Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

TRANH CHẤP VỀ XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU: TẤM VÁN ĐÓNG THUYỀN THUỘC VỀ AI?

VĂN ĐOÀN

Bên mất bảo tấm ván bị trôi là của mình, còn bên vớt được bảo bên mất chưa chứng minh được…

Theo hồ sơ, tháng 8-2010, ông T. ở huyện Mang Thít (Vĩnh Long) mua một tấm ván bằng gỗ sao núi trị giá gần 10 triệu đồng rồi mang về ngâm dưới rạch nước sau nhà để chuẩn bị đóng ghe…

Mất tấm ván quý

Ít lâu sau, ông T. phát hiện tấm ván trôi sang bờ sông cặp nhà ông D. nên kêu người qua kéo tấm ván về. Tuy nhiên, ông D. đã ngăn cản, không cho phía ông T. lấy tấm ván. Ông T. tức mình, báo công an xã nhưng ông D. vẫn kiên quyết không đưa. Đòi hoài không được, cuối cùng, ông T. kiện ông D. ra tòa yêu cầu trả lại tài sản…

Đến lúc này, ông D. lên tiếng bảo đúng là ông vớt được tấm ván trôi gần nhà. Tuy nhiên, tấm ván này có phải là của ông T. thì ông T. phải chứng minh. Nếu ông T. không chứng minh được thì ông không trả. Còn nếu ông T. chứng minh được đó là tài sản của mình thì cũng phải bồi thường cho ông hơn 14 triệu đồng tiền chi phí vớt tấm ván và thuê người bảo quản…

Phải trả lại tấm ván

Tháng 1-2011, TAND huyện Mang Thít xử sơ thẩm nhận định ông T. mất tấm ván còn ông D. nhặt được tấm ván, có báo công an xã trong cùng một ngày. Từ ngày đó đến ngày xử sơ thẩm không có ai báo mất tấm ván nữa. Người làm của ông T. cũng khẳng định tấm ván là của ông T. Tại phiên tòa, ông D. khai: “Phải chi ông T. qua nhà thương lượng thì ông D. đã trả lại tấm ván”… Điều này cho thấy ông D. đã thừa nhận tấm ván vớt được là của ông T. Từ nhận định trên, có đủ cơ sở xác định tài sản là của ông T. Do đó, tòa chấp nhận yêu cầu khởi kiện buộc ông D. phải trả lại tấm ván.

Không đồng ý, ông D. làm đơn kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm đầu tháng 3-2011, luật sư của ông D. cho rằng trong quá trình giải quyết vụ án, ông T. khai tấm ván dài 9,9 m, ngang 0,9 m. Điều này không trùng khớp với tấm ván mà ông D. vớt được. Cụ thể nó chỉ dài 8,9 m, ngang 1,1 m… Do đó, luật sư đề nghị tòa xác định tấm ván mà ông D. vớt là chưa xác định được chủ sở hữu và tuyên cho ông D. được hưởng tấn ván này theo quy định tại Điều 241 BLDS…

Sau khi xem xét, HĐXX cho rằng các nhân chứng đều xác định tấm ván là của ông T. Mặt khác, từ ngày xảy ra sự việc đến khi xử phúc thẩm cũng không có ai báo mất tấm ván nào khác. Do đó, có cơ sở xác định tấm ván mà ông D. vớt được là của ông T. Còn việc ông D. yêu cầu ông T. trả chi phí thuê người trông giữ tấm ván hết 14 triệu đồng là không có căn cứ chấp nhận vì theo quy định của pháp luật, nếu không trả lại tài sản cho người bị đánh rơi thì người nhặt được của rơi phải giao nộp cho UBND cấp xã… quản lý. Thế nên, tòa cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Quyền sở hữu đối với vật do người khác đánh rơi, bỏ quên

Người nhặt được vật do người khác đánh rơi hoặc bỏ quên mà biết được địa chỉ của người đánh rơi hoặc bỏ quên thì phải thông báo hoặc trả lại vật cho người đó. Nếu không biết địa chỉ của người đánh rơi hoặc bỏ quên thì phải thông báo hoặc giao nộp cho UBND xã, phường, thị trấn hoặc công an cơ sở gần nhất để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại. UBND hoặc công an cơ sở đã nhận vật phải thông báo cho người đã giao nộp về kết quả xác định chủ sở hữu.

Sau một năm kể từ ngày thông báo công khai về vật nhặt được mà không xác định được chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu không đến nhận, nếu vật có giá trị đến 10 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định thì vật đó thuộc sở hữu của người nhặt được. Nếu vật có giá trị lớn hơn 10 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định thì sau khi trừ chi phí bảo quản người nhặt được được hưởng giá trị bằng 10 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định và 50% giá trị của phần vượt quá 10 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định, phần giá trị còn lại thuộc Nhà nước.

(Trích Điều 241 BLDS)

SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM

Trích dẫn từ: http://phapluattp.vn/2011041112480514p1063c1016/tranh-chap-tam-van-dong-thuyen.htm

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: