TÌNH CẢM ĐẤT

THU SAN & NGUYỄN THẾ HÙNG

1. Trí nhớ và tình cảm cộng đồng

Đời người trăm năm là dài. Nhưng những năm cuối đời thường ít người còn khỏe mạnh cả về sức lực thể chất lẫn tinh thần. Vì vậy, khi về già sự minh mẫn cũng giảm. Người già thường hay quên. Có một số cụ bị lẫn, thậm chí không nhớ được tên người thân nữa. Cho nên, có thể nói trí nhớ cá nhân rất hạn hẹp, chỉ mạnh mẽ trong khoảng trăm năm là cùng. Trong khi đó, trí nhớ của gia tộc thì dài hơn. Có lẽ được 5-6 thế hệ. Thật vậy, ít người có thể biết và nhớ được hành trạng của cụ tổ 5 đời nhà mình, ngay cả những gia tộc lớn, có ghi chép gia phả đầy đủ cũng vậy.

Ngược lại, trí nhớ cộng đồng thì dài lâu và có thể xem như trường tồn. Thực vậy, bất kỳ người Việt nào cũng biết các vua Hùng có công dựng nước. Đó là sự kiện của bốn ngàn năm trước. Những sự kiện ngàn năm về Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lý Công Uẩn,… vẫn mãi mãi sống trong tâm trí mọi con dân Việt nam. Do vậy, có thể khẳng khái kết luận rằng trí nhớ của cộng đồng dân tộc là một trí nhớ vĩnh hằng. Một người có thể quên điều này điều nọ, nhưng cả dân tộc thì không thể quên. Tuy vậy, trí nhớ dân tộc cũng hay tập trung vào những sự kiện lớn, mà thường quên những sự kiện nhỏ. Nhớ chuyện lớn, quên chuyện nhỏ cũng là điều bình thường.

2. Tình cảm đối với đất

Gần đây, trong khi chuẩn bị Đại Hội Đảng 11, Đài truyền hình chiếu phim Bí thư tỉnh ủy. Đó là sự quay về của trí nhớ dân tộc đối với một cá nhân đặc biệt, Ông Kim Ngọc, người có công đầu trong sự nghiệp đổi mới. Ngoài dòng tư tưởng chủ đạo, bộ phim còn nói về tình cảm của con người đối với đất. Quả vậy, sau cuộc cách mạng năm 1945, nhân dân Việt nam (đặc biệt là nông dân) đã trải qua rất nhiều cung bậc tình cảm đới với đất.

Tình cảm hồ hởi: cải cách ruộng đất 1953

Tình cảm sợ hãi: các cuộc đấu tố sau cải cách ruộng đất

Tình cảm luyến tiếc: vận động đưa đất vào HTX những năm 1960

Tình cảm hờ hững: đất đã trở thành tài sản chung của HTX, nông dân chỉ còn 5%.

Nếu vẽ biểu đồ tình cảm của người dân đối với đất, thì giai đoạn cuối những năm 1960, đầu những năm 1970, là giai đoạn thấp điểm nhất về tình cảm của nhân dân đối với đất. Đất bị bỏ hoang, đất có thể cho, xin, vay mượn dễ dàng, đất có thể được chuyển nhượng chỉ bằng một quyết định hành chính đơn giản, đất không còn là một thứ hàng hóa có thể mua bán.

Vì đất là công cụ dùng để chế tạo ra hạt lúa, ra lượng thực, cho nên khi tình cảm đối với đất trở thành hờ hững thì cũng là lúc toàn xã hội thiếu đói. Sự thiếu đói xảy ra trên qui mô lớn, bất chấp những sự kiện lớn lao bao trùm toàn xã hội trong khoảng thời gian đó, như tập trung cho chiến trường miền Nam (1960-1975), giải phóng và thống nhất (1975-1980), các cuộc chiến tranh biên giới (1979-1988),… Ba sự kiện trên được gọi là ba tiếng vang lớn. Tiếng vang lớn của những sự kiện đó làm cho chúng ta không nghe thấy tiếng lòng của người dân đối với đất trong suốt một khoảng thời gian rất dài. Độ dài ấy bằng nửa vòng hoa giáp, tức là 30 năm, từ khoảng 1960 đến 1990.

Khi sự hờ hững lên đỉnh điểm, thì mâu thuẫn trong xã hội cũng lên đỉnh, cái đói đạt độ cực đại. Mâu thuẫn ấy chính là động lực làm phát sinh đổi mới năm 1986. Công cuộc đổi mới đã làm thay đổi tình cảm của nhân dân đối với đất. Sau khoán 10, nông dân yêu đất hơn, hạt gạo được làm ra nhiều hơn, xã hội hồng hào lên trông thấy. Nhưng cũng phải đến 5 năm sau, những đầu óc nhậy bén trong xã hội mới bắt đầu buôn bán đất.

Đến nay, sau 25 năm đổi mới, tình cảm đối với đất đã đổi chiều ngoạn mục. Từ chỗ hờ hững, đến chỗ yêu đất cuồng nhiệt. Người dân bám từng mét đất, từng ô vỉa hè đô thị,… Các dự án luôn gặp khó khăn trong giải phóng mặt bằng. Và thực sự, từ hàng chục năm nay, giải phóng mặt bằng là khó khăn lớn nhất, là hạng mục phải chi phí lớn nhất của rất nhiều dự án. Nhiều mưu kế, nhiều vụ án, nhiều thành công và thất bại cũng bắt đầu từ đất. Các vụ Minh Phụng, Đồ Sơn, Ba Sương,… là các vị dụ nóng hổi. Như các phương tiện thông tin đại chúng đã đưa, thì có đến hơn 80% các vụ tham nhũng là tham nhũng đất, hơn 90% các vụ khiếu kiện cũng là khiếu kiện về đất.

Xét về khoảng thời gian, thì sự đảo chiều của “tình cảm đất” cũng đã kéo dài được gần 30 năm, cũng gần được nửa vòng hóa giáp. Mâu thuẫn trong xã hội do tình cảm tha thiết với đất đã đến cực điểm. Do đó, những năm này (2010-2015) chính là thời điểm để đổi mới quan điểm, phương thức, pháp luật đối với đất.

3. Vấn đề là đổi mới thế nào?

Đây là một câu hỏi khó. Nhưng mức độ khó khăn chưa đến mức bó chặt cái khôn. Bây giờ, đất không chỉ là phương tiện chế tạo ra hạt gạo, củ sắn, con cá con tôm,… Đất là cơ sở của hầu hết các dự án. Các dự án thủy điện chiếm đất rất nhiều, dự án đường sắt cao tốc cũng sẽ chiếm đất rất lớn, dự án bauxite cũng vậy, các loại dự án khu đô thị còn chiếm đất nhiều hơn nữa,…Đất là phương tiện giúp cho các đại gia giầu lên nhanh chóng. Người ta có tình cảm tha thiết đối với đất chính vì đất cho phép người ta thu tiền nhanh chóng và nhiều. Nếu bây giờ trong xã hội có một nghề kinh doanh nào cho phép người ta thu được tiền nhiều bằng nghề chiếm giữ (buôn bán) đất thì người dân sẽ đổ dồn sang khu vực kinh doanh đó.

Tình cảm đất có quan hệ mật thiết với lạm phát. Quả vậy, ta hãy thiết lập một thang đo. Đặt tình cảm đất cao nhất bằng 10 điểm, tình cảm đất thấp nhất bằng 0. Đối với đa số người dân trong xã hội hiện nay, tình cảm đất đều trên điểm 5, nhiều người có tình cảm đất bằng 10. Nhưng vì, lượng đất có hạn, nên ngay cả khi tình cảm đất không đổi, nhưng giá đất vẫn tăng, vì không có đất nhiều hơn để buôn bán. Sự tăng giá đất dẫn đến sự tăng giá của nhiều mặt hàng thiết yếu trong xã hội. Đó là nguyên nhân sâu xa của lạm phát.

Cho nên, cần khai mở những nghề kinh doanh mới, sao cho những người có năng lực, vốn liếng và thời gian dồn sang kinh doanh khu vực đó. Khi đó, giá đất sẽ được bình ổn, lạm phát trong xã hội sẽ giảm. Tình cảm đất sẽ dần dần không còn thống thiết nữa, xã hội sẽ đi vào một giai đoạn phát triển mới. Hơn nữa, Đại Hội Đảng nhấn mạnh chống tham nhũng là một khâu quan trọng, mà tham nhũng tập trung đến 80% vào đất, thì rõ ràng cần phải thay đổi chính sách về đất một cách triệt để. Thay đổi bằng cách tạo ra các nghề nghiệp kinh doanh mới ít dính lứu đến đất.

Vậy nghề kinh doanh mới là gì?

Đó là tất cả những nghề kinh doanh không chiếm dụng một lượng đất gia tăng, hoặc tốc độ chiếm dụng đất chậm hơn tốc độ tăng trưởng của chính nghề nghiệp ấy. Hoặc đó là những nghề lên rừng xuống biển để khai thác những vùng đất nghèo, ít giá trị, biến chúng thành các vùng đất giá trị cao. Đây chính là cốt lót của sự nghiệp đổi mới trong giai đoạn sắp tới.

SOURCE: CHUNGTA.COM

Trích dẫn từ: http://chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Hanh-Dong/Tinh_cam_dat/

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: