MỘT VÀI SUY NGHĨ VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN ĐỔI HÌNH THỨC CÔNG TY VÔ HIỆU

HOÀNG ANH TUẤN – Nghiên cứu sinh, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Con  người  có  những  quyền tự  nhiên  luôn cần được pháp  luật ghi nhận và bảo vệ – Đó  là quyền  được sống,  quyền tự  do  và  quyền mưu cầu hạnh phúc. Đồng  thời, pháp  luật cũng  thừa nhận các phương tiện để bảo đảm những quyền đó.  Công  ti  là một  trong  những  phương  tiện quan  trọng  như vậy để  duy  trì  cuộc sống của bản thân thành viên hoặc các thành viên của nó, và tạo lập  ra một  môi  trường  cho  đời sống chung của mọi  người  mà  không  người  nào trong xã hội không cần đến. Vì vậy, xét từ đời sống  chung của cộng  đồng,  người  ta  thường nói,  công  ti  là  những lợi  khí  vô  song  phải sử dụng nếu  muốn nắm  được  thế  thượng  phong trong  trường  kinh tế  [1].  Công  ty – cái  phương tiện  duy  trì  đời sống  đó  -  có  thể  được tạo lập dưới  nhiều  hình  thức  như  công  ty hợp  danh, công ti hợp vốn đơn giản, công ti cổ phần, công ti  trách nhiệm hữu hạn… Và về nguyên tắc các chủ sở hữu công ti có quyền tự do thay đổi hình thức của nó. Như vậy quyền tự do  chuyển đổi hình thức công ti cũng phải được pháp luật thừa nhận và kiểm soát.

Thực tế trong những năm gần đây, có lẽ do nhận thức được các rủi ro pháp lý trong quan hệ giữa các  thành viên công  ty hoặc do nhận  thức được  ưu  điểm của  các  quy  định về  thành lập công ti liên doanh của Luật Đầu tư, các nhà đầu tư thường giao kết hợp đồng để chuyển đổi hình thức công ty. Hợp đồng về nguyên tắc chung có
những điều kiện có hiệu lực. Và khi một  trong các  điều  kiện  đó bị  vi  phạm, hợp  đồng  có  thể hoặc bị vô hiệu. Việc vô hiệu hóa các hợp đồng  và xử lý các vấn đề liên quan không phải là câu chuyện xa lạ đối với các luật gia Việt Nam hiện nay.  Tuy  nhiên vấn  đề hợp  đồng  chuyển  đổi hình  thức công  ty vô hiệu không phải  là không
có nhiều chuyện đáng bàn.

1. Nhận  diện về hợp  đồng  chuyển  đổi  hình thức công ty vô hiệu

Thực tiễn cho thấy, việc xác định hợp đồng chuyển đổi hình  thức  công  ty  là khá phức tạp, bởi lẽ việc chuyển đổi hình thức công ty thường được  thực  hiện  theo  nhiều  phương  thức  khác nhau. Do đó việc xem xét hiệu lực hay vô hiệu của hợp đồng chuyển đổi hình thức công ty phụ thuộc rất  nhiều  (nếu  không  phải  là tất cả)  vào việc  xác  định  hay  phân  loại  phương  thức chuyển  đổi  này.  Có  hai  loại  phương  thức chuyển đổi hình  thức  công  ty hay hai  loại hợp đồng chuyển đổi hình  thức công  ty căn bản  là: (1) Hợp đồng chuyển đổi hình  thức công  ty có sự  chuyển  nhượng  quyền lợi  hoặc tăng  người đầu tư;  và  (2) hợp  đồng  chuyển  đổi  hình  thức công  ty không có sự chuyển nhượng quyền lợi hoặc tăng người đầu tư.

Loại  thứ  nhất  bao gồm:  Chuyển  đổi  hình thức  công  ti từ  công  ty TNHH một  thành  viên thành  công  ty  TNHH  hai  thành  viên  trở  lên; chuyển đổi công ty cổ phần hay công ty TNHH hai thành viên trở lên thành công ty TNHH một thành viên; chuyển đổi công ty TNHH ít hơn ba thành  viên  thành  công  ty cổ  phần;  và  chuyển đổi công  ty đối vốn  thành công  ty đối nhân, và ngược lại  mà  có sự  thay  đổi số lượng  thành
viên.  Đối với  loại  này, hợp  đồng  chuyển  đổi hình thức công ty gồm hai phần: Thứ nhất là sự thỏa  thuận  chuyển  đổi  hình  thức  công  ty của các chủ sở hữu của công  ty hoặc hành vi pháp lý đơn phương của chủ sở hữu công  ty  (nếu  là công ty một thành viên); và thứ hai là hợp đồng chuyển nhượng quyền lợi.

Loại  thứ hai bao gồm: Chuyển đổi công  ty đối  nhân  thành  công  ty  đối vốn,  và  ngược lại mà số lượng thành viên của công ty không thay đổi;  và  chuyển  đổi  hình  thức  giữa  công  ty cổ phần  và  công  ty TNHH mà  không  có sự  thay đổi số lượng  thành  viên. Đối với  loại  này hợp đồng là thỏa thuận của các chủ sở hữu công ty.
Hợp đồng chuyển đổi hình thức công ti của các  chủ sở hữu  công  ti  có  thể  được  hiểu  qua minh họa  sau: Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng  thành  viên  thông  qua  quyết  định  chuyển hình  thức  công  ty.  Hành  vi  thông  qua  quyết định chuyển đổi chính  là một sự thỏa thuận tạo lập nên một hậu quả pháp lý, vì vậy được gọi là hợp  đồng. Còn văn bản  quyết  định  được  xem như văn bản hợp  đồng.  Tuy  nhiên, hợp  đồng này  không cần sự  thống  nhất  ý  chí của tất cả những người sở hữu cổ phần hoặc phần vốn góp (trừ  trường hợp đặc biệt). Do đó nó được xem là  loại hợp đồng cộng đồng. Hiệu lực của hợp đồng này phụ thuộc vào qui định của pháp  luật về tỉ lệ biểu quyết  trong Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng thành viên.

2. Một  vài vướng mắc  trong  việc xử  lý hợp đồng chuyển đổi hình thức công ty vô hiệu

Hiện tại, luật  thực định của Việt Nam chưa đề cập  trực  tiếp  đến vấn  đề  chuyển  đổi  hình thức công ty vô hiệu. Mặc dù, thực tế đã có một số vụ xử lý việc thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh  không  đúng  quy  định của  pháp  luật, cụ thể bằng  biện  pháp  hành  chính, cơ  quan  đăng ký kinh doanh đã sử dụng chế  tài  thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đã thay đổi và hủy bỏ  những nội  dung  thay  đổi,  trong  đó  có nội  dung  chuyển  đổi  loại  hình  công  ty. Để  có căn cứ xử  lý việc  chuyển đổi  công  ty  vô hiệu, cần  phải  có  quyết  định của cơ  quan  có  thẩm quyền, hiện tại là Tòa án về việc hủy quyết định của Đại hội  đồng cổ  đông  hoặc về  việc  tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền lợi hay đầu tư vô hiệu. 
Có thể nói rằng, với hệ thống pháp luật hiện hành,  các cơ  quan  tài  phán  không  có  nhiều vướng mắc về việc  tuyên giao dịch chuyển đổi hình  thức  công  ty  vô  hiệu,  tuy  nhiên,  đối với việc xử  lý hậu quả phải đối mặt với nhiều khó khăn. Nếu  áp dụng  các  chế  tài một  cách cứng nhắc sẽ không đảm bảo lợi  ích của người dân, không thể hiện vai trò bảo vệ trật tự công, sẽ là rào cản cho việc phát  triển kinh tế xã hội…

Ví dụ 1: CTCP Số 1 khi thành lập, 3 cổ đông cam kết mua 100% vốn điều lệ 100 tỷ; sau 90 ngày kể từ được cấp Giấy chứng nhận ĐKKD, chỉ có một cổ  đông  A  thanh  toán  đủ số  tiền mua cổ phần  là 1 tỷ đồng, 2 cổ đông còn lại  là B và C không  thanh  toán  được  tiền mua cổ  phần. Cổ đông A, với tư cách là chủ tịch HĐQT, đại diện theo pháp luật của công ty đã thực hiện các thủ tục  theo Điều  84,  khoản  3,  điểm  a  và  điểm  b, Luật Doanh  nghiệp 2005, nhưng  không  có kết quả.  Sau  đó, cổ  đông  A  đã  triệu tập ĐHĐCĐ bất  thường  ra  quyết  định  huy  động vốn  theo Điều  84,  khoản3,  điểm  c,  Luật  Doanh  nghiệp 2005  huy  động  người  khác  không  phải  là cổ đông sáng lập nhận góp đủ số cổ phần đó. Sau khi ra quyết định, A ký  thỏa  thuận với D,  theo đó, D nhận góp  toàn bộ số cổ phần mà A và B đã  cam kết  nhưng  không  thanh  toán  theo  luật định,  và CTCP Số 1  chuyển đổi  thành  công  ti TNHH hai thành viên. Việc chuyển đổi đã hoàn thành, D đã góp đủ vốn. Công  ty TNHH ngay tháng đầu hoạt động đã lãi 39 tỷ. Biết tin này, B và C kiện hủy quyết định huy động vốn và Hợp đồng nhận góp vốn. Yêu cầu khởi kiện của B C đã được chấp nhận, mặc dù luật sư của A và D đưa  ra lập  luận khá sắc rằng  i) khi  triệu tập ĐHĐCĐ bất thường không mời B và C là do B và C  chưa sở hữu cổ  phần  -  không  phải  là cổ đông  có  quyền  biểu  quyết;  ii)  Quyền  ký  thỏa thuận  nhận  góp vốn  thuộc về  công  ty  -  không phải là thẩm quyền của B và C (người chưa góp vốn). Với quyết định của Tòa án, công ti TNHH lại được  trở  thành CTCP và các bên  trong  thỏa thuận  góp vốn  phải  trả  cho  nhau  những  gì  đã nhận. Cách giải quyết này đã xâm phạm nghiêm trọng đến quyền lợi hợp pháp của D, giảm hiệu quả điều chỉnh của pháp luật…

Cũng ví dụ  trên, nhưng nếu  công  ti TNHH chuyển đổi hoạt động  thua lỗ 61 tỷ và đang nợ Ngân hàng 50 tỷ; Yêu cầu khởi kiện của B và C cũng được chấp nhận thì hậu quả của nó gây ra đối với môi  trường đầu tư với  trật tự xã hội… còn nghiêm trọng hơn.
Ví dụ 2: Công ty TNHH một thành viên A, do một pháp nhân làm chủ sở hữu, với vốn điều lệ là 50 tỷ. Sau một thời gian hoạt động, công ti này đã được cấp Giấy  chứng nhận đầu tư một dự án nhà rất lớn. Chủ sở hữu công ty A đã ký hợp đồng  chuyển  nhượng  cho  ông B 50% vốn điều lệ với giá 100 tỷ,  trong hợp đồng hai bên thống nhất chuyển đổi hình  thức công  ty  thành TNHH hai thành viên. Ông B đã nộp đầy đủ số tiền  theo hợp đồng, Công  ty A đã dùng số  tiền này để nộp tiền sử dụng đất đối với diện tích đất mà nhà nước giao đất có thu tiền.  Ông B nhiều lần đề nghị Công  ty A  làm  thủ tục chuyển đổi nhưng Công ty A chưa làm. Sau 5 tháng, giá đất tăng gấp nhiều lần. Chủ sở hữu Công  ty A gửi văn bản  thông báo  chấm dứt hợp đồng  chuyển
nhượng vốn với ông B vì lý do khi giao kết hợp đồng Công ty A chưa được góp vốn điều lệ, nên không đủ điều kiện chuyển đổi hình  thức công ty  theo  Điều  19,  khoản  1,  Nghị  định số 139/2007/NĐ-CP rằng  “Công  ty  trách  nhiệm hữu hạn một thành viên được chuyển đổi thành công  ti  trách nhiệm hữu hạn hai  thành viên  trở lên khi chủ sở hữu công ti đã góp đủ số vốn vào công ty như đã cam kết”. Ông B không đồng ý và kiện ra Tòa. Bên bị đơn có phản tố “yêu cầu tuyên hợp  đồng  vô  hiệu”,  và  yêu cầu  này  đã được  chấp  nhận. Hậu  quả  là  ông  B  không những phải chịu thiệt hại rất lớn mà còn không được hưởng lợi  ích  mà  đáng  ra  phải  được hưởng nếu hợp đồng được thực hiện đúng.
Ngoài ra, còn nhiều những trường hợp xử lý việc chuyển đổi công  ty vô hiệu  theo pháp  luật hiện hành mà không  tính đến ý nghĩa bản chất của quy phạm, sẽ làm phát sinh những hệ lụy đi ngược lại với mục tiêu chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc phát triển kinh tế xã hội và cải thiện môi trường kinh doanh…

3. Một vài kiến nghị

Hồ  Chủ Tịch  đã  nói:  “Việc  gì  có lợi  cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì có hại đến dân, ta phải hết sức  tránh”. Quan điểm này  là đúng đắn  và  được  áp dụng  trong hầu hết  các  hoạt động  quản  lý  nhà nước. Tuy  nhiên,  trong lĩnh vực pháp luật, chúng ta chỉ có thể tránh áp dụng một hoặc một số quy định không phù hợp trong những bối cảnh cụ  thể  và  giai  đoạn cụ  thể  để đảm bảo hiệu quả điều chỉnh của pháp  luật. Để giải  quyết  đúng  đắn  và  đảm bảo  pháp  chế  xã hội chủ nghĩa đối với những thỏa thuận chuyển đổi hình thức công ty, nên đưa ra các giải pháp sau:

Thứ  nhất,  đối với CTCP, cần  quy  định cụ thể thời điểm xác lập quyền sở hữu cổ phần đối với các cổ đông; quyền sở hữu cổ phần đối với trường hợp  chưa  thanh  toán đủ  tiền đối với số cổ phần cam kết mua khi  thành lập công  ty; ai là người có quyền huy động người không phải là cổ đông góp vốn đối với trường hợp cổ đông sáng lập không  thanh  toán đủ số cổ phần  cam kết mua.

Thứ  hai,  đối với  công  ty TNHH  hai  thành viên  trở  lên, mặc  dù  Điều  39,  khoản  2,  Luật Doanh  nghiệp  2005  đã  quy  định  “Trường hợp có thành viên không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết  thì số vốn chưa góp được coi  là nợ của  thành  viên  đó  đối với  công  ty;  thành  viên đó  phải  chịu  trách  nhiệm bồi  thường  thiệt hại phát sinh do không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết”, nhưng  thực tế  có  tòa án đã xử  lý hình sự đối với người chuyển nhượng phần vốn góp khi  chưa góp đủ vốn cam kết, cụ  thể: Tòa án  nhân  dân tỉnh  Ninh  Bình  đã  ra Bản  án số 12/2009/HSST ngày 3/3/2009 tuyên phạt bị cáo Trần Văn Nghĩa 9 năm tù về tội lừa đảo – hành vi của ông Nghĩa là chuyển nhượng vốn góp tại Công  ty  TNHH  Thiện  Tài  cho  ông  Trương Đăng Công (kế toán trưởng Công ty Thiện Tài) khi chưa góp vốn điều lệ. Do vậy, cần giải thích hoặc quy định chi  tiết về quyền  tài sản đổi với phần vốn  góp  trong  công  ty  TNHH mà  thành viên đã cam kết góp nhưng chưa góp hoặc chưa góp đủ.

Tài liệu tham khảo

[1]  Lê  Tài  Triển,  Nguyễn Vạng  Thọ,  Nguyễn  Tân, Luật thương mại Việt Nam dẫn giải, quyển 1, Kim lai Ấn quán, Sài Gòn, 1972.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI, LUẬT HỌC SỐ 25 (2009), 265 – 268

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: