Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

THỰC TIỄN ÁP DỤNG LUẬT: CHUNG SỐNG TRƯỚC NGÀY 3 THÁNG 1 NĂM 1987 LÀ HÔN NHÂN THỰC TẾ?

TÙNG CHI

Theo Tòa Dân sự TAND Tối cao, hiện nhiều thẩm phán đang có cách hiểu khác nhau khi vận dụng Điều 3 Nghị quyết 35 năm 2000 của Quốc hội.

Có người nói nam nữ cứ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 3-1-1987 là hôn nhân thực tế, có người lại bảo phải đủ điều kiện kết hôn mới được công nhận…

Một ví dụ tiêu biểu đã được đưa ra: Ông A chung sống với bà B nhiều năm, đã có con chung và tài sản chung. Đến năm 1970, ông A lấy thêm vợ lẽ là bà C (có tổ chức cưới hỏi), sau đó sống với bà C. Năm 2002, ông A xin ly hôn bà C. Vậy quan hệ giữa ông và bà C có phải là hôn nhân thực tế hay không?

Chỉ cần chung sống như vợ chồng?

Những thẩm phán theo cách hiểu thứ nhất cho rằng trong trường hợp này, quan hệ giữa ông A và bà C vẫn được công nhận là hôn nhân thực tế dù vừa vi phạm về hình thức (không đăng ký kết hôn) vừa vi phạm về nội dung (ông A đã có vợ hợp pháp là bà B).

Các thẩm phán lý giải: Theo Điều 3 Nghị quyết 35, hai bên nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 3-1-1987 (ngày Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 có hiệu lực) nhưng không đăng ký kết hôn thì được tòa công nhận là vợ chồng khi ly hôn. Như vậy, điều khoản trên không hề quy định nam nữ sống với nhau như vợ chồng phải có đủ điều kiện kết hôn theo Luật Hôn nhân và Gia đình.

Vì luật không quy định nên các thẩm phán cho rằng chỉ cần điều kiện duy nhất là hai bên chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 3-1-1987 thì công nhận họ là vợ chồng mà không cần điều kiện gì khác. Luật pháp không bắt buộc mà chỉ khuyến khích họ đi đăng ký kết hôn nên giả sử họ không đăng ký thì thực chất họ vẫn có mối quan hệ vợ chồng.

Hay phải đủ các điều kiện kết hôn?

Ngược lại, nhiều thẩm phán khác không đồng tình với cách hiểu trên. Theo họ, ông A và bà C sẽ không được công nhận là vợ chồng dù hai bên có tổ chức cưới hỏi đàng hoàng, có sống chung từ năm 1970 bởi ông A đang có vợ là bà B.

Theo các thẩm phán, Điều 3 Nghị quyết 35 chỉ châm chước cho các trường hợp sống chung với nhau như vợ chồng trước ngày 3-1-1987 mà vi phạm điều kiện về hình thức là chưa đăng ký kết hôn; còn về nội dung phải thì tuân thủ đầy đủ điều kiện kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 1960 (Trừ những trường hợp cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc trước giải phóng lấy tiếp vợ hai, đã có thông tư hướng dẫn riêng).

Tòa Dân sự TAND Tối cao đồng ý với quan điểm này vì Điều 35 Nghị quyết 35 không yêu cầu có đủ điều kiện kết hôn cũng không có nghĩa là không cần tuân thủ điều kiện khi kết hôn. Theo Tòa Dân sự, thẩm phán hiểu khái niệm không quy định điều kiện kết hôn đồng nghĩa với khái niệm không cần đủ điều kiện kết hôn là máy móc và không chính xác. Đánh đồng hai khái niệm trên sẽ dẫn đến chuyện áp dụng pháp luật thiếu thống nhất.

Mặt khác, Tòa Dân sự cho rằng nếu áp dụng theo quan điểm thứ nhất thì rất khó xử lý những trường hợp đặc biệt như những người cùng dòng máu về trực hệ như cha, con, anh em; cha mẹ nuôi với con nuôi. Tương tự là giữa những người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng với con dâu; mẹ vợ với con rể; cha dượng với con riêng của vợ; mẹ kế với con riêng của chồng; những người có họ trong phạm vi ba đời… Bởi thực tế có trường hợp thuộc một trong các trường hợp trên sống với nhau như vợ chồng, có tổ chức lễ cưới, thực sự chăm sóc, yêu thương, giúp đỡ nhau nhưng làm sao có thể công nhận họ là vợ chồng được!

Theo một lãnh đạo Tòa Dân sự, luật hôn nhân và gia đình các năm 1960, 1986 và 2000 đều quy định hôn nhân muốn được coi là hợp pháp trước hết phải thỏa mãn các điều kiện kết hôn, không vi phạm điều cấm của pháp luật. Do đó, Điều 3 Nghị quyết 35 của Quốc hội cũng không thể thoát ly ngoài các quy định đó.

Không chỉ dựa vào câu chữ

Theo Tòa Dân sự TAND Tối cao, khi tìm hiểu, giải thích pháp luật, để đảm bảo tính chính xác và không mâu thuẫn với quy định khác thì không chỉ căn cứ vào câu chữ cụ thể mà còn phải tổng hợp các quy định về các vấn đề đó. Có như vậy mới đảm bảo tính ổn định và thống nhất trong việc giải thích và áp dụng pháp luật, không rơi vào chuyện áp dụng máy móc, trái thực tế, trái đạo đức.

Không thể vi phạm điều kiện về nội dung

Tôi cho rằng trong trường hợp hai người sống với nhau nhưng vi phạm điều kiện kết hôn về nội dung như đang có vợ (chồng) hoặc vi phạm đạo đức thì không nên công nhận hôn nhân thực tế cho họ. Nếu có tranh chấp thì tòa chỉ nên giải quyết về vấn đề tài sản hoặc con chung cho họ.

Nếu chấp nhận một cách dễ dãi theo kiểu luật không quy định điều kiện theo quan điểm thứ nhất thì sẽ có người được công nhận nhiều hôn nhân một lúc, gây nhiều khó khăn, rắc rối khi giải quyết hậu quả phát sinh.

Thẩm phán HOÀNG VĂN HẢI, Phó Chánh án TAND tỉnh Tây Ninh

Phải hiểu đúng tinh thần nghị quyết

Theo tôi, phải hiểu theo cách thứ hai mới đúng tinh thần Nghị quyết 35 bởi ngoài các điều kiện về mốc thời gian nêu trên thì phải có đủ điều kiện kết hôn mới có thể coi là hôn nhân thực tế. Điều kiện kết hôn ở đây có thể hiểu là yếu tố đương nhiên cho một cuộc hôn nhân có ý nghĩa.

Tôi nghĩ chẳng ai máy móc mà công nhận vợ chồng cho những người thiếu năng lực hành vi hoặc có quan hệ họ hàng gần gũi, có dòng máu trực hệ với nhau cả.

Luật sư NGUYỄN MINH TÂM, Đoàn Luật sư TP.HCM

SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM

Trích dẫn từ: http://phapluattp.vn/20100808111245718p0c1063/chung-song-truoc-ngay-311987-la-hon-nhan-thuc-te.htm

Advertisements

3 Responses

  1. Luật HN&GĐ năm 1959, 1986 đều quy định nguyên tắc một vợ một chồng nên theo tôi giải quyết hôn nhân thực tế trước ngày 03/01/1987 phải theo cách hiểu thứ 2 mới hợp lý. Tôi đồng ý với quan điểm của Tòa Dân sự TAND Tối cao là khi tìm hiểu, giải thích pháp luật, để đảm bảo tính chính xác và không mâu thuẫn với quy định khác thì không chỉ căn cứ vào câu chữ cụ thể mà còn phải tổng hợp các quy định về các vấn đề đó.

  2. Có tình huống cụ thể sau:
    Năm 1985 , anh A và chị B( đủ điều kiện kết hôn) tổ chức lễ cưới rồi về sống cùng nhau. Họ có con chung là C (1988) và cùng tích cóp mua được 1 căn nhà cấp 2 diện tích 200 m2 . đầu năm 1991, quan hệ A&B rạn nứt do A nảy sinh tình cảm lứa đôi với chị D- người láng giềng-có hộ kẩu thường trú cùng địa phương vớ A,B.
    Tháng 11/1994, A lên biên giới làm ăn. Tại đây A gặp lại D và 2 người công khai sống với nhau như vợ chồng. ngày 15/10/2000 anh A và chị D ĐKKH tại UBND xã E, huyện G nơi D có HK tạm trú và được cơ quan hộ tịch nơi dây cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 20/10/2000. Sau kết hôn A,D sống hạnh phúc và có con chung E(10/12/2000). A và D đã tạo dựng được khối tài sản chung trị giá 2 tỷ
    Tháng 2/2001 A làm đơn xin ly hôn vớ B và tòa án có thẩm quyền giải quyết cho chấm dứt hôn nhân bằng bản án có hiệu lực ngày 10/8/2001.
    Ngày 15/10/2001 Hội LHPN huyện G nộp đơn yêu cầu TA huyện G hủy việc kết hôn trái pháp luật của A,D
    Theo anh chị TA huyện G phải giải quyết yêu cầu của Hội PN huyện G như thế nào, tại sao?.
    Chúng em làm bài mà cứ cãi nhau loạn cả lên. Nhờ các anh chi đi trước chỉ dẫn nhé

  3. thứ nhất: tôi đồng ý với quan điểm thứ hai là phải xem xét đến điều kiện về nội dung đối với hôn nhân thực tế.
    thứ hai: nếu như các bạn đọc nghị quyết 02/HĐTP-2000 có nói: “người đang có vợ hoặc chồng là: … người sống chung với người khác như vợ chồng từ trước ngày 03/1/1987 và đang chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn…”. như vậy, nếu như hiện tại họ không còn sống chung với nhau nữa thì không thể coi là người đang có vợ có chồng được.

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: