Ý NGHĨA CỦA VỐN VÀ LÝ DO THÁO BỎ QUY ĐỊNH VỀ VỐN PHÁP ĐỊNH

THS. TRƯƠNG TRỌNG HIỂU – Khoa Luật, ĐH Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

Sau một thời gian ứng dụng Luật Doanh nghiệp (từ Luật Doanh nghiệp năm 1999 cho đến Luật Doanh nghiệp năm 2005 hiện hành), có nhiều ý kiến cho rằng cần xem xét lại một số nội dung quy định trong các văn bản này1. Trong đó, dựa trên cơ sở các chức năng của vốn, nhất là chức năng bảo đảm quyền lợi cho chủ nợ2, có ý kiến cho rằng, nên lặp lại quy định về điều kiện mức vốn tối thiểu khi thành lập doanh nghiệp đối với tất cả các trường hợp đầu tư kinh doanh. Cách thức tiếp cận này là hợp lý, cần được tham khảo. Tuy nhiên, theo chúng tôi, vấn đề cần được nhìn nhận từ vai trò, ý nghĩa của vốn ở từng vị trí của tất cả các bên có liên quan. Trước hết là vai trò của vốn đối với chính doanh nghiệp; thứ hai là ý nghĩa của vốn đối với các đối tác của doanh nghiệp – chủ nợ. Ngoài ra, cũng được nhìn nhận từ phía Nhà nước – với tư cách là chủ nợ lớn nhất và với chức năng điều hòa mối quan hệ giữa hai bên nói trên.

1. Đối với doanh nghiệp sở hữu vốn

Ở vị trí của doanh nghiệp, để định vị nội dung quy định của pháp luật về vốn điều lệ, ý nghĩa của vốn cần được nhìn nhận thông qua một số nội dung sau:

Thứ nhất, cần có cơ chế để doanh nghiệp tự xác định quy mô vốn theo nhu cầu và quy mô kinh doanh.

Trước hết, cần phân định rõ các khái niệm: vốn điều lệ – vốn gốc – vốn chủ sở hữu, vốn pháp định – vốn tối thiểu, vốn kinh doanh và tài sản của doanh nghiệp. Trong đó, khái niệm vốn kinh doanh và tài sản của doanh nghiệp cần được xác định lại vì tuy có sự khác biệt về mặt ngữ nghĩa nhưng lại có sự đồng nhất.

Nhà đầu tư thành lập doanh nghiệp là để tiến hành hoạt động sản xuất – kinh doanh. Muốn vậy, nhà đầu tư cần phải có vốn và vốn kinh doanh của doanh nghiệp sẽ là toàn bộ tài sản của doanh nghiệp, kể cả tài sản cố định hay tài sản lưu động. Trong những giai đoạn hoạt động tiếp sau của doanh nghiệp, khi giá trị tài sản của doanh nghiệp có tăng lên, thì vốn điều lệ của chủ sở hữu vẫn giữ ở mức cũ. Vì vậy, nhà đầu tư cần phải xác định rõ nhu cầu sử dụng vốn của mình khi bắt đầu tiến hành hoạt động kinh doanh để từ đó thiết lập quy mô vốn cũng như quy mô doanh nghiệp thích hợp. Nếu không làm được như vậy, có thể doanh nghiệp sau khi ra đời sẽ không có đủ vốn để hoạt động hoặc ngược lại, doanh nghiệp không sử dụng hết tài sản của mình cho hoạt động sản xuất thì sẽ lãng phí và chi phí làm ra sản phẩm sẽ rất cao do các khoản hạch toán chi phí, khấu hao tài sản không trực tiếp tham gia vào quy trình sản xuất.

Do đó, việc đặt ra yêu cầu về mức tối thiểu khi thành lập doanh nghiệp là không đi theo quy luật hiển nhiên của cuộc sống. Bởi vì, (i) Nhà nước đã ấn định quy mô vốn và quy mô doanh nghiệp cho nhà đầu tư trong khi chính họ mới biết được nhu cầu về vốn của mình là tới đâu. Không những thế, (ii) quan điểm pháp lý của chúng ta khi xây dựng Luật Doanh nghiệp là nhằm mở rộng quyền tự do kinh doanh của các chủ thể, trong đó có quyền tự do lựa chọn mô hình và xác định quy mô kinh doanh3. Việc ấn định mức vốn pháp định vô hình trung đã khống chế quyền tự do này của doanh nghiệp. Ngoài ra, với quy định về mức vốn pháp định trước đây, chúng ta còn thấy, mức vốn pháp định đặt ra với doanh nghiệp tư nhân thường thấp hơn các loại hình doanh nghiệp khác. Thực tế, đâu có phải cứ là doanh nghiệp tư nhân thì phải quy mô nhỏ, cứ là công ty thì quy mô và nhu cầu vốn lớn. Và như đã nói, (iii) việc pháp luật đưa ra mức vốn điều lệ bắt buộc, nhưng sau đó có thể doanh nghiệp sẽ không sử dụng hết nguồn vốn này, dẫn đến sự lãng phí, mà hậu quả chính doanh nghiệp phải gánh trong khi lỗi không thuộc về họ.

Thứ hai, bản thân doanh nghiệp có thể huy động vốn để thực hiện mục tiêu kinh doanh.

Như đã nói, vốn kinh doanh của doanh nghiệp là toàn bộ tài sản của doanh nghiệp, vì vậy, khối tài sản được sử dụng trong kinh doanh có thể là vốn của chủ sở hữu và cũng có thể là vốn vay. Để tìm kiếm lợi nhuận, doanh nghiệp sẽ tìm mọi cách để huy động vốn và sử dụng vốn hiệu quả, ví dụ: khi triển khai dự án mới, mở rộng quy mô kinh doanh, doanh nghiệp có thể huy động vốn bằng những phương thức hợp pháp. Chính vì vậy, không cần thiết phải bắt doanh nghiệp có một lượng vốn lớn khi thành lập.

Bằng các công cụ phân tích của mình, lý thuyết tài chính hiện đại khẳng định rằng, các trường hợp hiệu quả kinh doanh và giá trị của doanh nghiệp tăng cao sẽ không thuộc về các doanh nghiệp chỉ biết sử dụng nguồn vốn tự có. Tùy theo tỷ lệ vốn vay được sử dụng để tạo ra hiệu quả kinh doanh mà giá trị của doanh nghiệp sẽ tăng lên nhiều hay ít. Đương nhiên, lý thuyết này cũng chỉ ra mức tỷ lệ vốn vay nhất định trong cấu trúc vốn của doanh nghiệp để đảm bảo được hiệu quả trong sử dụng vốn từ việc giảm thiểu chi phí sử dụng vốn và hạn chế những rủi ro mặc định khi sử dụng vốn vay. Điều đó một phần tùy thuộc vào tiềm lực nội tại của chính doanh nghiệp, phần lớn còn lại phụ thuộc ở chiến lược phát triển kinh doanh, mức độ thành công của phương án sản xuất kinh doanh và sự mạo hiểm khi đối diện với rủi ro trước một tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng. Vì vậy, từ cấu trúc vốn tối ưu, kết quả phân tích sẽ giúp doanh nghiệp xác định được cấu trúc vốn mục tiêu cho riêng mình cho tỷ lệ vốn chủ sở hữu và vốn vay. Trên thực tế, vẫn có doanh nghiệp nâng mức vốn vay lên trên 50% mà vẫn đạt được hiệu quả sử dụng vốn như mong đợi. Nhưng từ cấu trúc vốn tối ưu được xác định ứng với những điều kiện riêng của doanh nghiệp, cấu trúc vốn mục tiêu thường được các doanh nghiệp duy trì mức tỷ lệ vốn vay trong độ an toàn mà đa phần doanh nghiệp ứng dụng thấp hơn tỷ lệ vốn sở hữu, có thể là 60% vốn chủ sở hữu và 40% vốn vay4. Điều đáng chú ý khác là không phải trong trường hợp nào mức chi phí sử dụng vốn vay thấp cũng mang lại hiệu quả nếu doanh nghiệp vẫn để vốn tự có nhàn rỗi hay chưa tối đa hóa được hiệu dụng của đồng vốn đó.

Không riêng gì với các nhà tài chính, việc cắt giảm chi phí sử dụng vốn mà nâng cao giá trị cho từng đồng vốn được sử dụng cũng được các nhà kinh tế học lưu ý. Những phân tích của họ về tính kinh tế theo phạm vi trong xác định quy mô và phương án sản xuất giúp chúng ta biết điều này.

Nhìn chung, việc sử dụng nợ trong kinh doanh có thể làm gia tăng rủi ro tài chính cho doanh nghiệp do cộng thêm áp lực rủi ro lên đồng vốn của chủ sở hữu, hay có thể làm mất đi cơ hội khả năng vay nợ sau đó khi có nhu cầu thật sự về vốn, nhưng bù lại, doanh nghiệp có thể giảm nhẹ gánh nặng rủi ro kinh doanh lên tài sản của doanh nghiệp. Không những thế, việc sử dụng vốn vay sẽ tạo đòn bẩy hoạt động cao do chi phí vốn cố định sẽ được sử dụng nhiều hơn; đồng thời sẽ tạo áp lực cho nhà quản lý điều hành hoạt động doanh nghiệp sao cho việc sử dụng vốn thật hiệu quả, ít nhất là để có đủ khả năng thanh toán nợ.

Các kết quả phân tích này cho thấy, việc yêu cầu nhà đầu tư chuẩn bị một mức vốn nhất định khi mới thành lập doanh nghiệp có thể sẽ tước bỏ đi cơ hội sử dụng vốn vay và tái cấu trúc vốn để tối đa hóa lợi nhuận trên từng đồng vốn kinh doanh.

Thứ ba, xuất phát từ tính nhân văn của pháp luật.

Lấy lý do nhằm ngăn cản sự xuất hiện của các công ty ma và các chủ thể tìm cách thành lập doanh nghiệp để thực hiện những hành vi xảo trá, có đề nghị phải đòi hỏi về số vốn cần thiết nếu muốn tiến hành hoạt động kinh doanh, thay vì phải đặt ra trọng trách của các thiết chế kiểm soát xã hội và kiềm tỏa hành vi lệch lạc. Làm như vậy sẽ thật sự không công bằng với những người ham thích kinh doanh và có thể kinh doanh tốt từ hai bàn tay trắng nhưng sở hữu khối óc thông minh và đầy mẫn cán.

Trước đây, mặc dù pháp luật đã đặt ra mức vốn tối thiểu phải có để được thành lập doanh nghiệp, nhưng các doanh nghiệp ma vẫn mọc như nấm và tung hoành ngang dọc, chứ không cần đợi đến lúc các quy định này được tháo bỏ. Rõ ràng là, nếu ai đó có ý định lường gạt thì dù pháp luật có quy định mức vốn pháp định cũng khó lòng triệt tiêu những mưu toan của họ. Bù lại, họ sẽ tìm mọi cách để thỏa mãn các ràng buộc như là một khoản đầu tư chi phí để tìm kiếm những khoản lợi lộc phi pháp sau đó. Vì vậy, quy định của pháp luật – trong trường hợp này – chỉ mang tính hình thức và có thể tạo ra những chi phí không đáng có cho phần còn lại của xã hội.

Thời gian qua chúng ta đã thấy, có nhiều doanh nghiệp nhà nước với số vốn điều lệ lớn hơn nhiều mức vốn pháp định nhưng làm ăn không hiệu quả, phải trông chờ vào sự “che chở” của Nhà nước, trong khi đó, dù không nhiều, nhưng sự đóng góp của các thương nhân “tay không gây dựng cơ đồ” cho nền kinh tế và xã hội là không nhỏ. Đặc biệt, với một đất nước đang nghèo như chúng ta thì sự vươn lên từ nghịch cảnh càng đáng được ghi nhận, trân trọng và biểu dương.

Do đó, pháp luật doanh nghiệp cần bảo đảm tính nhân văn bằng cách không được tước bỏ đi những cơ hội quý giá và lợi ích hoàn toàn chính đáng cho một đội ngũ thương nhân mới, chỉ vì với mt lý do giản đơn là để đề phòng cho những rủi ro dự cảm. Bằng không, việc làm của chúng ta chỉ mang lại cơ hội cho những người giàu có, và như nhiều người đã nói, Luật Doanh nghiệp lúc ấy chỉ là đạo luật dành cho những người giàu có kinh doanh.

Ba nội dung trên đây đã được phân tích xuất phát từ quyền tự do kinh doanh và việc tôn trọng quyền tự do kinh doanh của các chủ thể – một đòi hỏi cần thiết trong tiến trình thúc đẩy tự do hóa thị trường và phát triển kinh tế thị trường. Tuy nhiên, xuất phát từ nguyên lý biện chứng của sự tự do là tự do trong giới hạn, có ý kiến cho rằng việc ghi nhận quyền tự do kinh doanh của các chủ thể cần tính đến khía cạnh đảm bảo độ an toàn nhất định cho các đối tác – thường là chủ nợ – cũng như toàn nền kinh tế. Liệu việc loại bỏ quy định về mức vốn pháp định để trao quyền tự do cho các nhà đầu tư vốn có bảo đảm được điều này?

2. Đối với doanh nghiệp đối tác – chủ nợ

Thứ nhất, cần xác định thời điểm hình thành chức năng bảo đảm nợ của vốn.

Bình thường, không có nhà đầu tư nào khi chưa tiến hành kinh doanh mà đã nghĩ đến chuyện phải lo chuẩn bị tài sản để trả nợ. Vì một là, nếu có nợ thì nợ đó chỉ có thể phát sinh sau khi doanh nghiệp đã đi vào hoạt động, hay nói cách khác là sau khi số tài sản – vốn đó của doanh nghiệp đã được sử dụng cho các hoạt động của doanh nghiệp. Cho nên, chức năng nguyên thủy của vốn ngay từ khi thành lập doanh nghiệp phải là chức năng phục vụ cho hoạt động kinh doanh. Hai là, có thể sau quá trình hoạt động, doanh nghiệp chưa tạo ra nợ hoặc có thể tạo ra nợ nhưng chưa đến mức phải sử dụng nguồn vốn của chủ sở hữu để thanh toán nợ. Chính vì vậy, việc xác định chức năng bảo đảm nợ của vốn khi doanh nghiệp vừa thành lập là không khoa học, tạo áp lực bất hợp lý cho nhà đầu tư. Và càng không thuyết phục khi cho rằng, chức năng bảo đảm nợ là chức năng quan trọng nhất của vốn kinh doanh.

Thứ hai, cần xác định khối lượng tài sản bảo đảm nợ của doanh nghiệp.

Nếu như doanh nghiệp sử dụng toàn bộ tài sản của mình cho hoạt động kinh doanh, thì toàn bộ khối tài sản đó sẽ được dùng để bảo đảm nợ đối với khách hàng, chứ không riêng gì vốn của chủ sở hữu (tài sản của doanh nghiệp bao gồm cả tài sản tự có, tài sản tạo lập thêm và cả tiền vay). Vì vậy, có thể khi cần thanh toán nợ, doanh nghiệp chưa cần thiết phải sử dụng đến vốn gốc – vốn điều lệ – của mình. Vì vậy, đòi hỏi về một mức vốn điều lệ đủ lớn để bảo đảm nợ là không thật sự thuyết phục và xa rời thực tiễn hoạt động kinh doanh.

Thứ ba, chính các chủ nợ phải là người gánh chịu rủi ro đối với hoạt động kinh doanh của mình.

Một đối tác của doanh nghiệp trở thành chủ nợ khi họ trực tiếp cho doanh nghiệp vay nợ hay cho doanh nghiệp nợ tiền hàng hoặc những khả năng tương tự như thế. Dù là trường hợp nào thì đó cũng là hoạt động đầu tư, kinh doanh để tìm kiếm lợi nhuận của chủ nợ, còn nếu không thì lợi ích cũng được “đắp đổi” qua lại. Như vậy, chủ nợ phải chịu những rủi ro trong kinh doanh như một nguyên lý bình thường của hoạt động kinh doanh. Mục đích điều chỉnh của pháp luật không thể đè gánh nặng lên vai của một phía. Cho nên, để đảm bảo độ an toàn cho hoạt động kinh doanh của mình, chủ nợ cần phải đánh giá kỹ lưỡng năng lực của doanh nghiệp mà mình cấp vốn. Doanh nghiệp chỉ có nghĩa vụ cung cấp thông tin xác thực, không cung cấp khống thông tin so với năng lực thật sự của mình. Nếu đánh giá không chính xác thì chủ nợ phải tự chịu hậu quả. Cho nên, Luật Doanh nghiệp mới quy định các doanh nghiệp có thể phát hành trái phiếu cho các chủ nợ là tổ chức tài chính mà không chịu sự hạn chế như khi phát hành trái phiếu cho các đối tượng khác5. Tương tự, hoạt động bảo lãnh ngân hàng, bao thanh toán,… cũng có điều kiện xuất hiện, nhằm đáp ứng yêu cầu bảo toàn cho chủ nợ.

Thứ tư, khẳng định phạm vi trách nhiệm trong phạm vi hưởng lợi của doanh nghiệp.

Chúng ta đã bàn nhiều về ý nghĩa của quy định về tính chịu trách nhiệm hữu hạn của người góp vốn vào công ty. Có một điều cần lưu ý thêm là khi doanh nghiệp được thành lập, với số vốn điều lệ bao nhiêu, khi hoạt động và gây nợ, doanh nghiệp đó sẽ chịu trách nhiệm bằng toàn bộ số tài sản đó. Bởi lẽ, trước khi buộc phải thanh toán nợ, các thành viên của công ty cũng chỉ tiến hành hoạt động kinh doanh trong phạm vi phần vốn đó và cũng chỉ được hưởng lợi từ những phần lợi nhuận được tạo ra từ phần vốn đó mà thôi.

Cho nên, vốn nhiều họ có thể được lợi nhiều, vốn ít họ có thể hưởng lợi ít, không có lý do buộc doanh nghiệp phải đảm bảo mức vốn nhất định để lo chịu trách nhiệm tài sản trong tương lai trong khi bản thân không có nhu cầu hưởng lợi từ nguồn vốn lớn. Thực tế, nếu doanh nghiệp có tạo ra được lợi nhuận ở mức cao từ nguồn vốn thấp thì cũng nhờ tài năng của họ, và đương nhiên chủ nợ không vì thế mà đòi hỏi. Trong khi, như nói ở trên, việc giới hạn trách nhiệm như vậy sẽ góp phần làm tăng thêm tính cẩn trọng cho chủ nợ, người bảo lãnh6,… để từ đó góp phần gìn giữ sự an toàn cho thị trường, ngăn cản những mối nguy cơ dẫn đến khủng hoảng tài chính – kinh tế như sự dễ dãi của các ngân hàng Mỹ vừa qua.

Thứ năm, đòi hỏi khả năng bảo đảm nợ có thể đánh mất bản chất của vốn pháp định.

Xuất phát từ sự ghi nhận quyền tự do kinh doanh, Luật Doanh nghiệp cho phép nhà đầu tư và doanh nghiệp được tiến hành hoạt động kinh doanh ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Quy định này tạo thuận lợi để doanh nghiệp thực hiện chiến lược đa dạng hóa sản phẩm cũng như tăng cường hiệu quả kinh doanh trên cơ sở tính kinh tế theo phạm vi. Đây là những chiến lược nhằm tối đa hóa hiệu quả sử dụng đồng vốn của doanh nghiệp. Nếu pháp luật đặt ra mức vốn pháp định, trong trường hợp doanh nghiệp đăng ký kinh doanh ở nhiều lĩnh vực khác nhau thì mức vốn tối thiểu này được xác định như thế nào? Nếu mỗi lĩnh vực hoạt động cần đảm bảo một số vốn riêng thì tổng vốn của doanh nghiệp sẽ rất đồ sộ, đồng thời mục tiêu tối đa hóa hiệu quả sử dụng đồng vốn như trên không xảy ra. Nhưng nếu xác định mức vốn cao nhất làm vốn pháp định để sử dụng chung cho hoạt động kinh doanh ở tất cả các lĩnh vực thì có thể, những mong mỏi về khả năng bảo đảm nợ của vốn điều lệ như lúc đầu sẽ không được đáp ứng.

3. Đối với Nhà nước

Từ vị trí của Nhà nước, rõ ràng nghĩa vụ bảo hộ cho các chủ thể kinh doanh hợp pháp cần phải được nêu ra. Trong mối quan hệ giữa hai bên doanh nghiệp và chủ nợ, khi chưa biết ai tốt ai xấu, Nhà nước phải bảo toàn quyền lợi cho cả hai. Trong khi đó, việc quy định mức vốn pháp định với mục đích bảo đảm nợ chỉ cho thấy sự quan tâm của Nhà nước đối với các chủ nợ, ngược lại tạo ra gánh nặng về tài chính cho phía còn lại. Ở góc nhìn đối lập, việc để doanh nghiệp tự xác định số vốn điều lệ không làm mất đi quyền tự định đoạt, lựa chọn khách hàng và cơ hội kinh doanh của chủ nợ.

Để Nhà nước hoàn thành trách nhiệm bảo hộ công bằng cho cả hai phía, chính các doanh nghiệp và chủ nợ đã “trả tiền công” cho Nhà nước – đó là tiền thuế. Cả doanh nghiệp và chủ nợ trong quá trình hoạt động đều phải thực hiện đầy đủ những nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước.

Như đã trình bày, nếu doanh nghiệp biết sử dụng hiệu quả nguồn vốn vay thì sẽ mang lại nhiều giá trị cho doanh nghiệp. Được như vậy là do doanh nghiệp đã có được “lá chắn thuế”. Thay vì phải nộp thuế thu nhập cho Nhà nước với một tỷ suất thuế cao khi sử dụng nguồn vốn sẵn có thì doanh nghiệp chỉ phải trả tiền lãi vay với mức tỷ suất thấp hơn7. Không phải trong trường hợp này Nhà nước không thu được thuế, bởi doanh nghiệp đã trả tiền lãi như một khoản chi phí “thuê tài sản” thì chính chủ nợ phải là người nộp thuế cho Nhà nước trên cơ sở doanh thu có được từ hoạt động kinh doanh của mình – hoạt động cấp vốn. Nghĩa vụ nộp thuế của các ngân hàng thương mại là điển hình cho tình huống này. Nguồn thu ngân sách vẫn được bảo toàn, trong khi nền kinh tế và xã hội xuất hiện thêm nhiều giá trị tăng thêm do doanh nghiệp sử dụng hiệu quả vốn vay tạo ra. Như vậy, nếu buộc doanh nghiệp đóng thêm thuế thì sẽ dẫn đến tình trạng Nhà nước thu hai lần thuế cho một đối tượng chịu thuế. Chính vì lẽ đó, “lá chắn thuế” như là một công cụ luôn được các doanh nghiệp khai thác và pháp luật của các nước đều không thể loại trừ.

4. Kiến nghị

Từ những khía cạnh phân tích về bản chất và ý nghĩa của vốn, chúng tôi cho rằng, việc bắt buộc phải có vốn điều lệ để bảo đảm cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là cần thiết, nhưng duy trì quy định về mức vốn tối thiểu là việc làm không mang lại nhiều ích lợi. Tốt hơn hết là để cho những quy luật và đòi hỏi của thị trường về nhu cầu vốn và quyền tự quyết của nhà đầu tư quyết định. Việc còn lại của Nhà nước là phải xây dựng khung pháp lý và tổ chức thực thi hiệu quả để những quy định cởi mở nêu trên không bị lợi dụng, tác động xấu đến hoạt động kinh doanh chung của thị trường.

Việc Luật Doanh nghiệp năm 2005 tiếp tục duy trì quy định về mức vốn pháp định đối với một số lĩnh vực kinh doanh minh chứng cho nỗ lực này. Có hai lý do để nói như vậy (và cũng là hai tiêu chí để hoàn thiện nhóm quy định này): Một là, đó là những lĩnh vực đòi hỏi một mức độ quy mô vốn cần thiết để bảo đảm hiệu quả kinh doanh. Hai là, đó là những lĩnh vực nhạy cảm, dễ tác động lây lan và có xác suất rủi ro cao.

Ngoài ra, pháp luật doanh nghiệp và các lĩnh vực có liên quan cần được pháp điển hóa theo hướng sau:

Thứ nhất, tăng cường thiết chế tổ chức thực thi tốt công tác hậu kiểm sau đăng ký kinh doanh. Phương án này có được là nhờ kinh nghiệm có được từ quá trình hoàn thiện cung cách quản lý của nhiều nước trên thế giới. Ở đâu, người ta cũng tìm mọi cách linh hoạt giữa tiền kiểm và hậu kiểm, song rất nhấn mạnh hậu kiểm8. Điều này luôn có ý nghĩa đối với việc kiểm soát vốn điều lệ của doanh nghiệp, kể cả khi có đòi hỏi về mức vốn pháp định hay không. Nhưng sẽ là quan trọng hơn nhiều, nếu chúng ta đã tháo bỏ điều kiện vốn pháp định. Dĩ nhiên, trách nhiệm này Nhà nước phải thực hiện tốt vì các chủ thể kinh doanh đều đã trả tiền công thông qua nghĩa vụ thuế. Công việc này thuộc về các cơ quan đăng ký kinh doanh trong sự phối hợp với cơ quan thuế.

Thứ hai, hoàn chỉnh các quy định pháp luật về chế độ lập và công khai các báo cáo tài chính và trách nhiệm của doanh nghiệp và cá nhân những người có liên quan không thực hiện đúng các quy định này. Bởi lẽ, báo cáo tài chính là tài liệu số hóa và phản ánh rõ nét nhất phạm vi tổng tài sản, phần vốn điều lệ của doanh nghiệp. Kể cả tình trạng nợ, các khoản phải trả, phần vốn chưa đóng góp của các thành viên khi thành lập doanh nghiệp,… đều được phản ánh rõ trong các tài liệu của báo cáo tài chính. Từ đó, chủ nợ sẽ có đầy đủ thông tin về doanh nghiệp để quyết định thiết lập quan hệ (và tự chịu trách nhiệm về quyết định của mình). Đồng thời, hoạt động thu thuế của Nhà nước cũng được đảm bảo.

Thứ ba, quy định chặt chẽ quy chế tự khai vốn điều lệ. Trách nhiệm của cá nhân cần được đặt ra trong trường hợp này. Mặc dù hiện nay, pháp luật có quy định về trách nhiệm cá nhân của các thành viên trong trường hợp chậm góp vốn, góp không đủ vốn, khai khống vốn,…9nhưng những quy định này vẫn không đủ sức răn đe và chưa tạo ra cơ chế chặt chẽ cho cơ chế tự khai vốn.

Thực tế, Nghị định 102/2010/NĐ-CP vừa được Chính phủ ban hành ngày 01/10/201010 có nhiều nội dung tập trung giải quyết vấn đề này, đặc biệt là sự đòi hỏi các doanh nghiệp phải bảo đảm đủ số vốn điều lệ trên thực tế. Từ đó, Nghị định khẳng định lại thời hạn cụ thể các thành viên góp vốn tiến hành góp đủ số vốn đã cam kết11. Tuy nhiên, một số hướng dẫn bổ sung còn chưa cho thấy sự chắc chắn của giải pháp. Cụ thể, Điều 18 Nghị định này đưa ra nguyên tắc: Trong thời hạn mà các thành viên chưa chưa góp đủ số vốn như cam kết, thành viên đó chỉ có số phiếu biểu quyết và được chia lợi tức tương ứng với tỷ lệ số vốn thực góp. Với những gì đang đòi hỏi, quy định này đủ để chúng ta an tâm. Nhưng liệu liệu pháp tước bỏ lợi ích để ràng buộc trách nhiệm có phát huy hiệu quả, và đón nhận sự đồng thuận? Trong khi, chính quy định tại Điều 39 Luật Doanh nghiệp lại buộc “thành viên không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết thì số vốn chưa góp được coi là nợ của thành viên đó đối với công ty và thành viên đó phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh do không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết”. Vì thế, việc tìm kiếm giải pháp cho vấn đề này cần được tiếp tục.

Thứ tư, cần có những giải pháp thúc đẩy quá trình phát triển thị trường vốn, tạo điều kiện cho nhà đầu tư có cơ hội tiếp cận vốn. Đồng thời, có quy phạm bắt buộc các tổ chức tài chính bảo đảm độ an toàn khi cấp vốn trong những điều kiện ràng buộc chặt chẽ, song hành với quá trình hoàn thiện các quy định về các hoạt động dịch vụ bảo lãnh nợ.

Thứ năm, xây dựng chế tài pháp luật đủ mạnh để răn đe và ngăn ngừa hiện tượng vi phạm các quy định nêu trên. Điều quan trọng là từ kết quả của quá trình hậu kiểm chặt chẽ, chúng ta phải triệt tiêu được số lượng các doanh nghiệp ma đang tồn tại. Luật Doanh nghiệp tuy đã có quy định về thu hồi giấy phép kinh doanh trong trường hợp doanh nghiệp không hoạt động sau đăng ký, nhưng trên thực tế, điều này vẫn chưa được thực hiện tốt.

Chú thích:

(1) Xem: ThS. Trần Huỳnh Thanh Nghị, Quy định về vốn pháp định trong thành lập và hoạt động của doanh nghiệp, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 01/2005; TS. Dương Anh Sơn, Có cần thiết phải có cơ chế giám sát vốn điều lệ hay không? Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 10/2006; TS. Phạm Duy Nghĩa, Giáo trình Luật kinh tế, NXB. Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2006

(2) TS. Dương Anh Sơn, Có cần thiết phải có cơ chế giám sát vốn điều lệ hay không? Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 10/2006.

(3) Khoản 1, Điều 8 Luật Doanh nghiệp năm 2005.

(4) Xem: Eugene F. Brigham, Joel F. Houston, Quản trị tài chính (Bản dịch của tập thể tác giả Khoa Kinh tế – Luật, ĐHQG TP.HCM), NXB Văn hóa Sài Gòn, năm 2009, tr. 714 – 773.

(5) Khoản 2 Điều 88 Luật Doanh nghiệp năm 2005.

(6) TS. Phạm Duy Nghĩa, Chuyên khảo Luật kinh tế, Nxb. ĐHQG Hà Nội, năm 2004, tr. 260.

(7) Cũng có trường hợp lãi suất sẽ rất cao như hiện nay, lúc đó doanh nghiệp nếu muốn có lợi thì sẽ chọn phương án tăng vốn điều lệ. Cho nên, cơ chế tự điều chỉnh hành vi sẽ hướng dẫn doanh nghiệp có hành động hợp lý.

(8) TS. Phạm Duy Nghĩa, Giáo trình Luật kinh tế, Nxb. ĐHQG Hà Nội, năm 2006, tr. 24.

(9) Xem thêm khoản 2, khoản 3 Điều 30; khoản 1 Điều 60 Luật Doanh nghiệp năm 2005.

(10) Có hiệu lực kể từ ngày 15/11/2010.

(11) Điều 6 Nghị định 102/2010/NĐ-CP ngày 01/10/2010 của Chính phủ.

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ

Trích dẫn từ: http://www.nclp.org.vn/thuc_tien_phap_luat/y-nghia-cua-von-va-ly-do-thao-bo-quy-111inh-ve-von-phap-111inh

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: