Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT: TRANH CHẤP “TIỀN GIÚP” VAY VỐN NGÂN HÀNG

VĂN ĐOÀN

Nguyên đơn thì nói tiền vay, bị đơn lại nói tiền thưởng. Nhiều ý kiến cho rằng tòa chưa làm rõ tiền gì nên tuyên án chưa chính xác.

Ông H. ở quận Phú Nhuận (TP.HCM) hiện đang kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm của TAND quận 3 về vụ kiện đòi lại tiền cho vay vì cho rằng cấp sơ thẩm chưa làm rõ nhiều tình tiết quan trọng của vụ án.

Người nói vay, người nói thưởng

Ông H. cho biết tháng 10-2009, ông làm hồ sơ vay ngân hàng 2,7 tỉ đồng để làm vốn kinh doanh. Hồ sơ của ông H. được ông D., cán bộ tín dụng của ngân hàng, thẩm định.

Khoảng 10 ngày sau, ông D. cho ông biết là hồ sơ không thể vay được 2,7 tỉ đồng mà chỉ có thể vay được khoảng 1,8 tỉ đồng. Ông trả lời rằng số tiền vay như vậy là quá ít. Ngay lúc đó, ông D. giới thiệu cho ông một người bạn ở ngân hàng khác giúp hồ sơ vay được nhiều tiền hơn. Kèm theo đó là điều kiện nếu ông vay được nhiều thì phải cho ông D. vay lại 180 triệu đồng trong thời hạn sáu tháng với lãi suất bằng lãi suất ngân hàng. Ông đồng ý.

Sau đó, ông đã vay được 2 tỉ đồng nên ông thực hiện ngay cam kết với ông D. Việc vay mượn này không có giấy tờ gì làm bằng cả. Thời gian sau, đến hạn trả nợ, ông D. vẫn không chịu trả tiền nên ông khởi kiện đòi lại.

Phía ông D. cũng thừa nhận có giới thiệu bạn giúp ông H. vay tiền. Tuy nhiên, khi đó ông H. bảo rằng nếu vay được 2 tỉ đồng thì sẽ thưởng cho ông 180 triệu đồng. Khi vay xong, ông H. đã thưởng cho ông như cam kết ban đầu. Cuối cùng, ông D. khẳng định:  “Số tiền trên là tiền thưởng chứ không phải tiền vay. Ông H. kiện là không có cơ sở”.

Là tiền thưởng?

Quá trình TAND quận 3 thụ lý, ông H. đã cung cấp cho tòa hai đĩa ghi âm cuộc nói chuyện qua lại giữa hai bên thể hiện chuyện vay mượn tiền. Tòa rã băng, có đoạn ông H. nói: “Ban đầu phía em hứa giải quyết với điều kiện như vậy thì anh mới đồng ý… Anh cho em vay 180 triệu, bây giờ tụi nó đòi thêm 220 triệu nữa là 400 triệu thì anh chết…”.

Xử sơ thẩm hồi tháng 7, tòa nhận định ngoài đoạn băng ghi âm trên, không có đoạn ghi âm nào thể hiện giữa ông H. và ông D. có thỏa thuận việc vay 180 triệu đồng. Tại tòa, ông D. cho rằng số tiền trên là tiền thưởng. Ông H. yêu cầu ông D. trả nợ nhưng lại không có chứng cứ gì chứng minh nên tòa bác yêu cầu khởi kiện của ông H.

Sau bản án, phía ông H. đã làm đơn kháng cáo vì cho rằng tòa xử chưa phù hợp.

Chưa làm rõ yêu cầu của các bên

Rõ ràng ông D. đã nhận 180 triệu đồng từ ông H. Tòa phải làm rõ đây là tiền gì, tiền vay hay tiền thưởng. Ông D. là người đưa ra sự kiện pháp lý “thưởng” thì ông D. cũng phải có nghĩa vụ chứng minh đó là tiền thưởng trước tòa. Đoạn băng ghi âm thể hiện việc ông H. nói cho ông D. vay 180 triệu đồng. Đây cũng là một vấn đề tòa phải làm rõ hơn. Tôi cho rằng hai vấn đề “vay”, “thưởng” mà các bên đưa ra chưa được cấp sơ thẩm làm rõ. Mà chưa làm rõ mọi chuyện tòa đã tuyên án là chưa thuyết phục.

Luật sư TRẦN CÔNG LY TAO, Đoàn Luật sư TP.HCM

SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM

Trích dẫn từ: http://phapluattp.vn/20100914105549470p1063c1016/tranh-chap-tien-giup-vay-von-ngan-hang.htm

Advertisements

2 Responses

  1. Theo quy định tại điều Điều 131. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn : ” Khi một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch dân sự mà xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó, nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu”.
    Ông D thừa nhận có nhận tiền nhưng đó là tiền thưởng. Ông H nói rằng đó là tiền vay. Như vậy, ông H đã nhầm lẫn về nội dung của giao dịch nên mới đưa tiền cho ông D.
    Trong trường hợp này tòa cần xử hủy giao dịch vô hiệu trên và yêu cầu ông D hoàn tiền lại cho ông H.

  2. Tòa rã băng, có đoạn ông H. nói: “Ban đầu phía em hứa giải quyết với điều kiện như vậy thì anh mới đồng ý… Anh cho em vay 180 triệu, bây giờ tụi nó đòi thêm 220 triệu nữa là 400 triệu thì anh chết…”.
    Thiết nghĩ, khi giải quyết những vụ việc dân sự nói chung và trường hợp trên nói riêng, khi không có chứng cứ, tài liệu (như hợp đồng, giấy tờ vay nợ ….) chứng minh cho yêu cầu của đương sự là có căn cứ và hợp pháp thì việc đưa ra đoạn băng ghi âm trên (tài liệu) của ông H. để chứng minh cho yêu cầu của mình cũng phải được xem xét, đánh giá. Cần giám định xem cuốn băng ghi âm trên có phải là cuộc trao đổi giữa ông H. và ông D. không. Nếu giám định đó là cuộc nói chuyện về sự việc vay mượn khoảng tiền trên, lời nói là của ông H. và ông D. thì đó là căn cứ quan trọng để chứng minh yêu cầu của ông H. là hợp pháp.
    Tòa án cần làm rõ nội dung của băng ghi âm trên.

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: