch vụ (thực chất là hợp đồng ủy quyền) với bị đơn, ủy quyền cho bị đơn thay mặt mình giải quyết những vấn đề tồn đọng của một hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Nguyên đơn đã thanh toán phí dịch vụ làm nhiều đợt, tổng cộng 300.000.000 đồng cho bị đơn. Sau này, cho rằng bị đơn không hoàn thành công việc và không có chức năng làm dịch vụ pháp lý nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu hợp đồng dịch vụ. Bị đơn cho rằng hợp đồng dịch vụ này là hợp đồng dân sự thuần túy và mình đã thực hiện một số công việc nhất định nên yêu cầu Tòa án thừa nhận tính có hiệu lực của hợp đồng và nguyên đơn có nghĩa vụ thanh toán phí dịch vụ. TAND TP. Hồ Chí Minh ngày 12/10/2009 đã tuyên: “Căn cứ Điều 7 và Điều 9, Luật Doanh nghiệp [2005] thì doanh nghiệp phải thực hiện kinh doanh ngành, nghề cụ thể được thể hiện bằng giấy phép kinh doanh, hoạt động kinh doanh theo đúng ngành, nghề đã ghi trong giấy chứng nhận ĐKKD”. Do nội dung ĐKKD của bị đơn “không có nội dung nào như hợp đồng dịch vụ đã ký” nên hợp đồng dịch vụ này là vô hiệu, bị đơn phải hoàn trả cho nguyên đơn khoản phí dịch vụ đã nhận (300.000.000 đồng).

(2) Xem Lutz-Christian Wolf trong “The Disappearance of the Ultra Vires Doctrine in Greater China: Harmonized Legislative Action or (simply) an Accident of History?”, Northwestern Journal of International Law and Business, 2003, tr. 635.

(3) Xem Paul L. Davies trong cuốn sách “Principles of Modern Company Law”, Nxb. Sweet & Maxwell Ltd, 1997, tr. 202.

(4) Trong một số trường hợp khác, ultra vires là hành vi vượt quá thẩm quyền của một cơ quan chức năng của công ty như giám đốc, hội đồng quản trị… Tuy nhiên, do mang bản chất khác, vấn đề không được đề cập tại đây.

(5) Xem Stephen Griffin trong “The Rise and Fall of the Ultra Vires Rule in Corporate Law”, Mountbatten Journal of Legal Studies, số 2, 1998.

(6) Xem Stephen. tlđd.

(7)Theo luật công ty các nước theo hệ thống thông luật, văn kiện thành lập công ty bao gồm điều lệ và thỏa thuận thành lập công ty.

(8) Điều khoản về hoạt động của công ty cũng được nêu tại điều lệ của công ty.

(9) Một lý do kém quan trọng hơn là để tránh hiện tượng “buôn bán đăng ký công ty”.

(10) Xem vụ Ashbury Carriage Company v. Riche, L.R. 7 H.L. 653 (1875). Trong vụ kiện này, nguyên đơn chỉ ĐKKD là sản xuất và bán toa xe lửa nhưng đã ký hợp đồng đồng ý cấp vốn cho việc xây dựng hệ thống xe lửa tại Bỉ. Sau đó, công ty không thực hiện việc cấp vốn và bị kiện. Công ty viện lý cho việc vi phạm hợp đồng là hành vi cấp vốn vượt quá phạm vi hoạt động kinh doanh của công ty. Vụ kiện được đưa đến Tòa án tối cao (the House of Lords) và tòa này đã phán quyết rằng hành vi cấp vốn là hành vi ultra vires, vượt quá thẩm quyền của công ty và vì vậy, vô hiệu tuyệt đối (void ab initio).

(11) Xem Davies, sđd, tr. 203.

(12) Xem Davies, sđd, tr. 204.

(13) Có thể xem, ví dụ vụ A-G v Great Eastern Rly Co, 5 App Cas 473, HL (1880). Theo đó, Tòa án tối cao phán quyết rằng, ngoài những lĩnh vực kinh doanh đã được liệt kê cụ thể tại thỏa thuận thành lập thì những lĩnh vực bổ trợ hoặc liên quan đến lĩnh vực chính này cũng được xem là lĩnh vực kinh doanh trong thẩm quyền của công ty.

(14) Điều 35 và 35(A) của Đạo luật về Công ty 1989 đã trở thành Điều 39 và 40 của Đạo luật về Công ty 2006 hiện hành.

(15) Tức là biết hoặc không biết công ty đang có giao dịch vượt quá thẩm quyền.

(16) Lưu ý rằng về hình thức áp dụng học thuyết ultra vires tại Việt Nam có khác một chút. Đó là pháp luật yêu cầu doanh nghiệp phải hoạt động trong phạm vi ĐKKD, còn tại Anh quốc là hoạt động trong phạm vi điều khoản về phạm vi hoạt động trong thỏa thuận thành lập và điều lệ. Tuy nhiên, sự khác biệt này chỉ là hình thức. Về bản chất đều là doanh nghiệp phải hoạt động trong phạm vi điều lệ/thỏa thuận thành lập đã được đăng ký với cơ quan đăng ký công ty.

(17) Xem Zhong Jianhua và Yu Guanghua trong “China’s Uniform Contract Law: Progress and Problems” tại Tạp chí UCLA Pacific Basin Law Journal, 1999, tr. 18 (giải thích chức năng của học thuyết ultra vires trong các nền kinh tế XHCN).

(18) Bởi hậu quả vô hiệu hợp đồng, các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận khiến một bên không phải thanh toán thù lao, tiền lãi hoặc sử dụng tài sản một thời gian rồi lại có thể trả cho bên bán v.v…

(19) Điểm 1(a) Nghị quyết 04/2003/NQ-HĐTP của TANDTC ngày 27/05/2003.

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ

Trích dẫn từ: http://www.nclp.org.vn/thuc_tien_phap_luat/su-tro-lai-111ang-lo-ngai-cua-mot-hoc-thuyet-loi-thoi

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: