SỞ HỮU TƯ NHÂN VỀ ĐẤT ĐAI LÀ TẤT YẾU

GS.TS ĐẶNG HÙNG VÕ – Nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và môi trường

Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959 đều thừa nhận sở hữu tư nhân về đất đai. Chỉ đến Hiến pháp năm 1980 mới quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân.

Có hai lý do củng cố cho chế độ công hữu về đất đai. Thứ nhất, thể hiện được đúng bản chất của đất đai không phải là của riêng ai, mà là tặng vật của tự nhiên ban tặng cho cả dân tộc, có công sức gìn giữ và bảo vệ của tất cả mọi người. Thứ hai, nếu tư nhân hoá đất đai thì dễ hình thành tầng lớp chủ đất mới, một số người giàu có bỏ tiền ra để giữ đất, đầu cơ đất đai tạo nên trở lực lớn cho quá trình đầu tư phát triển.

Những nhược điểm từ thực tiễn

Nhưng chế độ công hữu về đất đai cũng có một số nhược điểm từ thực tiễn. Thứ nhất, người sử dụng đất không có động lực để sử dụng đất một cách tốt nhất, không muốn đầu tư dài hạn vào đất đang sử dụng, làm hạn chế hiệu quả sử dụng đất vì đất đai đó không phải là tài sản lâu dài của họ. Thứ hai, quyền định đoạt về đất đai thuộc các cơ quan nhà nước dễ dẫn tới sự can thiệp hành chính vào thị trường quyền sử dụng đất, tạo nguy cơ phát sinh tham nhũng, gây trở ngại lớn cho đầu tư phát triển. Thứ ba, sự không chỉnh thể về lý luận và thực tiễn tạo nên những khái niệm “giả vờ” gây khó khăn cho việc thực thi pháp luật như quyền sử dụng đất là tài sản của người sử dụng đất, thị trường quyền sử dụng đất, giá quyền sử dụng đất. Luật Đất đai năm 2003 đã phải định nghĩa giá quyền sử dụng đất và nói rằng trong luật này gọi là giá đất. Sự thiếu minh bạch về khái niệm dẫn tới khả năng thực thi sai pháp luật, làm lẫn lộn cách thức phân chia địa tô giữa người sử dụng đất và Nhà nước.

Chế độ công hữu về đất đai chỉ có ở các nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa cũ. Hiện nay cũng chỉ còn ở một số nước như nước ta (sở hữu toàn dân), Trung Quốc (sở hữu tập thể và sở hữu nhà nước), Cuba và Triều Tiên (sở hữu nhà nước). Ở các nước thuộc khối Liên hiệp Anh, một phần đất đai được xác lập theo nguồn gốc là của nhà vua, mọi người có thể mua và có thể thuê, thời hạn thuê dài nhất lên tới 999 năm. Ở Đài Loan – Trung Quốc, hiến pháp xác định đất đai là tài sản của cả dân tộc, Nhà nước công nhận quyền sở hữu tư nhân về đất đai theo quy định của pháp luật.

Chế độ sở hữu đất đai hợp lý cho hộ gia đình, cá nhân

Tất cả các nhà lý luận kinh tế chính trị học trên thế giới đều nói rằng sở hữu đất đai là một loại sở hữu đặc biệt, không phải của tất cả mọi người mà cũng không phải của riêng ai. Gọi là sở hữu gì cũng chỉ là thuật ngữ, nội dung cụ thể phải được xác lập theo các quy định của pháp luật. Trên thực tế, nội dung cụ thể về quyền định đoạt đối với đất đai ở ta hiện nay không khác mấy so với nội dung cụ thể của quyền sở hữu tư nhân về đất đai ở các nước tư bản phát triển. Không có sự khác nhau về quyền của Nhà nước và quyền của người giữ đất; chỉ có sự khác nhau về phạm vi thực hiện các quyền đó.

Hộ gia đình, cá nhân ở nước ta được sử dụng đất ở (không hạn mức thời gian và diện tích), đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối (có thời hạn tuỳ theo ngành), đất chuyên dùng (như đất ở đối với đất có nguồn gốc từ đất ở và có hạn mức thời gian và diện tích theo mục đích sử dụng đối với đất mới được Nhà nước giao). Theo luật Đất đai năm 2003, chế độ sở hữu toàn dân hiện nay cũng không còn nguyên nghĩa là chế độ công hữu về đất đai nữa. Nhà nước đã trao hết quyền sử dụng cho dân, trao hầu hết các quyền định đoạt tài sản cho người sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân (chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng, cho, thừa kế, cho thuê, thế chấp, góp vốn). Nhà nước chỉ còn giữ lại quyền định đoạt về quy hoạch sử dụng đất và quyền cưỡng chế thực hiện quy hoạch sử dụng đất (thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, gia hạn sử dụng đất). Người nào có đất hiện nay cũng coi như đó là đất của mình, chỉ còn một ám ảnh khi chẳng may bị Nhà nước thu hồi đất.

Khi bắt đầu đổi mới, chỉ một chính sách giao đất của hợp tác xã cho hộ gia đình, cá nhân để sử dụng ổn định lâu dài đã tạo động lực giúp cho đất nước ta không chỉ thoát khỏi nạn thiếu lương thực mà còn đưa nước ta trở thành một trong ba nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Đến nay, động lực này đã cạn, nhu cầu phát triển đất nước để trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020 đang cần những động lực mới hơn. Đối với đất đai, việc trao quyền sở hữu hạn chế cho mọi thành phần kinh tế, trong đó có hộ gia đình, cá nhân, là một động lực mới. Trước hết, làm cho người sử dụng đất an tâm đầu tư trên mảnh đất “của mình”. Đây cũng là điều kiện quan trọng để người chí thú làm nông nghiệp mạnh dạn phát triển kinh tế trang trại, đầu tư vào công nghệ nhằm tăng năng suất và sản lượng. Có như vậy mới thu hút được các nhà đầu tư hạ tầng cho khu vực tam nông, việc chuyển đổi cơ cấu lao động vùng nông thôn mới tiến hành được thuận lợi. Tiếp theo, việc giao quyền sở hữu tư nhân đối với đất đai cho hộ gia đình, cá nhân tương đương với việc hạn chế lại quyền thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất của Nhà nước, làm giảm đi đáng kể nguy cơ tham nhũng trong quản lý đất đai.

Cơ hội từ Cương lĩnh 2011

Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959 đều thừa nhận sở hữu tư nhân về đất đai. Chỉ đến Hiến pháp năm 1980 mới quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, mà không có bất kỳ một cơ chế kinh tế, xã hội nào để chuyển tất cả các loại sở hữu khác nhau trước đó về sở hữu toàn dân về đất đai. Hiến pháp năm 1992 – hiến pháp của thời kỳ đổi mới – tiếp tục giữ nguyên chế độ sở hữu toàn dân về đất đai. Như vậy, từ luật Đất đai năm 1988 cho đến nay (luật Đất đai 2003) đều được hình thành theo chế định cơ bản của sở hữu toàn dân về đất đai như Hiến pháp đã xác lập.

Hiện nay, chúng ta xác lập con đường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, các tư liệu sản xuất chính trong tương lai sẽ là công hữu. Điều tốt đẹp của ngày mai chưa thể bắt đầu ngay ngày hôm nay, khi dân trí còn thiên về tư hữu, động lực phát triển kinh tế vẫn phải dựa vào lợi ích cho cá thể. Bài học từ thành tựu phát triển kinh tế nhờ chính sách giao đất của hợp tác xã nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân đã minh hoạ rõ điều này. Chế độ công hữu về đất đai đòi hỏi phải có đủ điều kiện phù hợp với trình độ phát triển kinh tế, tính hiện đại của xã hội và nhận thức văn hoá cao của con người. Khi các điều kiện này chưa đủ, chế độ công hữu về đất đai sẽ gây cản trở cho quá trình phát triển.

Khó khăn nhất vẫn là các nhà lãnh đạo, quản lý phải thoát ra khỏi những tư duy thường trực được hình thành từ thời kỳ kinh tế bao cấp, chỉ huy tập trung.

Trong đại hội Đảng khoá XI vừa qua, đa số đại biểu đã không nhất trí với phương hướng xác lập chế độ công hữu đối với các tư liệu sản xuất chủ yếu, mà nhất trí với phương hướng lựa chọn chế độ sở hữu phù hợp đối với từng giai đoạn cách mạng. Đây chính là cơ hội lớn để chúng ta thảo luận việc lựa chọn chế độ sở hữu phù hợp đối với đất đai trong giai đoạn hiện nay. Việc lựa chọn chế độ đa sở hữu đối với đất đai – trong đó có tư hữu đất đai của hộ gia đình, cá nhân – sẽ có thể được chấp nhận khi phân tích thấy hết được nhiều lợi ích hiện tại. Quá trình phát triển kinh tế xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ chuyển dần chế độ đa sở hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu sang chế độ công hữu.

Khó khăn chủ yếu của việc thay đổi chế độ sở hữu đối với đất đai không xuất phát từ thực tế khách quan của quá trình phát triển mà tồn tại ngay trong tư duy của các cán bộ quản lý. Có ba luồng tư duy hiện nay về vấn đề này. Luồng tư duy thứ nhất mang tính chủ quan về lý luận, sợ rằng thay đổi chế độ sở hữu về đất đai có thể gây tác động xấu đến định hướng xã hội chủ nghĩa. Luồng tư duy thứ hai cũng mang tính chủ quan về thực tế, lo rằng không còn chế độ công hữu về toàn bộ đất đai sẽ không còn cơ hội về lợi ích, ví dụ như tham nhũng. Còn luồng tư duy thứ ba mang tính khách quan từ thực tiễn, mong muốn có chế độ đa sở hữu về đất đai cho phù hợp với hoàn cảnh phát triển hiện tại.

Những bước chuẩn bị

Có một số người cho rằng việc đổi mới chế độ sở hữu đất với đất đai là khó vì phải sửa Hiến pháp 1992. Sự thực, Hiến pháp do nhân dân quyết định thông qua các đại diện cho mình ở Quốc hội, tức là cũng do con người làm ra. Việc sửa Hiến pháp không khó khi thực sự cần phải sửa vì mục đích tốt đẹp cho đất nước, cho nhân dân.

Điều khó khăn nhất vẫn là tư duy của các nhà lãnh đạo, quản lý có tầm ảnh hưởng lớn. Thảo luận về vấn đề này thực sự khó khăn. Có một cách giải quyết hợp lý nhất là trưng cầu dân ý – hãy để cho toàn dân có quyền quyết định! Muốn vậy, Quốc hội cũng phải xem xét để thông qua luật về trưng cầu dân ý. Điều này cũng đòi hỏi một thời gian nhất định nhưng không phải là khó. Khi chủ trương đổi mới chế độ sở hữu đối với đất đai được quyết định thì cũng cần tới khá nhiều công sức trong việc xây dựng luật Đất đai trên nguyên tắc của chế độ đa sở hữu về đất đai, trong đó có sở hữu tư nhân về đất đai. Quyết định về chủ trương là điều khó khăn nhất, khi nhận thức đúng đã rõ thì việc sửa Hiến pháp, hay xây dựng luật Trưng cầu dân ý, hay soạn thảo lại luật Đất đai mới cũng chỉ là vấn đề kỹ thuật, không có gì khó.

Có thể nói tới 80% nội hàm về quyền sở hữu đối với đất đai đã là sở hữu tư nhân rồi. Điều quan trọng là phạm vi quyền định đoạt của các cơ quan nhà nước đối với đất đai còn quá lớn, các quyết định hành chính tác động trực tiếp làm “méo” thị trường, khó ngăn chặn tệ nạn tham nhũng trong quản lý đất đai và đầu cơ trong sử dụng đất đai. Khi quyết định hành chính có thể chuyển được đất do người này đang sử dụng sang cho người khác sử dụng thì luôn gây nên bức xúc lớn cả cho quá trình phát triển kinh tế lẫn nỗ lực thiết lập tính bền vững xã hội. Chủ đầu tư “kêu trời” vì việc tìm kiếm đất để đầu tư khó quá, người đang sử dụng đất cũng “kêu trời” vì bị thu hồi đất dễ quá, chỉ còn cách khiếu kiện trong vô vọng.

Đã đến lúc chúng ta cần nhìn thẳng vào thực chất quan hệ đất đai ở Việt Nam. Tốt nhất là gọi tên chế độ sở hữu đất đai, một chế độ sở hữu đặc biệt, như thông lệ trên thế giới, phù hợp hơn với nhu cầu thực tế phát triển, tạo cơ hội làm giảm nguy cơ tham nhũng trong bộ máy quản lý đất đai. Chúng ta cần chấp nhận sở hữu tư nhân về đất đai, thiết lập chế độ đa sở hữu về đất đai gồm cả sở hữu nhà nước, sở hữu chung, sở hữu tập thể và sở hữu của tất cả các thành phần kinh tế gồm cả sở hữu tư nhân. Ngoài những ý nghĩa đối với kinh tế, xã hội, nhân văn trong nước, đa sở hữu về đất đai còn tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập quốc tế của nước ta.

SOURCE: BÁO SÀI GÒN TIẾP THỊ SỐ NGÀY 18/3/2011

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: