HIỆU LỰC CỦA CHẤP NHẬN GIAO KẾT HỢP ĐỒNG THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005 – NHÌN TỪ GÓC ĐỘ LUẬT SO SÁNH

TS. NGÔ HUY CƯƠNG – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

“Chấp nhận chỉ có hiệu lực khi đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện hay tiêu chuẩn của chấp nhận”. Đây là quy tắc chung mà bất kỳ luật gia nào cũng phải thừa nhận. Nhưng có một vài sự đáp ứng điều kiện của chấp nhận rất khó đánh giá. Nên có thể có các quy chế riêng, đôi khi gây tranh luận. Chẳng hạn Unidroit cho rằng, về nguyên tắc chung, chấp nhận bằng hành động chỉ có hiệu lực khi người đề nghị được thông báo về hành động đó. Như vậy khó có thể phân biệt giữa chấp nhận bằng hành động với chấp nhận bằng các cách thức khác khi người đề nghị nhận được một thông báo “Tôi đã hành động theo đề nghị của quí ngài”? Tuy nhiên Unidroit cũng đã nhấn mạnh rằng những thông báo như vậy chỉ cần thiết nếu bản thân hành động không bao hàm sự thông báo chấp nhận trong một khoảng thời gian hợp lý1.

Chấp nhận đề nghị là giao kết hợp đồng, tuy nhiên nhất thiết phải đáp ứng những tiêu chuẩn nhất định2. Hợp đồng được giao kết là hậu quả pháp lý mấu chốt và quan trọng nhất của chấp nhận. Nói cách khác, đó chính là điểm mấu chốt của hiệu lực của chấp nhận. Tuy nhiên trước tiên cần phải nghiên cứu thời điểm chấp nhận có hiệu lực và thời điểm hợp đồng được giao kết.

Thời điểm chấp nhận có hiệu lực theo pháp luật Việt Nam chính là thời điểm người đề nghị nhận được chấp nhận. Mặc dù Điều 397, khoản 1 Bộ luật Dân sự (BLDS) 2005 không có quy định rõ ràng về thời điểm này. Song nếu giải thích nó trong mối quan hệ với các Điều 391, khoản 1 và Điều 400 của BLDS 2005, thì chúng ta có kết quả nêu trên.

Thời điểm giao kết hợp đồng giữa những người gặp mặt nhau hoặc trao đổi trực tiếp với nhau được BLDS 2005 quy định: Đối với hợp đồng giao kết bằng lời nói là thời điểm các bên đã thoả thuận về nội dung của hợp đồng; đối với hợp đồng giao kết bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản (Điều 404 khoản 3 và khoản 4). Việc giao kết hợp đồng bằng văn bản theo tinh thần của Điều khoản này cũng có thể được hiểu trong trường hợp bên này gửi cho bên kia một bản văn hợp đồng để cùng nhau trao đổi, thoả thuận nhằm đi đến ký kết, hoặc nếu chấp nhận thì ký vào và gửi lại. Đặc biệt Điều 397, khoản 2 BLDS 2005 buộc người được đề nghị phải trả lời ngay về việc có chấp nhận hay không trong trường hợp các bên trực tiếp giao tiếp với nhau qua điện thoại hoặc qua các phương tiện giao tiếp khác (chẳng hạn như “chat”), trừ khi có thoả thuận khác về thời hạn trả lời. Vì vậy có thể suy ra trường hợp được đề cập tới trong điều khoản này có thể khác với trường hợp được nói tại Điều 404, khoản 3 BLDS 2005. Tuy nhiên các điều khoản của BLDS 2005 liên quan tới hình thức và thời điểm giao kết hợp đồng có nhiều cách giải thích khác nhau. Dưới đây sẽ đề cập tới cách giải thích cần lưu ý để suy ngẫm.

Sau khi BLDS 2005 ra đời, cơ quan soạn thảo Bộ luật này đã biên soạn một cuốn tài liệu tập huấn về những vấn đề cơ bản của nó, trong đó có vấn đề hình thức và thời điểm giao kết hợp đồng mà chúng ta đang bàn tại đây. Cơ quan soạn thảo đã tiết lộ ý đồ khi soạn thảo: “BLDS quy định các bên được lựa chọn hình thức của hợp đồng, ví dụ bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Việc lựa chọn này chỉ bị loại trừ trong trường hợp pháp luật có quy định về một hình thức cụ thể bắt buộc. Tương ứng với mỗi loại hình thức hợp đồng nêu trên, BLDS xác định thời điểm giao kết hợp đồng phù hợp, trên cơ sở công nhận hiệu lực của cam kết, thỏa thuận giữa các bên, không phụ thuộc vào yếu tố hình thức của hợp đồng. BLDS quy định nguyên tắc chung đó là hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết. Thời điểm giao kết hợp đồng bằng miệng là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng. Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng k‎ý vào văn bản.

Về nguyên tắc, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng được tính từ thời điểm giao kết nêu trên. Tuy nhiên, cần lưu‎ ý đó là các bên có thể thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng, ví dụ Luật Đất đai quy định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng thế chấp là thời điểm đăng k‎ý”3.

Có thể nói đây là ý đồ thực sự của cơ quan soạn thảo, bởi những người chủ chốt trong việc soạn thảo BLDS 2005 cũng viết: “BLDS xác định thời điểm giao kết hợp đồng trên cơ sở công nhận hiệu lực của cam kết, thoả thuận giữa các bên, không phụ thuộc vào hình thức, thủ tục của hợp đồng. Xuất phát từ đó, BLDS quy định nguyên tắc chung đó là hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết. Thời điểm giao kết hợp đồng miệng là thời điểm các bên đã thoả thuận về nội dung hợp đồng. Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản (Điều 404)”4.

Với ý đồ này chúng ta thấy, dường như nhà làm luật đã không có sự phân biệt trường hợp giao kết hợp đồng giữa những người gặp mặt hoặc trao đổi trực tiếp với nhau với trường hợp giao kết hợp đồng giữa những người không gặp mặt hoặc không trao đổi trực tiếp với nhau. Nếu các bên gặp mặt nhau đàm phán hay trao đổi qua điện thoại, thì nhiều khi khó có thể biết được ai là người đề nghị và ai là người chấp nhận. Vậy làm sao có thể rút ra được một nguyên tắc chung về thời điểm giao kết hợp đồng như ý đồ trên đã nêu là “BLDS quy định nguyên tắc chung đó là hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết”? Đáng tiếc là Điều 397 BLDS 2005 đã có sự phân biệt này, nhưng sau đó lại không sử dụng.

Liên quan đến vấn đề này, Giáo trình luật dân sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội cũng đã có sự phân biệt đáng lưu ý như sau: “Việc đề nghị giao kết hợp đồng được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau. Người đề nghị có thể trực tiếp (đối mặt) với người được đề nghị để trao đổi, thoả thuận hoặc có thể thông qua điện thoại v.v.. Trong những trường hợp này, thời hạn trả lời là một khoảng thời gian do hai bên thoả thuận ấn định. Ngoài ra, đề nghị giao kết còn có thể được thực hiện bằng việc chuyển công văn, giấy tờ qua đường bưu điện. Trong trường hợp này, thời hạn trả lời là một khoảng thời gian do bên đề nghị ấn định”5.

Thực tế các luật gia đều nhận thấy sự phức tạp trong việc phân biệt giữa đề nghị và chấp nhận đối với trường hợp có đàm phán, trao đổi. Robert W. Emerson và John W. Hardwick cho rằng, như một vấn đề thực tế, rất khó nói bên nào đưa ra đề nghị và bên nào chấp nhận đề nghị, và đưa ra ví dụ:

“Brown: Tôi thích chiếc xe con của anh.

Jones: Vâng, tuần trước ông Smith đã trả tôi $5.000 để mua nó.

Brown: Cái giá ấy nghe có vẻ ngon đấy. Nhẽ ra anh nên bán nó.

Jones: Tôi không muốn nhận ít hơn $7.000.

Brown: Tôi trả anh $6.000.

Jones: Nó là của anh với giá $6.200.

Brown: Mua”.

Tiếp theo Robert W. Emerson và John W. Hardwick giảng giải, nếu giao dịch được giao kết tại đó thì hầu hết toà án giải thích sự thoả thuận đó là một hợp đồng minh thị (express contract) thậm chí không có từ ngữ hợp đồng nào được sử dụng tại đó, và thực tế không có sự phân biệt giữa đề nghị và chấp nhận hoặc giữa người đề nghị và người chấp nhận6.

Ở Common Law, việc giao kết hợp đồng giữa những người ở xa nhau thường được nhắc tới với lời nhắn nhủ rằng chấp nhận nên được lập theo cách thức được gợi ý bởi đề nghị, chẳng hạn một đề nghị được gửi qua đường thư từ có thể là một gợi ý hợp lý rằng chấp nhận nên gửi theo đường thư từ nếu không có phương thức khác đã được gợi ý7. Cách thức đưa một chấp nhn không còn là một vấn cần phải xem xét ngày nay. Trước thời Bộ luật Thương mại Nhất thể (UCC), ở Hoa Kỳ đã chấp nhận các quy chế đặc biệt của common law về chấp nhận, tức là chấp nhận phải được chuyển đi cùng cách với đề nghị. Nhưng ngày nay, theo Bộ luật Thương mại Nhất thể của Hoa Kỳ, chấp nhận có thể bằng bất cứ cách nào và chuyển đi bằng bất cứ phương tiện gì, miễn là hợp lý và đáp ứng các yêu cầu của đề nghị (nếu có), và đều có hiệu lực như nhau8. Bình luận chính thức Điều 2-206, Bộ luật Thương mại Nhất thể đề cập tới chính sách về vấn đề này nhằm duy trì tính linh động và tính ứng dụng phù hợp với sự phát triển của các phương tiện thông tin liên lạc tiết kiện thời gian đang được sử dụng rộng rãi ngày nay9. Đối với trường hợp giao kết hợp đồng giữa những người ở xa nhau, các luật gia của Common Law không chỉ đề cập đến vấn đề phương thức gửi chấp nhận nói trên, mà còn nhấn mạnh hơn tới việc xác định thời điểm chấp nhận hay thời điểm giao kết hợp đồng10.

Cũng xuất phát từ thực tế như vậy, hai luật gia nổi tiếng thế giới là John E. C. Brierley và Roderick A. Macdonald, khi giới thiệu về luật dân sự của Quebec (Canada), nói: “Có một vấn đề đặc biệt về giao kết hợp đồng xuất hiện khi các bên không đối mặt giao dịch. Trong những trường hợp như vậy thì quan trọng là xác định cả thời gian và địa điểm giao kết hợp đồng bởi vì các vấn đề liên quan tới tài phán của toà án, áp dụng luật vật chất, thời điểm bắt đầu tính thời hiệu, và hiệu lực của việc huỷ bỏ đề nghị đều dựa vào đó”11.

Như vậy hai luật gia nổi tiếng thế giới này đã đưa ra sự phân biệt và ý nghĩa của sự phân biệt giữa giao kết hợp đồng của các bên đối mặt nhau với giao kết hợp đồng của các bên không đối mặt nhau. Ở Việt Nam trước kia cũng như gần đây có nhiều công trình khoa học giới thiệu việc phân biệt hay phân loại này. Chẳng hạn Vũ Văn Mẫu cho rằng: vấn đề biết rõ lúc nào khế ước được kết lập trở nên khó khăn hơn khi các người kết ước ở xa cách nhau và chỉ sử dụng thư tín. Ông và các luật gia Pháp đã trình bày các học thuyết liên quan tới thời điểm và địa điểm chấp nhận đề nghị trong phương thức giao kết hợp đồng với người cách mặt. Theo họ có bốn học thuyết: (1) Học thuyết tuyên bố ý chí cho rằng hợp đồng được giao kết tại thời điểm và địa điểm phát sinh ý chí chấp nhận của người được đề nghị; (2) học thuyết tống phát cho rằng hợp đồng được giao kết tại thời điểm và địa điểm người được đề nghị gửi chấp nhận đi; (3) học thuyết tiếp nhận cho rằng hợp đồng được giao kết tại thời điểm và địa điểm người đề nghị nhận được chấp nhận; và (4) học thuyết thông tin cho rằng hợp đồng được giao kết tại thời điểm và địa điểm người đề nghị biết được nội dung chấp nhận12.

Qua các khảo cứu trên, chúng ta có thể thấy bốn học thuyết này ứng dụng cho việc giao kết hợp đồng giữa những người không gặp mặt hoặc không trao đổi trực tiếp với nhau. Và có thể thấy, BLDS 2005 tiếp thu học thuyết tiếp nhận để xác định thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm người đề nghị nhận được chấp nhận (Điều 404), nhưng lại được cơ quan soạn thảo nó giải thích đó là nguyên tắc chung cho thời điểm giao kết hợp đồng bất luận trong trường hợp nào. Trong khi đó Điều 403 của Bộ luật này lại quy định: “Địa điểm giao kết hợp đồng dân sự do các bên thoả thuận; nếu không có thoả thuận thì địa điểm giao kết hợp đồng dân sự là nơi cư trú của cá nhân hoặc trụ sở của pháp nhân đã đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng”. Tinh thần và nội dung của Điều 403 này hoàn toàn giống với tinh thần và nội dung của Điều 444 BLDS Liên bang Nga: “Nếu không nơi giao kết hợp đồng nào đã được chỉ ra trong hợp đồng, thì nơi giao kết hợp đồng được xem là nơi cư trú của công dân hoặc nơi cư sở của pháp nhân đã đưa ra đề nghị”. Tuy nhiên việc xác định nơi giao kết hợp đồng ngày nay chỉ có tác dụng duy nhất liên quan tới hợp đồng có yếu tố nước ngoài để làm căn cứ lựa chọn luật áp dụng đối với hình thức hợp đồng13.

Việc phân biệt giữa các phương thức giao kết hợp đồng đã được chú ý đến trong BLDS Liên bang Nga. Chẳng hạn Điều 441 Bộ luật này quy định: “1. Khi đề nghị bằng văn bản không quy định thời hạn chấp nhận, thì hợp đồng phải được xem là giao kết nếu chấp nhận đã được người đề nghị nhận trước khi mãn hạn được quy định bởi luật hoặc các văn bản pháp lý khác, và nếu thời hạn như vậy không được quy định thì trong khoảng thời gian được yêu cầu một cách bình thường. 2. Khi đề nghị được lập bằng lời nói và không chỉ rõ thời hạn chấp nhận, thì hợp đồng được xem là giao kết, nếu bên kia ngay lập tức tuyên bố việc chấp nhận”.

Điều luật này cho thấy, mỗi khoản của Điều luật ứng với mỗi phương thức giao kết hay mỗi trường hợp giao kết, chứ không có nghĩa là khoản 1 quy định nguyên tắc chung, còn khoản 2 quy định về trường hợp cá biệt, hay ngược lại. Ở đây phải nói, BLDS Liên bang Nga có một điều luật quy định về thời điểm giao kết hợp đồng, mà so với nó Điều 404 BLDS 2005 gần giống về hình thức và nội dung. Tuy nhiên điều luật đó của BLDS Liên bang Nga có mục đích xác định việc kết lập hoặc hiệu lực của các loại hợp đồng khác nhau như hợp đồng ưng thuận, hợp đồng thực tế và hợp đồng trọng hình thức, và điều luật đó không gọi hợp đồng là “hợp đồng dân sự” như BLDS 2005. Điều luật đó viết: “Điều 433. Thời điểm giao kết hợp đồng

1. Hợp đồng được coi là giao kết tại thời điểm khi người đưa ra đề nghị nhận được chấp nhận đối với đề nghị đó.

2. Nếu trong việc tuân thủ pháp luật, việc chuyển giao tài sản cũng được yêu cầu đối với việc giao kết hợp đồng, thì hợp đồng được xem là giao kết từ thời điểm chuyển giao tài sản tương ứng (Điều 224).

3. Hợp đồng phụ thuộc vào đăng ký quốc gia được xem là giao kết từ thời điểm đăng ký, trừ khi luật có quy định khác”.

Điều 443 BLDS Liên bang Nga này cho thấy khoản 1 nói về hợp đồng ưng thuận; khoản 2 nói về hợp đồng thực tế; và khoản 3 nói về hợp đồng trọng hình thức. Trong khi Điều 404, BLDS 2005 cho thấy khoản 1 nói về hợp đồng ưng thuận; khoản 2 nói về giao kết hợp đồng ưng thuận bằng im lặng; khoản 3 nói về giao kết hợp đồng ưng thuận bằng lời nói; và khoản 4 nói về giao kết hợp đồng ưng thuận bằng văn bản.

BLDS Đức quy định: “Điều 147. Thời hạn chấp nhận

(1) Đề nghị được đưa tới người đang hiện diện có thể được chấp nhận ngay lập tức. Quy định này cũng áp dụng đối với đề nghị bởi một người đưa tới một người khác qua điện thoại.

(2) Đề nghị được đưa tới một người đang vắng mặt có thể chỉ được chấp nhận trong khoảng thời gian mà người đề nghị mong muốn nhận được trả lời trong hoàn cảnh bình thường”.

Điều luật này của BLDS Đức cũng có sự phân biệt các trường hợp như trên đã nói, và dường như có phần nào đó “giống” với Điều 397 BLDS 2005. BLDS và Thương mại Thái Lan có các điều kiện riêng cho chấp nhận trong từng trường hợp riêng biệt là giao kết hợp đồng với người ở xa và giao kết hợp đồng với người gặp mặt trực tiếp hoặc trao đổi trực tiếp với nhau tại các Điều 355 và Điều 356 tương ứng. Bộ luật này còn quy định rất rõ rằng: “Hợp đồng giữa những người ở xa nhau được kết lập tại thời điểm khi thông báo chấp nhận tới người đề nghị.

Nếu theo ý chí tuyên bố của người đề nghị hoặc theo tập quán thông thường không một thông báo chấp nhận nào là cần thiết, thì hợp đồng được giao kết vào thời điểm xảy ra sự kiện mà phải được xem như tuyên bố ý chí chấp nhận” (Điều 361).

BLDS 2005 đưa ra hai trường hợp có liên quan tới chấp nhận. Trường hợp thứ nhất liên quan tới sự kiện chết hay mất năng lực hành vi dân sự của người đề nghị được Điều 398 quy định: “Trong trường hợp bên đề nghị giao kết hợp đồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự sau khi bên được đề nghị giao kết hợp đồng trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng thì đề nghị giao kết hợp đồng vẫn có giá trị”. Trường hợp thứ hai liên quan tới sự kiện chết hay mất năng lực hành vi dân sự của người được đề nghị được Điều 399 quy định: “Trong trường hợp bên được đề nghị giao kết hợp đồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự sau khi trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng thì việc trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng vẫn có giá trị”.

Đối với trường hợp thứ nhất, BLDS Đức đã dự liệu: “Điều 153. Chết hoặc vô năng của người đề nghị

Việc giao kết hợp đồng không bị ngăn cản bởi sự kiện người đề nghị chết hoặc trở nên vô năng lực tham gia vào các giao dịch pháp lý trước khi chấp nhận, trừ khi có ý chí ngược lại về phần người đề nghị mà có thể được suy diễn ra”.

Như vậy BLDS Đức đã nhấn mạnh tới hiệu lực của đề nghị, có nghĩa là khi đề nghị được đưa tới người được đề nghị có giá trị ràng buộc người đề nghị, nếu trong một khoảng thời gian quy định hoặc hợp lý mà người được đề nghị chấp nhận, thì có thể làm phát sinh quan hệ hợp đồng giữa các bên. Việc rút lại, huỷ bỏ đề nghị hoặc thậm chí sự kiện chết hay trở nên vô năng của người đề nghị không rũ bỏ được trách nhiệm đối với đề nghị trừ khi có hoàn cảnh khác. Điều luật này của BLDS Đức là phát triển logic của nguyên tắc hiệu lực ràng buộc của đề nghị được nêu ra tại Điều 145 của Bộ luật này (điều đầu tiên trong mục nói về hợp đồng). Nhưng đối với trường hợp này, BLDS 2005 với quy định tại Điều 398 đã làm mất hiệu lực của đề nghị bởi sự kiện chết hay vô năng của người người đề nghị, kể cả trong thời hạn chờ trả lời chấp nhận, mặc dù việc thừa kế di sản của người chết và việc giám hộ đối với người vô năng đã được quy định nhiều trong Bộ luật này. Với quy định như vậy, BLDS 2005 đã vô tình tước đi quyền lợi của người được đề nghị một cách vô duyên cớ, trong khi về nguyên tắc, Bộ luật này đã khẳng định trách nhiệm của người đề nghị trong khoảng thời gian chờ chấp nhận. Sẽ giải quyết thế nào trong trường hợp người được đề nghị đã tốn chi phí cho việc hành động theo đề nghị nhưng chưa thông báo về chấp nhận cho người đề nghị, trong khi vẫn còn thời hạn chấp nhận. Việc quy định như Điều 398 BLDS 2005 là thừa và không giải quyết được vấn đề mấu chốt là hiệu lực của đề nghị. Nếu người đề nghị đã nhận được đề nghị rồi, sau đó mới chết hoặc vô năng thì không can hệ gì vì hợp đồng coi như đã được giao kết. Hợp đồng đã được giao kết thì đề nghị và chấp nhận chỉ còn lại chức năng chứng minh cho quan hệ hợp đồng đó.

Đối với trường hợp thứ hai mà BLDS 2005 quy định tại Điều 399 cũng là thừa, bởi khi người đề nghị đã nhận được chấp nhận thì hợp đồng coi như đã được giao kết, có nghĩa là có mối quan hệ hợp đồng giữa các bên rồi thì việc nhắc lại hiệu lực của đề nghị hoặc chấp nhận đều là không cần thiết như trên đã phân tích. Cần hiểu rằng một người nào đó chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự không có nghĩa là tài sản hay sản nghiệp của họ “chết” theo hoặc “mất năng lực” theo. BLDS 2005 cũng đã khẳng định người có nghĩa vụ là cá nhân chết thì nghĩa vụ chỉ chấm dứt khi nghĩa vụ đó phải do chính cá nhân đó thực hiện; và người có quyền là cá nhân chết mà quyền yêu cầu không thuộc di sản thừa kế thì mới là căn cứ để chấm dứt nghĩa vụ (Điều 374, khoản 8 và khoản 9). Nếu đã coi đề nghị và chấp nhận là các hành vi pháp lý, thì cũng phải lấy các quy tắc chung của nghĩa vụ để xem xét chúng. Vậy có thể nhận xét BLDS 2005 thiếu nhất quán.

BLDS Quebec (Canada) khi nói về hiệu lực của hợp đồng có quy định rằng:

“Điều 1440. Hợp đồng chỉ có hiệu lực giữa các bên kết ước; nó không ảnh hưởng tới người thứ ba, trừ khi luật có quy định.

Điều 1441. Với sự kiện chết của một trong các bên, quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng chuyển cho người thừa kế của người chết, nếu bản chất của hợp đồng cho phép như vậy”.

Tóm lại khi hợp đồng đã được giao kết, thì sự kiện chết hay mất năng lực hành vi của một trong các bên kết ước hoặc của tất cả các bên kết ước không ảnh hưởng gì tới việc thực hiện hợp đồng bởi quyền và nghĩa vụ phát sinh từ đó do người thừa kế hay người đại diện hợp pháp của họ thực hiện trên tài sản của họ, trừ khi bản chất của hợp đồng không cho phép. Tất nhiên đối với từng trường hợp cụ thể sẽ được xem xét thích đáng bởi cơ quan tài phán.

Các phân tích về hai trường hợp trên mới chỉ xuất phát từ loại hợp đồng ưng thuận. Còn đối với loại hợp đồng thực tế và hợp đồng trọng hình thức thì cần phải có sự tuân thủ các điều kiện riêng biệt của chúng thì hợp đồng mới được xem là được kết lập. Rất đáng tiếc đối với hai loại hợp đồng này, không giống BLDS Đức và BLDS Liên bang Nga, nhà làm luật của ta lại không chú ý đến tại mục nói về giao kết hợp đồng của BLDS 2005, trong khi cả Bộ luật này nói khá nhiều về loại hợp đồng trọng hình thức và hợp đồng thực tế tại các mục khác, nhưng có ý thức chúng là hợp đồng thực tế và hợp đồng trọng hình thức không thì chưa được rõ.

Đối với cả hai trường hợp, vấn đề cần phải làm rõ là “trả lời chấp nhận” được nói tới trong các Điều 398 và Điều 399 là thế nào. Có phải việc bắt đầu chuyển chấp nhận đi được hiểu là “trả lời chấp nhận”, hay việc người đề nghị nhận được chấp nhận mới được xem là “trả lời chấp nhận”? Việc xác định này rất quan trọng, vì sự kiện chết hay mất năng lực hành vi xảy ra trong khoảng thời gian kể từ thời điểm bắt đầu chuyển chấp nhận đi cho đến thời điểm người đề nghị nhận được chấp nhận khác với sự kiện chết hay mất năng lực hành vi xảy ra sau thời điểm người đề nghị đã nhận được chấp nhận. Có lẽ cân đối với tất cả các Điều luật khác của BLDS 2005, chúng ta nên giải thích “trả lời chấp nhận” là việc người đề nghị nhận được chấp nhận của người được đề nghị.

Về thời điểm có hiệu lực của chấp nhận, một số luật gia của Common Law khẳng định: “Một chấp nhận có hiệu lực khi nó được truyền đạt tới (it is communicated to) người đề nghị hoặc người đại diện của người đề nghị”14. Có một số luật gia khác của Common Law, khi nói về giao kết hợp đồng với người ở xa, phân tích: “Quy tắc mà toà án đã sử dụng là chấp nhận được xem là hoàn thành khi thư chấp nhận đã ghi địa chỉ và dán tem một cách thích hợp được bỏ vào thùng thư”. Các luật gia này cho rằng, nếu người đề nghị mong muốn chấp nhận đề nghị của anh ta qua đường thư từ, thì anh ta cũng nhất thiết đã chuẩn bị đón nhận rủi ro về việc thư chấp nhận đi chệch hướng, và kéo theo đó là sự tồi tệ rằng anh ta bị ràng buộc bởi hợp đồng mà không có thông báo về sự tồn tại của nó15. Án lệ của Pháp cũng có khuynh hướng theo học thuyết tống phát khi xem xét thời điểm và địa điểm giao kết hợp đồng giữa những người ở xa nhau16.

Unidroit hiện nay ủng hộ cho học thuyết tiếp nhận, nên có quy định: “Việc chấp nhận một đề nghị có hiệu lực khi sự biểu lộ đồng ý tới người đề nghị” (Điều 2.1.6). Các luật gia của Unidroit phân tích lý do tiếp nhận học thuyết tiếp nhận thay vì học thuyết tống phát rằng, rủi ro trong việc truyền đạt thông tin phải do người được đề nghị gánh chịu, bởi người được đề nghị là bên lựa chọn phương tiện thông tin, nên biết rõ hơn ai hết về những rủi ro đặc biệt hoặc chậm trễ có thể xảy ra, vì thế có khả năng hơn trong việc thực hiện các biện pháp bảo đảm cho chấp nhận đến tay người đề nghị17. Qua đây có thể thấy, nếu người được đề nghị không có quyền chủ động lựa chọn phương thức gửi chấp nhận bất kể do pháp luật, tập quán hay quy định của người đề nghị, thì tiếp nhận học thuyết tống phát là hợp lý. Còn nếu người được đề nghị có quyền chủ động thì theo học thuyết tiếp nhận là hợp lý. Vậy nên chăng để ngỏ vấn đề này cho thực tiễn tư pháp?

Về sự kiện chết hay mất năng lực hành vi của người đề nghị hoặc người được đề nghị, các nước theo truyền thống Common Law có giải pháp khác nhau và cách lý giải khác nhau. Chẳng hạn một số tác giả Hoa Kỳ cho rằng, sự kiện chết hoặc mất trí của một trong các bên liên quan tới một đề nghị cụ thể mặc nhiên (không cần thông báo) chấm dứt đề nghị. Và họ lý giải rằng hậu quả đó có được bởi vì không thể có sự gặp gỡ của ý chí (meeting of the minds)18. Trong khi đó, có tác giả Úc nói: sự kiện mà cả người đề nghị và người được đề nghị đều chết nhất thiết phải xem là chấm dứt đề nghị, nhưng nếu người đề nghị chết thì đề nghị có thể vẫn được chấp nhận sau khi anh ta chết trong một số trường hợp. Tác giả này phân tích nếu người đề nghị chết nhưng trước đó anh ta đã đồng ý hành động như một người bảo lãnh cho một khoản nợ, thì việc bảo đảm đó có thể được thi hành trên tài sản của anh ta – đó là giải pháp đã được đưa ra trong vụ Bradbury v. Morgan (1862). Tác giả này phân tích tiếp: tuy nhiên, nếu có một yếu tố nhân thân trong đề nghị thì không thể chấp nhận và chấm dứt mọi thương lượng khi người đề nghị chết; cũng như vậy sự kiện người được đề nghị chết làm chấm dứt mọi thương lượng, trừ khi người đề nghị có ý định đưa đề nghị cho cả người được đề nghị và người thừa kế của người được đề nghị, hoặc rõ nhất là trong trường hợp đề nghị được đưa ra cho công chúng, thì cái chết của một người không mang lại hậu quả gì19.

Chấp nhận cũng như đề nghị có thể rút lại. BLDS 2005 đưa ra điều kiện để rút lại chấp nhận là khi thông báo rút lại tới người đề nghị trước hoặc cùng thời điểm với thông báo chấp nhận (Điều 400), có nghĩa là chỉ được rút lại khi hợp đồng chưa được giao kết. Điều này khẳng định thêm về việc ghi nhận học thuyết tiếp nhận trong pháp luật Việt Nam.

Chú thích:

(1) Unidroit Principles of International Commercial Contracts with Official Commentary [1994], [http://www.jus.uio.no/lm/unidroit.international.commercial.contracts.principles.1…/2.2.htm], 18/03/01; Unidroit, Bộ nguyên tắc của Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế 2004, bản dịch tiếng Việt với sự tài trợ của Tổ chức quốc tế Pháp ngữ, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2005, tr. 94.

(2) Robert W. Emerson, John W. Hardwick, Business Law, Barron’s educational series Inc., USA, 1997, p. 75.

(3) Bộ Tư pháp, Những vấn đề cơ bản của BLDS năm 2005 (Tài liệu tập huấn), Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2005, tr. 62;

(4) Đinh Trung Tụng (Chủ biên), Bình luận những nội dung mới của BLDS năm 2005, Nxb. Tư pháp, Hà Nội 2005, tr. 178.

(5) Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật dân sự Việt Nam – Tập 2, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2007, tr. 110

(6) Robert W. Emerson, John W. Hardwick, Business Law, Barron’s educational series Inc., USA, 1997, p. 70

(7) J. E. Smyth, D. A. Soberman, J. H. Telfer, R. Johanson, Australian business law, Prentice- Hall of Australia Pty. Ltd., Australia, 1980, p. 65

(8) Robert W. Emerson, John W. Hardwick, Business Law, Barron’s educational series Inc., USA, 1997, p. 75

(9) Uniform Commercial Code, 1995 official text with comments, Fourteenth edition, West Publishing Co., p. 67- 68

(10) J. E. Smyth, D. A. Soberman, J. H. Telfer, R. Johanson, Australian business law, Prentice- Hall of Australia Pty. Ltd., Australia, 1980, p. 65

(11) John E. C. Brierley, Roderick A. Macdonald, Quebec Civil Law- An Introduction to Quebec Private Law, Emond Montgomery Publications Limited, Toronto, Canada, 1993, p. 402

(12) Vũ Văn Mẫu, Việt Nam dân luật lược khảo- Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước, In lần thứ nhất, Bộ Quốc gia giáo dục xuất bản, Sài Gòn, 1963, tr. 99- 100; Corinne Renault- Brahinsky, Đại cương về pháp luật hợp đồng, Nxb. Văn hoá- Thông tin, Hà Nội, 2002, tr. 36- 38; John E. C. Brierley, Roderick A. Macdonald, Quebec Civil Law- An Introduction to Quebec Private Law, Emond Montgomery Publications Limited, Toronto, Canada, 1993, p. 402

(13) Corinne Renault- Brahinsky, Đại cương về pháp luật hợp đồng, Nxb. Văn hoá – Thông tin, Hà Nội, 2002, tr. 37

(14) Lawrence S. Clark, Robert J. Aalberts, Peter D. Kinder, Law and Business- The Regulatory Environment, Fouth edition, McGraw – Hill, Inc, 1994, p 165.

(15) J. E. Smyth, D. A. Soberman, J. H. Telfer, R. Johanson, Australian business law, Prentice- Hall of Australia Pty. Ltd., Australia, 1980, p. 65.

(16) Vũ Văn Mẫu, Việt Nam dân luật lược khảo- Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước, In lần thứ nhất, Bộ Quốc gia giáo dục xuất bản, Sài Gòn, 1963, tr. 101; Corinne Renault- Brahinsky, Đại cương về pháp luật hợp đồng, Nxb Văn hoá – Thông tin, Hà Nội, 2002, tr. 38.

(17) Unidroit Principles of International Commercial Contracts with Official Commentary [1994], [http://www.jus.uio.no/lm/unidroit.international.commercial.contracts.principles.1…/2.2.htm], 18/03/01; Unidroit, Bộ nguyên tắc của Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế 2004, bản dịch tiếng Việt với sự tài trợ của Tổ chức quốc tế Pháp ngữ, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2005, tr. 93- 94.

(18) James Barnes, Terry Morehead Dworkin, Eric L. Richards, Law for Business, Fourth edition, Irwin, USA, 1991, p. 129.

(19) Paul Latimer, Australian Business Law, CCH Australia Limited, 1987, tr. 217.

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ

Trích dẫn từ: http://www.nclp.org.vn/ban_ve_du_an_luat/kinh-te-dan-su/hieu-luc-cua-chap-nhan-giao-ket-hop-111ong-theo-bo-luat-dan-su-2005-nhin-tu-goc-111o-luat-so-sanh

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: