Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM

TS. ĐINH VĂN ÂN -  Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế TW

1. Bối cảnh và khái niệm

Đường lối đổi mới kinh tế theo hướng thị trường đã đuợc chính thức khẳng định từ Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), khi thông qua kế hoạch cải cách kinh tế theo hướng “đổi mới”. Đường lối này sau đó đã được thể chế hóa trong Hiến pháp (1992) và được tiếp tục phát triển trong các văn kiện của các Đại hội Đảng và các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ Việt Nam về “phát triển nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN”. Để cụ thể hóa đường lối chính trị này, Chính phủ và nhân dân Việt nam những năm qua đã có những nỗ lực không ngừng nhằm hình thành một hệ thống thể chế kinh tế mới: thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN.

ở Việt Nam, thể chế kinh tế thị trường hiện được hiểu là một bộ phận cấu thành của hệ thống thể chế xã hội, tồn tại song trùng với các bộ phận khác như thể chế chính trị, thể chế gia đình, thể chế văn hóa; thể chế tôn giáo, v.v.. Các yếu tố cấu thành của hệ thống thể chế đó bao gồm: (i) các quy tắc, chuẩn mực (rules and norms) về hành vi kinh tế diễn ra trên thị trường; (ii) bản thân các bên tham gia thị trường với tư cách là các chủ thể thị trường (market actors); (iii) cách thức tổ chức thực hiện các quy tắc, chuẩn mực thị trường, nhằm đạt được mục tiêu, hay kết quả mà các bên tham gia thị trường mong muốn; và (vi) hệ thống các thực thể thị trường vật chất, tức là bản thân các “thị trường”- với tư cách là các địa điểm, là “sân chơi”, là các đầu mối giao dịch, nơi hàng hóa, dịch vụ được trao đổi trên cơ sở cung cầu, quy định của “luật chơi” (Bảng 1).

Việc Việt nam lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN xuất phát từ thực tế là mô hình kinh tế CNXH cổ điển, đặc trưng bởi hệ thống kinh tế kế hoạch hoá tập trung, sau nhiều thập kỷ tồn tại, đã tỏ ra không còn sức sống và khả năng tự phát triển nội sinh về mặt kinh tế. Trong khi đó, kinh tế thị trường với tư cách là một phương thức sản xuất, đã được chứng minh là có thể được sử dụng nhằm phục vụ cho sự phát triển và thịnh vượng chung của các quốc gia, dân tộc, chứ không phải chỉ là tài sản riêng của CNTB. Tuy nhiên, thực tế phát triển của các nền kinh tế thị trường (nhất là các nước theo mô hình kinh tế thị trường “thuần chủng”) ngày càng cho thấy rõ chính trong quá trình phát triển của mình, kinh tế thị trường luôn luôn tiềm ẩn những nguy cơ thất bại, bởi nó tỏ ra mâu thuẫn sâu sắc với các giá trị truyền thống, 1àm tăng tính bất ổn của xã hội và khoét sâu hố ngăn cách giầu – nghèo. Vì vậy, vai trò Nhà nước như một chủ thể xã hội sáng tạo và hùng mạnh để quản lý các quá trình kinh tế vĩ mô, nhằm hạn chế những khuyết tật của thị trường, đáp ứng yêu cầu phát triển, cần phải được khai thác có hiệu quả. Vì vậy, các thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam được xây dựng và thực thi chính là nhằm mục đích làm cho “thị trường” và “Nhà nước” trở thành hai yếu tố bổ sung cho nhau, chứ không phải thay thế, loại trừ nhau.

Bảng 1: Các yếu tố cấu thành thể chế kinh tế thị trường.

Các yếu tố

Nội dung

¨ Các quy tắc tạo thành “luật chơi” kinh tế thị trường

o Khung luật pháp về kinh tế;

o Các quy tắc, chuẩn mực xã hội về/ hoặc liên quan đến kinh tế, kể các các quy tắc hay chuẩn mực phi chính thức;

¨ Các chủ thể tham gia “trò chơi” kinh tế thị trường

o Các cơ quan quản lí nhà nước về kinh tế;

o Doanh nghiệp;

o Các tổ chức thuộc “xã hội dân sự”, cộng đồng dân cư và người dân;

¨ Các cơ chế thực thi các “luật chơi kinh tế” trên thị trường

o Cơ chế bổ sung giữa Thị trường và Nhà nước;

o Cơ chế phân cấp quản lí kinh tế;

o Cơ chế phối hợp;

o Cơ chế tham gia; v.v.

¨ Các “sân chơi kinh tế” hay hệ thống các “thị trường cứng”

o Thị trường hàng hóa;

o thị trường vốn,

o thị trường lao động,

o thị trường bất động sản,

o v.v.

Phần dưới đây sẽ trình bày ngắn gọn về thực trạng quá trình hình thành và hoàn thiện hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam trong những năm gần đây.

2. Thực tiễn quá trình hình thành và hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế

2.1 – Những thành tựu

Ngay từ khi công cuộc cải cách kinh tế mới bắt đầu, Việt Nam đã xây dựng và ban hành nhiều văn bản pháp luật dưới dạng Bộ luật, Luật và Pháp lệnh liên quan trực tiếp đến phát triển kinh tế thị trường và khuyến khích kinh doanh. Tính từ 1986 đến nay đã có hàng trăm luật và Pháp lệnh (kể cả Luật và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung) đã được ban hành và đưa vào áp dụng. Số lượng văn bản pháp luật được ban hành trong 3 nhiệm kỳ của Quốc hội (VIII, IX và X) đã gấp nhiều lần so với tất cả các nhiệm kỳ trước cộng lại. Đó là chưa kể hàng trăm văn bản pháp luật dưới các hình thức nghị quyết, nghị định của Chính phủ; quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ; quyết định, chỉ thị, thông tư của Bộ trưởng[1]. Nội dung pháp luật kinh tế đã phù hợp hơn với cơ chế thị trường, đáp ứng được hầu hết những đòi hỏi từ công cuộc cải cách kinh tế. Khuôn khổ luật pháp mới đã cho phép thực hiện những bước đi đầu tiên trong quá trình chuyển đổi hành vi của Nhà nước từ “làm cho” (làm hộ) sang “cho làm”, từ việc can thiệp trực tiếp sang tác động gián tiếp vào các hoạt động kinh tế. Công tác soạn thảo, thẩm định và ban hành các văn bản pháp luật đã bước đầu đi vào nền nếp, theo một quy trình thống nhất do luật định. Hoạt động thông tin, phổ biến pháp luật đã có chuyển biến tích cực, đáp ứng tốt hơn các nhu cầu đa dạng và góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của mọi người dân. Nhờ có những nỗ lực đó, mà khung luật pháp của nền kinh tế thị trường đã dần được định hình và ngày càng hoàn thiện hơn, thể hiện rõ qua những đặc điểm sau đây:

– Tạo dựng khung pháp lý cho việc thực hiện quyền tự do kinh doanh, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, khai thác hiệu quả nguồn lực xã hội

Với việc ban hành Luật Đầu tư nước ngoài (1987), Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân (1990), Nhà nước Việt nam đã chính thức thừa nhận sự tồn tại hợp pháp của các thành phần kinh tế phi Nhà nước. Tiếp theo đó, Luật Doanh nghiệp nhà nước (1995) và Luật Hợp tác xã (1996) cũng đã được ban hành, tạo khung khổ pháp luật cơ bản cho các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế nhiều thành phần, hạn chế từng bước sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Như vậy, nền kinh tế nhiều thành phần theo chủ trương của Đảng và được quy định trong Hiến pháp 1992 đã được cụ thể hoá bằng các văn bản pháp luật.

Bên cạnh đó, với Luật Phá sản (ban hành 1993, sửa đổi 2004), khung pháp lý cho quá trình rút khỏi thị trường cũng đã được xây dựng, tạo điều kiện quan trọng cho việc thực hiện chức năng đào thải, chọn lọc của cơ chế cạnh tranh, góp phần thúc đẩy quá trình phân bổ lại nguồn lực theo hướng có hiệu quả hơn.

Bước ngoặt lớn nhất của quá trình cải cách trong những năm gần đây là việc ban hành và thực thi Luật Doanh nghiệp (2005). Sự ra đời của Luật này là kết quả của cam kết chính trị về tạo lập môi trường thuận lợi, bình đẳng và phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và các đòi hỏi của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế; nhằm mục tiêu trước hết là khắc phục sự chia cắt, tách biệt áp dụng theo thành phần kinh tế của hệ thống luật pháp (trước đó) về doanh nghiệp, khi mà các doanh nghiệp có cùng loại hình pháp lý, song nếu thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, lại bị điều chỉnh bởi các quy định pháp luật khác nhau về nhiều phương diện, bao gồm từ thủ tục, điều kiện gia nhập hoặc rút lui khỏi thị trường, đến cách thức quản lý nội bộ, v.v [2]. Nay, nhờ có Luật Doanh nghiệp mới (2005), quyền tự do và bình đẳng trong kinh doanh – điều được quy định rõ trong Hiến pháp 1992 – đã thực sự đi vào cuộc sống và đang giúp tạo ra bầu không khí mới trong môi trường đầu tư ở Việt Nam.

Tương tự như vậy, Luật đầu tư (chung), thay thế cho Luật đầu tư nước ngoài và Luật khuyến khích đầu tư trong nước, được Quốc hội Việt Nam thông qua năm 2005, có hiệu lực từ 1/7/2006, đã thực sự là bước tiến dài theo hướng cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tạo một “sân chơi” bình đẳng cho các nhà đầu tư cả trong và ngoài nước. Luật này còn bao gồm các quy định mới về đơn giản hóa thủ tục đầu tư, tạo nhiều điều kiện thuận lợi để thu hút và sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn vốn đầu tư, đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.

– Khung pháp lý về thị trường hàng hoá, dịch vụ đã và đang tạo điều kiện cho cơ chế thị trường vận hành có hiệu quả

Những đổi mới thể chế đầu tiên nhằm phát triển nhanh thị trường hàng hoá, dịch vụ đặc biệt là hàng tiêu dùng, xuất khẩu, là một trong những chương trình cải cách quan trọng góp phần tạo ra các thành tựu trong giai đoạn đầu của Đổi mới. Điều này được thực hiện trước hết thông qua các chủ trương về giải quy chế, rỡ bỏ các mệnh lệnh có tính chất “bế quan toả cảng”, tạo điều kiện thúc đẩy lưu thông hàng hoá. Tiếp theo đó, Pháp lệnh về hợp đồng kinh tế đã sớm được ban hành năm (1989), tạo khung khổ pháp lý cho các hành vi giao dịch kinh tế trên thị trường. Bộ luật dân sự (1995) và Luật thương mại (1997) cũng đã được đưa vào thực hiện, tạo giúp cho các giao dịch trên thị trường ngày càng trở nên sống động.

Đối với xuất – nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ, Việt Nam đã có những bước đổi mới ngay từ giai đoạn đầu cải cách với việc xoá bỏ chế độ độc quyền ngoại thương. Từ 1988 các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã được phép hoạt động xuất nhập khẩu, tiếp theo các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân cũng được kinh doanh xuất nhập khẩu (theo Luật Công ty). Thủ tục xin giấy phép xuất nhập khẩu cũng được đơn giản hoá từng bước. Việc ban hành Nghị định 57/NĐ-CP năm 1988 có thể coi là bước ngoặt của quá trình tự do hoá ngoại thương ở Việt nam, bởi nó đã chính thức khẳng định quyền tự do kinh doanh trong lĩnh vực ngoại thương. Bên cạnh đó, Nhà nước còn thực hiện nhiều biện pháp nới lỏng về quản lý ngoại hối, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp trong quá trình thanh toán với đối tác nước ngoài. Những rào cản phi thuế như chế độ quota, quy định đầu mối xuất nhập khẩu cũng dần được rỡ bỏ, thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt nam.

Song song với những biện pháp kể trên, trong những năm cuối của thập kỷ 80, Việt nam đã tiến hành những biện pháp cải cách rất mạnh mẽ trong lĩnh vực giá cả theo xu hướng hình thành hệ thống một giá tương ứng với giá thị trường. Năm 1992, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Quyết định 137- HĐBT về quản lý giá. Đây là những quy định pháp lý đầu tiên về quản lý giá trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế. Đúng 10 năm sau, UBTVQH đã ban hành Pháp lệnh giá nhằm tạo lập khung pháp luật cho việc quản lý giá trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Điều này đã tạo ra những tác động tích cực cho quá trình chuyển đổi nền kinh tế: bao cấp qua giá đã được huỷ bỏ đối với hầu hết các mặt hàng, giá cả trên thị trường hàng hoá, dịch vụ đã phản ánh được quan hệ cung – cầu và tạo được cơ sở cho quá trình ra quyết định đầu tư theo hướng sử dụng có hiệu quả hơn nguồn lực xã hội.

– Hình thành khung luật pháp cho việc xây dựng và vận hành thị trường các yếu tố sản xuất quan trọng nhất

Trong hơn 10 năm qua, Nhà nước Việt Nam đã cố gắng xây dựng khung pháp lý cho một số thị trường yếu tố quan trọng nhất được hình thành và bước đầu đưa vào vận hành. Đối với thị trường lao động: bộ Luật Lao động đã (năm 1994) đã tạo thành nền tảng pháp lý đầu tiên cho thị trường lao động bằng việc công nhận quyền tự do tìm việc làm và quyền lựa chọn người lao động – hai yếu tố cơ bản tạo ra quan hệ cung – cầu cho thị trường lao động. Cùng với nó, nhiều văn bản pháp lý khác cũng được ban hành để điều chỉnh những hành vi trên thị trường còn tương đối sơ khai này [3]. Dựa trên cơ sở đó, giao dịch trên thị trường lao động đã hình thành và từng bước phát triển, không chỉ riêng trong lãnh thổ Việt nam mà còn vươn ra cả phạm vi ngoài nước. Đối với thị trường bất động sản, thời gian vừa qua, bên cạnh việc ban hành Luật Đất đai (năm 1988, sửa đổi vào năm 1993 và 2003)[4], Luật Xây dựng (năm 2004), Nhà nước còn ban hành và bổ sung hệ thống các văn bản pháp lý, đề ra các chính sách sách liên quan đến việc điều chỉnh từng vấn đề cụ thể như: thị trường đất đai, thị trường nhà ở, v.v. Khung pháp lý cho thị trường vốn cũng dần được hoàn thiện: những năm đầu của cải cách, kinh tế Việt nam đã phải đương đầu với nạn lạm phát phi mã, hệ thống NHNN vừa có chức năng phát hành vừa có chức năng cung ứng nguồn tín dụng cho nền kinh tế. Chính vì vậy, việc chuyển đổi từ hệ thống ngân hàng một cấp sang hệ thống ngân hàng hai cấp là một bước đi cực kỳ quan trọng để kiềm chế lạm phát, đồng thời tạo cơ sở cho việc thực hiện chính sách tiền tệ tương ứng với cơ chế thị trường. Năm 1990, UBTVQH đã ban hành Pháp lệnh NHNN Việt nam và Pháp lệnh ngân hàng, HTX tín dụng và các công ty tài chính. Năm 1997, Quốc hội đã ban hành Luật NHNN Việt nam và Luật về các tổ chức tín dụng thay thế cho 2 Pháp lệnh trên. Với khung khổ pháp lý này, 4 NHTM quốc doanh đã được tách khỏi NHNN và hàng loạt các ngân hàng cổ phần, ngân hàng liên doanh và các chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã xuất hiện trên thị trường tài chính Việt nam. Đối với thị trường khoa học công nghệ (KHCN), lần đầu tiên, vấn đề bảo hộ quyền sở hữu công nghệ được đưa vào thành các quy định trong Bộ luật dân sự (1995). Tiếp đó, trong hơn một thập kỷ qua, với đường lối “coi KHCN là động lực của tăng trưởng”, nhiều cơ chế, chính sách cho hoạt động thị trường KHCN đã được thể chế hoá thành hệ thống các văn bản pháp quy nhằm điều chỉnh hành vi, sự tham gia, mối quan hệ qua lại giữa các tổ chức tham gia vào thị trường KHCN,… Một số văn bản quy phạm pháp luật quan trọng liên quan đến vận hành thị trường KHCN phải kể đến như: Luật KHCN (2000); Bộ Luật dân sự (1995); Bộ Luật hình sự (1999); Luật thương mại. Bên cạnh đó, còn có hàng trăm văn bản dưới luật cũng đã được ban hành. Đặc biệt, trong năm 2005 và 2006, đã ban hành hai luật quan trọng là Luật Sở hữu trí tuệ (2005) và Luật chuyển giao công nghệ (2006).

– Tạo dựng và làm hài hòa hệ thống luật pháp nhằm thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Sau khi Luật Đầu tư nước ngoài được ban hành, để thúc đẩy thu hút vốn đầu tư nước ngoài và tiến tới hài hòa luật pháp của Việt Nam với khung luật pháp quốc tế, Luật đầu tư nước ngoài đã được điều chỉnh, bổ sung và sửa đổi 4 lần (vào các năm 1990, 1992, 1996 và 2000). Ngoài Luật đầu tư nước ngoài, Việt Nam cũng đã tiếp tục bổ sung, điều chỉnh và hoàn thiện nhiều luật quan trọng khác như: Luật đất đai, Luật Lao động, Luật cạnh tranh,…theo hướng hỗ trợ hội nhập kinh tế quốc tế.

Trong quan hệ quốc tế, Chính phủ Việt Nam đã tích cực tham gia ký kết nhiều hiệp định thương mại song phương và đa phương với các nước và vùng lãnh thổ[5], gia nhập các tổ chức thương mại khu vực và quốc tế. Nhiều cam kết trong các Hiệp định như: xoá bỏ phân biệt đối xử giữa người tiêu dùng trong nước với người nước ngoài về giá, phí một số hàng hoá, dịch vụ[6]; giảm dần những hạn chế về chuyển giao công nghệ, quản lý ngoại hối, sử dụng đất đai,… một mặt đã góp phần giảm bớt những rào cản về thương mại, đầu tư quốc tế, mặt khác đã tạo “nền” cho việc tiếp tục hoàn thịên hệ thống pháp luật về đầu tư nước ngoài ở Việt Nam. Hiện nay để sớm có kết quả tốt trong việc đàm phán gia nhập WTO, Chính phủ Việt Nam đang tích cực, khẩn trương xây dựng, sửa đổi hệ thống luật pháp, chính sách hiện hành theo hướng mở cửa kinh tế thị trường, đáp ứng đòi hỏi của WTO. Đồng thời, việc tham gia tích cực hơn vào các thoả thuận, cam kết quốc tế, các nỗ lực làm hài hoà các quy tắc và chuẩn mực quốc tế đã góp phần đáng kể làm tăng tính thị trường của các thể chế kinh tế ở Việt Nam.

2.2 – Những yếu kém và tồn tại

Mặc dù đã có những cố gắng và nỗ lực như đã nói ở trên, nhưng nhìn chung hệ thống pháp luật kinh tế của Việt Nam vẫn tồn tại nhiều yếu kém, bất cập và vẫn chưa theo kịp nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội. Điều này thể hiện rõ nhất qua các thực tiễn như: (i) Hệ thống pháp luật còn thiếu toàn diện, chưa đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý đất nước bằng pháp luật. Nhiều nội dung quan trọng liên quan tới vấn đề đổi mới kinh tế – xã hội chậm được thể chế hoá như: vấn đề quản lý nhà nước đối với tài sản thuộc sở hữu nhà nước; về đăng ký kinh doanh bất động sản; cạnh tranh trung thực; kiểm soát độc quyền; v.v; (ii) Một số văn bản pháp luật quan trọng đã ban hành song hiệu lực thực thi chưa cao. Ví dụ, Luật Cạnh tranh, tuy được ban hành từ năm 2004, song hiệu lực thực thi còn thấp, vẫn còn nhiều khe hở để một số doanh nghiệp lạm dụng vị thế khống chế thị trường — điều đó đã làm tổn hại lợi ích của xã hội nói chung và những doanh nghiệp nhỏ nói riêng; (iii) Tính cụ thể, minh bạch, rõ ràng của nhiều luật còn thấp: Những sai phạm về hình thức văn bản vẫn xảy ra. Việc công bố, đăng tải, hướng dẫn các văn bản quy phạm pháp luật chưa được các cơ quan nhà nước chấp hành kịp thời và nghiêm chỉnh; (iv) Quy trình xây dựng pháp luật còn thiếu tính dân chủ, tính đại chúng: còn nhiều cứng nhắc và nhiều bất cập, cách phân công và thực hiện quy trình soạn thảo dễ dẫn đến tình trạng bảo vệ lợi ích cục bộ của ngành, địa phương; chưa thật sự vì lợi ích chung và vì sự thuận lợi của người dân; v.v.

3 – Đổi mới, sắp xếp lại các DNNN

3.1 Thành tựu

Một trong những hướng đổi mới quan trọng nhất đối với khu vực doanh nghiệp là việc thực hiện sắp xếp, đổi mới và áp dụng từng bước chế độ quản trị hiện đại đối với các DNNN. Những thành công đáng ghi nhận nhất trong lĩnh vực này là:

– Quá trình chuyển các DNNN sang tổ chức hoạt động cùng một mặt bằng pháp lý với các loại hình doanh nghiệp khác đang được thực hiện một các tích cực. Các quy định pháp lý trong Luật Doanh nghiệp đang được sửa đổi nhằm bảo đảm tính thực tiễn, sát thực và phù hợp.

– Mô hình quản trị DNNN đang được đổi mới trên cơ sở bảo đảm quyền của chủ sở hữu, hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp và cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế khác. Chức năng sở hữu nhà nước và chức năng quản lý nhà nước đang ngày càng được phân biệt, làm rõ. Nhà nước đang dần dần chuyển đổi phương thức quản lý doanh nghiệp từ phương thức đầu tư, sở hữu toàn bộ doanh nghiệp sang phương thức đầu tư, góp vốn để nắm giữ tỷ lệ cổ phần hoặc phần vốn góp chi phối. L

Quyền lợi hợp pháp của các đồng chủ sở hữu trong DNNN có vốn đầu tư của các thành phần kinh tế khác nhau ngày càng được tôn trọng và bảo đảm. Hiện tượng can thiệp của các cơ quan hành chính nhà nước đối với các quyết định hợp pháp, đúng luật, đúng điều lệ của doanh nghiệp ngày càng giảm, đặc biệt là đối với các công ty cổ phần được hình thành từ việc cổ phần hóa DNNN.

Việc chuyển đổi các tổng công ty sang mô hình công ty mẹ công ty con; hình thành và phát triển các loại tập đoàn kinh tế, chủ yếu là tập đoàn đa sở hữu trên cơ sở liên kết và đầu tư về vốn lẫn nhau giữa các doanh nghiệp, cổ phần hoá các tổng công ty; đồng thời khuyến khích tạo điều kiện cho việc phát triển các loại tập đoàn kinh tế trên cơ sở các công ty cổ phần, Cty TNHH, doanh nghiệp tư nhân đang ngày càng thu hút được sự chú ý của nhiều bên có liên quan.

Các quy phạm pháp luật về vấn đề liên kết kinh tế, hợp đồng liên kết nhằm nâng cao tính chuyên nghiệp và chuyên môn hóa cao cho các doanh nghiệp; minh bạch hóa hệ thống thông tin doanh nghiệp nhằm giảm rủi ro và chi phí cơ hội cho doanh nghiệp trong quá trình hình thành, ký kết và thực hiện liên kết kinh tế thông qua hợp đồng đang được nghiên cứu sửa đổi và bổ sung; tạo điều kiện hình thành và khuyến khích phát triển các hình thức liên kết kinh tế.

3.2 Các hạn chế và tồn tại

Tuy vậy, quá trình cải cách các DNNN hiện vẫn đang gặp nhiều khó khăn và hạn chế cần được khắc phục, trong đó quan trọng nhất phải kể đến là:

Các DNNN có quy mô lớn, nhưng hoạt động kém hiệu quả: Thực tế cho thấy DNNN đang nắm giữ 75% tài sản cố định của quốc gia, 20% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, gần 50% tổng vốn đầu tư nhà nước, 60% tổng lượng tín dụng ngân hàng trong nước, hơn 70% tổng vốn vay nước ngoài, trên 90% tổng các doanh nghiệp Việt Nam tham gia hợp tác đầu tư với nước ngoài và phần lớn nguồn nhân lực có chất lượng cao. Tuy nắm giữ nguồn lực lớn như vậy, nhưng năm 2003, trong số 77% doanh nghiệp nhà nước có lãi chỉ có chưa đầy 40% doanh nghiệp có mức lãi bằng hoặc cao hơn lãi suất cho vay của ngân hàng thương mại. Nhưng nếu đưa giá trị quyền sử dụng đất vào chi phí và cắt bỏ các khoản ưu tiên, ưu đãi của nhà nước thì số DNNN làm ăn có lãi còn ít hơn nhiều. Số thuế thu nhập doanh nghiệp chỉ là 8000 tỷ đồng trên tổng số 87.000 tỷ đồng nộp ngân sách nhà nước năm 2003 nói lên hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước rất thấp.

Mấy năm qua tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực DNNN ngày càng sa sút so với doanh nghiệp dân doanh (các con số tương ứng của năm 2003 là 12% và 18%; năm 2004 là 11,8% và 22,8% và quý I năm 2005 là 7,9% và 25,5%). Chi phí sản xuất công nghiệp cao, hạn chế mức tăng giá trị gia tăng. Giá trị sản xuất mấy năm gần đây tăng đến 15%/năm, nhưng giá trị gia tăng chỉ tăng trên dưới 10%/năm. Quý I năm 2004, mức tăng giá trị sản xuất công nghiệp là 14,4%, trong khi đó mức tăng giá trị gia tăng công nghiệp chỉ có 8,5%. Rõ ràng là nếu trước đây, để tăng được 1% giá trị gia tăng cần 1,5% giá trị sản xuất, thì con số này của Quý I năm 2005 đã lên tới 1,7%.

– Nhiều DNNN có trình độ công nghệ dưới mức trung bình của thế giới và khu vực: máy móc, thiết bị, dây chuyền sản xuất lạc hậu so với thế giới từ 10 đến 20 năm, 38% thiết bị chờ thanh lý. Tốc độ đổi mới công nghệ chậm (khoảng 10%/năm); các ngành công nghiệp có trình độ công nghệ cao, hiện đại, như điện tử, tin học mới chỉ chiếm vài phần trăm giá trị sản xuất công nghiệp; dịch vụ có hàm lượng trí tuệ cao chưa nhiều.

– Về giải quyết việc làm mới cho xã hội cũng không đáp ứng yêu cầu: trong vòng 11 năm qua từ năm 1992 đến hết năm 2003, cả nền kinh tế thu nhận được thêm 9 triệu lao động thì khu vực nhà nước chỉ tăng thêm có gần 200 nghìn người. Hiện chỉ có trên 2 triệu lao động làm việc trong khu vực DNNN.

– Năng suất lao động trong công nghiệp chưa có tiến bộ đáng kể: Số liệu về năng suất lao động xã hội của Tổng cục Thống kê 2002 cho thấy năng suất lao động thời kỳ 1996-2001 tăng bình quân mỗi năm 4,8%, chậm hơn tốc độ tăng GDP (7%) cùng kỳ. Năng suất lao động thấp, năm 2000 mới đạt khoảng 12 triệu đồng, tương đương 832 USD, thấp hơn Indonesia (1705 USD), Trung Quốc (1517 USD), Thái Lan (3701 USD), Philipine (2690). Trong các thành phần kinh tế, năng suất lao động của DNNN thấp hơn khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đến 2 lần.[7]

– Sức cạnh tranh cuả các DNNN còn rất yếu: Báo cáo "năng lực cạnh tranh toàn cầu" của của Diễn đàn kinh tế Thế giới năm 2004 xếp hạng năng lực cạnh tranh của 104 nước trong năm 2003-2004, trong đó năng lực cạnh tranh Việt Nam xếp thứ 77, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp Việt Nam xếp thứ 73. Trong đó, các DNNN chưa chứng minh được sự khác biệt về năng lực cạnh tranh so với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác.

Rõ ràng là, chất lượng phát triển của DNNN trong thời gian qua còn khoảng cách khá xa mới đáp ứng được yêu cầu vươn lên đi đầu trong ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ; năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế – xã hội và chấp hành pháp luật của DNNN chưa thể nói là tấm gương để các thành phần kinh tế khác noi theo. Hiệu quả và sức cạnh tranh thấp so với các nước là thách thức lớn khi ta hội nhập sâu và rộng vào nền kinh tế quốc tế và khu vực.

4. Đổi mới thể chế nhằm đẩy mạnh phát triển các loại hình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần

4.1- Các nỗ lực cải cách thể chế nhằm thúc đẩy phát triển khu vực doanh nghiệp dân doanh trong nước

Việc rà soát các giấy phép kinh doanh hiện hành và điều kiện kinh doanh đối với những ngành có điều kiện đang được tiếp tục, nhằm giảm bớt số lượng các ngành nghề, lĩnh vực thuộc danh mục ngành nghề cấm kinh doanh, hoặc kinh doanh có điều kiện.

– Những quy định hạn chế cạnh tranh, phân biệt đối xử, không còn phù hợp với kinh tế thị trường và cam kết quốc tế, trước hết về ngành nghề kinh doanh, vay vốn và đất đai, mở rộng các thị trường điện lực, viễn thông, hàng không, điện ảnh, báo chí, quảng cáo và thông tin kinh tế đang tiếp tục được rà soát, kiến nghị xoá bỏ hoặc sửa đổi. Các thủ tục hành chính trực tiếp liên quan đến khu vực doanh nghiệp như thủ tục hoàn thuế, hải quan, đất đai, xây dựng, công chứng…đang ngày càng được hoàn thiên theo hướng tập trung, đơn giản hoá, thực hiện chế độ công khai, minh bạch;

– Yêu cầu về việc hình thành một cơ quan đăng ký kinh doanh chung cho các loại hình doanh nghiệp, tăng cường năng lực cho cơ quan này đủ sức chịu trách nhiệm theo dõi tình hình phát triển, thực hiện “tiền kiểm, hậu kiểm” theo quy định của pháp luật đối với hoạt động của các loại hình doanh nghiệp đang được xem xét một cách tích cực;

– Quyền của các doanh nghiệp trong hoạt động xuất khẩu tiếp tục được mở rộng, các điều kiện, thủ tục xuất nhập khẩu cho doanh nghiệp, hộ gia đình ngày càng được được giảm bớt, các doanh nghiệp được quyền xuất khẩu những mặt hàng không cấm hoặc không hạn chế số lượng;

– Cơ chế, chính sách tạo điều kiện và tạo động lực cho doanh nghiệp chủ động tăng qui mô hoạt động thông qua tự tích luỹ và các biện pháp huy động vốn trên thị trường chứng khoán, phát triển hình thức công ty cổ phần được tích cực sửa đổi, bổ sung. Các quy định và thực hiện về hợp đồng liên kết của các doanh nghiệp, hợp tác, kể cả liên kết thầu phụ nói riêng đang được quan tâm hoàn chỉnh.

Nhờ vậy, khu vực kinh tế tư nhân đã thực sự được khuyến khích phát triển: hiện đã có trên 200 000 doanh nghiệp đăng ký hoạt động. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của thành phần này trong nền kinh tế hiện đang dẫn đầu: năm 2005, khu vực kinh tế tư nhân, cá thể đóng góp khoảng 39,9% tổng sản phẩm trong nước. Quan trọng hơn, chính khu vực này đã tạo ra phần lớn việc làm cho người lao động, góp phần giữ vững ôn định và trật tự xã hội.

4.2 – Đối với khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Thủ tục cấp phép đầu tư cho các doanh nghiệp có vốn ĐTNN đang ngày càng được đơn giản hóa, chế độ đăng ký cấp phép đầu tư cho những dự án trong các khu công nghệ cao, khu công nghiệp, các dự án không thuộc danh mục cấm hoặc hạn chế đầu tư được mở rộng.

– Hình thức thu hút vốn ĐTNN được đa dạng hóa thông qua đầu tư gián tiếp, mua lại, sát nhập; các hình thức pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng ngày càng nhiều thêm. Việc thu hút các tập đoàn xuyên quốc gia (TNC) vào hoạt động tại Việt Nam được đặt thành mục tiêu quan trọng. Cụ thể hoá và thu hẹp các lĩnh vực không cấp giấy phép đầu tư và điều kiện cấp phép đối với những lĩnh vực đầu tư có điều kiện, mở cửa các lĩnh vực dịch vụ có năng lực cạnh tranh thấp.

– Các quy định đặc thù đối với nhà đầu tư và doanh nghiệp có vốn ĐTNN đang được giảm dần và sẽ tiến tới xóa bỏ. Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp (ban hành năm 2005, có hiệu lực từ 1/7/2006) tạo ra cơ sở vững chắc cho việc thực hiện một mặt bằng pháp lý và điều kiện kinh doanh bình đẳng giữa các nhà đầu tư/ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với các nhà đầu tư và các doanh nghiệp trong nước.

Nhờ có những nỗ lực đó mà khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã và sẽ tiếp tục có bước phát triển, thực sự trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân.

4.3Đối với các chủ thể kinh tế nông nghiệp

Nhiều biện pháp hoàn thiện thể chế kinh tế cho các chủ thể kinh tế ở nông thôn đã được thực hiện:

– Các cải cách thể chế kinh tế đầu tiên trong lĩnh vực nông nghiệp là cải cách về quyền sử dụng đất nông nghiệp: hệ thống “khoán 100” năm 1981 đã cho phép các HTX nông nghiệp giao quyền sử dụng đất cho các hộ nông dân, cho họ quyền tự do định đoạt các sản phẩm do mình làm ra sau khi đã “nộp sản”. Tuy mới dừng ở mức rất khiêm tốn là giao đất theo từng năm, nhưng biện pháp cải cách thể chế kiểu “dò đá qua sông” này đã giúp làm tăng đáng kể năng suất nông nghiệp thời kỳ sau đó. Những cải cách của “khoán 10”, được thực hiện vào năm 1988, tức là ngay sau “Đổi mới” đã giúp người nông dân Việt Nam có nhiều quyền hạn hơn đối với đất đai (7 quyền như: quyền được sử dụng đất theo các mục tiêu xác định, quyền thế chấp, chuyển nhượng, thừa kế, cho thuê, v.v) và quyền được tự định đoạt sản phẩm do mình làm ra đã thực sự “cởi trói” cho người nông dân. Kết quả là năng suất nông nghiệp tăng vọt: chỉ trong vài năm, đã biến Việt Nam từ một nước nhiều năm phải nhập khẩu gạo thành một trong các nhà xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Đã có những ước tính cho rằng trên 80% mức tăng trưởng trong những năm 1990 là nhờ vào các cải cách này.[8]

Luật đất đai được thông qua năm 1993 và tiếp tục được sửa đổi, bổ sung trong năm 2003 là các bước tiến dài theo hướng cải cách thể chế liên quan đến đất đai, các quyền về sở hữu và quyền sử dụng đất cho các bên tham gia thị trường, trong đó, nông dân và các chủ thể kinh tế nông nghiệp khác là những người được hưởng lợi trực tiếp và chính yếu. Cùng với các cải cách về quyền sử dụng đất đai, quyền tự do được mở rộng trong việc trao đổi nông sản, cả trong và ngoài nước, đã khuyến khích đáng kể năng suất của ngành nông nghiệp.

– Các thể chế tín dụng cho nông nghiệp và nông thôn cũng đã được cải thiện đáng kể: Ngân hàng Nông nghiệp đã được thành lập nhằm vào đối tượng chính là các hộ và doanh nghiệp trong khu vực nông nghiệp và nông thôn. Bên cạnh đó, Ngân hàng phát triển nhà Đồng bằng sông Cửu Long cũng được đưa vào hoạt động nhằm mục tiêu hỗ trợ cho các đối tượng đặc biệt tại khu vực kinh tế này. Các chính sách tín dụng cũng đã có những đổi mới cơ bản: để đáp ứng yêu cầu mở rộng đầu tư ở khu vực nông nghiệp, nông thôn, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 67/QĐ/TTg về một số chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp – nông thôn, trong đó có những quy định mới về nới lỏng các quy định về đảm bảo tiền vay ngân hàng, đối tượng cho vay và mục tiêu sử dụng, đã có vai trò rất quan trọng trong việc tạo điều kiện thuận lợi hơn cho nông dân trong tiếp cận và sử dụng vốn tín dụng ngân hàng.

5 . Cải cách hành chính

5.1. Đổi mới trong cơ cấu Chính phủ

Ngay từ khi bắt đầu công cuộc cải cách, ngày16/12/1987 Hội đồng Nhà nước ban hành Nghị quyết số 782-NQ/HĐNN7 về kiện toàn một bước cơ quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng. Theo đó, nhiều Bộ chuyên ngành đã được sáp nhập vào để có chức năng tổng hợp hơn[9]. Đặc biệt, theo Nghị quyết này, Uỷ ban Quan hệ kinh tế với nước ngoài đã được thành lập trên cơ sở Luật đầu tư nước ngoài nhằm thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với các hoạt động đầu tư nước ngoài.

Trong những năm tiếp theo, Hội đồng Nhà nước và Quốc hội đã ban hành thêm một số quyết định về đổi mới hệ thống tổ chức bộ máy theo hướng gọn nhẹ hơn, các bộ có chức năng quản lý tổng hợp hơn. Ví dụ: Nghị quyết 66/HĐNN8 ngày 24/3/1988[10]; Nghị quyết số 244 NQ/HĐNN8 ngày 31-3-1990 của HĐNN[11]. Như vậy, trong giai đoạn đầu của quá trình chuyển đổi nền kinh tế, bộ máy quản lý nhà nước đã có một số thay đổi để từng bước đáp ứng được phương thức quản lý nhà nước mới phù hợp với cơ chế thị trường. Năm 1992, Quốc hội đã ban hành Hiến pháp mới, thay đổi cơ bản phương thức hoạt động của Nhà nước Việt nam. Ngày 30/9/1992, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết quy định cơ cấu Chính phủ bao gồm 20 Bộ và 7 cơ quan ngang bộ.

Ngày 25/12/2001, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 51/2001/QH10 sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992. Theo Hiến pháp (sửa đổi) này, Quốc hội đã ra Nghị quyết số 02/2002/QH11 (ngày 5/8/2002), quy định cơ cấu Chính phủ bao gồm thành phần là 20 bộ và 6 cơ quan ngang bộ. Do có sự thay đổi về cơ cấu Chính phủ và chức năng của từng bộ, trong 2 năm tiếp theo, Chính phủ đã ban hành hàng loạt các Nghị định quy định lại tổ chức, chức năng và nhiệm vụ của các Bộ, ngành. Cơ cấu tổ chức Chính phủ cũng được điều chỉnh một bước: một số Bộ, cơ quan ngang bộ được thành lập mới (bộ Tài nguyên và môi trường, bộ Bưu chính Viễn thông, ủy ban dân số Gia đình và trẻ em); điều chỉnh và đổi tên một số bộ, cơ quan ngang bộ (như Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nội Vụ, Thanh tra Chính phủ, ủy ban dân tộc). Cơ cấu tổ chức bộ máy bên trong của các bộ, ngành cũng được kiện toàn trở nên phù hợp hơn với các chức năng, nhiệm vụ mới.

Tất cả những thay đổi trên đều thực hiện nhằm thiết lập bộ máy hành chính công có hiệu quả, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho sự tham gia của người dân và các tác nhân thị trường khác vào phát triển kinh tế – xã hội. Bộ máy quản lý kinh tế trong hệ thống hành pháp đã bước đầu được tổ chức lại theo hướng hình thành các Bộ quản lý tổng hợp, thu gọn đầu mối các cơ quan trực thuộc Chính phủ; Phân cấp giữa các cấp chính quyền trong quản lý kinh tế đã được đổi mới từng bước; tạo dựng một số thể chế và tổ chức mới; thủ tục hành chính bước đầu được đơn giản hoá, tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư cả trong nước và nước ngoài; thu hẹp các chức năng can thiệp vào hoạt động kinh doanh, tăng thêm những nhiệm vụ hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển sản xuất.

5.2 – Đổi mới quản lý nhà nước về kinh tế

Song song với những cải cách cơ cấu tổ chức trong hệ thống bộ máy quản lý Nhà nước về kinh tế, Chính phủ Việt Nam cũng đã từng b­ước điều chỉnh chức năng quản lý nền kinh tế theo hướng gần hơn với cơ chế thị trường. Nhờ đó, chức năng quản lý nhà n­ước về kinh tế đã có sự thay đổi cơ bản, cả về lí luận lẫn trên thực tiễn

– Về mặt lý luận, Đại hội Đảng lần thứ VII đề ra nhiệm vụ “bộ máy nhà n­ước từng bư­ớc chuyển sang chức năng quản lý nhà nư­ớc, khắc phục dần sự can thiệp vào điều hành kinh doanh” và đề ra phương hư­ớng “Nhà nư­ớc quản lý kinh tế theo định hư­ớng, dẫn dắt, tạo môi tr­ường và điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh, ….đảm bảo hài hoà giữa phát triển kinh tế và xã hội…”. Đại hội Đảng lần thứ VIII, bên cạnh yêu cầu phải “nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý kinh tế của Nhà nư­ớc”, còn đề ra phương hư­ớng “Nhà nư­ớc định hư­ớng phát triển, trực tiếp đầu tư­ vào một số lĩnh vực, thiết lập khuôn khổ pháp luật, xây dựng chính sách nhất quán, phân phối lại thu nhập, hạn chế tiêu cực của cơ chế thị trư­ờng …”. Đại hội IX chỉ đạo “tiếp tục đổi mới các công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế. Đổi mới hơn nữa công tác kế hoạch hoá, nâng cao công tác xây dựng chiến l­ược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội”.

Trên thực tế, nhiều biện pháp đổi mới chức năng quản lý Nhà nước cụ thể, phù hợp hơn với cơ chế thị tr­ường đã được thực hiện. Nội dung đổi mới chủ yếu của quản lý nhà n­ước về kinh tế là: tách bạch chức năng quản lý nhà nước về kinh tế của các cơ quan nhà nư­ớc, chức năng chủ sở hữu DNNN của Nhà n­ước ra khỏi chức năng quản trị kinh doanh của doanh nghiệp; chuyển từ quản lý cụ thể các hoạt động của nền kinh tế sang quản lý tổng thể nền kinh tế quốc dân; chuyển từ can thiệp trực tiếp vào nền kinh tế sang can thiệp gián tiếp thông qua hệ thống pháp luật, kế hoạch, cơ chế chính sách và các công cụ điều tiết vĩ mô. Hộp 1 tóm tắt những biện pháp đổi mới cụ thể đã được thực hiện trên tất cả các phương diện của chức năng kinh tế của Nhà nước trong thời gian gần đây.

Hộp 1: Một số biện pháp đổi mới chức năng kinh tế của Nhà nước

(1) Đổi mới phương thức quản lí Nhà nước đối với nền kinh tế

o Ban hành, sửa đổi, bổ sung nhiều luật, pháp lệnh mới cho phù hợp với sự vận động của nền kinh tế thị trư­ờng. Đặc biệt, Luật Doanh nghiệp (năm 1999) với tư­ tưởng đột phá là chuyển từ việc quy định công dân chỉ đ­ược hoạt động kinh doanh khi “Nhà n­ước cho phép” sang chính thức công nhận công dân đư­ợc tự do kinh doanh ở những lĩnh vực “Pháp luật không cấm”. Điều này đã và sẽ góp phần cải thiện mạnh mẽ đến mối quan hệ giữa Nhà n­ước và thị trường.

o Tạo khung khổ pháp luật và chính sách để mở rộng thị tr­ường trong n­ước cũng như thị tr­ường nư­ớc ngoài cho hàng hoá và dịch vụ của Việt Nam, mở rộng kênh l­ưu thông hàng hoá và dịch vụ trong nư­ớc; mở rộng quyền tham gia xuất nhập khẩu, xúc tiến thư­ơng mại; mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại; thực hiện hội nhập khu vực và quốc tế v.v…

o Từng bước chuyển kế hoạch hoá từ kế hoạch chi tiết, hiện vật sang kế hoạch mang tính chất định h­ướng là chính, với trọng tâm là xây dựng chiến l­ược tổng thể phát triển kinh tế, xã hội 10 năm, kế hoạch 5 năm và chú trọng hơn tới công tác dự báo, kể cả dự báo hàng tháng, hàng quý.

o Đổi mới chính sách tài chính: Hệ thống thuế đ­ược đổi mới theo hư­ớng tạo sự bình đẳng về nghĩa vụ nộp thuế giữa các loại hình doanh nghiệp; thực hiện cơ cấu lại và đổi mới chính sách chi tiêu của NSNN theo hư­ớng kết hợp giữa nguồn tài chính nhà nư­ớc với việc phát huy các nguồn lực của các tầng lớp dân cư­ để phát triển kinh tế, bư­ớc đầu thực hiện chính sách xã hội hoá các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá v.v… song còn thiếu cơ chế thích hợp;

o Chính sách tiền tệ – tín dụng đã từng b­ước đ­ược đổi mới theo hướng dựa nhiều hơn vào thị trư­ờng, bớt dần sự can thiệp hành chính trực tiếp của Nhà nư­ớc. Hệ thống ngân hàng đã đ­ược đổi mới một bư­ớc, chuyển từ một hệ thống ngân hàng duy nhất thành hệ thống ngân hàng 2 cấp, tách chức năng quản lý nhà nư­ớc của Ngân hàng trung ương với chức năng kinh doanh của ngân hàng thuơng mại và các tổ chức tài chính phi ngân hàng khác; hình thành hệ thống các tổ chức tín dụng với sự tham gia của mọi thành phần kinh tế; từng bư­ớc thực hiện chính sách lãi suất và chính sách tỷ giá linh hoạt hơn theo cung cầu trên thị tr­ường, kết hợp với áp dụng chính sách tín dụng ­ưu đãi (chủ yếu cho đầu t­ư phát triển) và hỗ trợ lãi suất cho các mục tiêu cần khuyến khích phát triển.

(2) Đổi mới chức năng “nhà kinh doanh, nhà đầu tư” của Nhà nước

o Nhà n­ước giảm mạnh tham gia trực tiếp vào hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời thực hiện can thiệp vào hoạt động này thông qua chính sách đầu t­ư vào các DNNN công ích và các DNNN kinh doanh thuộc những lĩnh vực đặc biệt quan trọng;

o Củng cố và phát triển kinh tế Nhà nước, thông qua việc chú trọng các ngành, lĩnh vực then chốt để bảo đảm vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước (ví dụ: Chính phủ đã ban hành tiêu chí, danh mục các ngành, lĩnh vực sản phẩm và dịch vụ trong đó Nhà nước nắm 100% vốn điều lệ);

o Đầu t­ư của Nhà nư­ớc đư­ợc định hướng tập trung hơn vào phát triển cơ sở hạ tầng và vào những lĩnh vực mà t­ư nhân không muốn hoặc chư­a có khả năng đầu tư, trên cơ sở đó tạo thêm thuận lợi cho cơ chế thị trư­ờng phát huy tác dụng.

(3) Đổi mới trong chức năng bảo đảm phúc lợi

o Chính sách phân phối đã có bư­ớc chuyển ban đầu từ phư­ơng thức phân phối bình quân, phân phối theo tiêu chuẩn hiện vật sang thực hiện nhiều hình thức phân phối đa dạng: phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế; phân phối theo mức vốn đóng góp; phân phối thông qua phúc lợi xã hội. Đã bư­ớc đầu thực hiện chính sách điều tiết thu nhập, tuy còn ở phạm vi hẹp.

o Đã chú ý thực hiện tốt hơn các chính sách đền ơn đáp nghĩa và chính sách xã hội. B­ước đầu thực hiện cơ chế Nhà nư­ớc và nhân dân cùng làm trong nhiều lĩnh vực như:­ y tế, giáo dục, phát triển hệ thống đ­ường giao thông và mạng l­ưới phân phối điện ở nông thôn v.v… Hình thành hệ thống bảo hiểm xã hội cho ngư­ời lao động thuộc mọi thành phần kinh tế theo hướng tách bạch rõ trách nhiệm của các chủ thể tham gia, loaị bỏ dần các hình thức bao cấp của Nhà nư­ớc; Tổ chức thực hiện có kết quả rõ rệt các chư­ơng trình quốc gia; Có các giải pháp hiệu quả hơn trong đấu tranh phòng chống các tệ nạn xã hội nh­ư: ma tuý, phòng chống tai nạn giao thông,v.v.

Tuy còn có những hạn chế, yếu kém (thể hiện trong việc phân định chưa thật rõ vai trò quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường; hoặc qua năng lực còn hạn chế của bộ máy quản lý kinh tế của Nhà nước), song, chính nhờ có những nỗ lực kể trên mà mối quan hệ Nhà nước – thị trường – doanh nghiệp có sự thay đổi cơ bản theo hướng Nhà nước điều tiết vĩ mô, thị trường điều tiết doanh nghiệp.

4.3 Đổi mới công tác kế hoạch hóa

Công tác kế hoạch hoá cũng đã có nhiều đổi mới, góp phần cải thiện vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường và thúc đẩy quá trình đổi mới kinh tế nói chung. Về mặt luật pháp, Chính phủ Việt Nam đang chuẩn bị trình lên Quốc hội dự thảo Luật về công tác kế hoạch hoá. Nếu được phê chuẩn, Luật này sẽ trở thành khung pháp lý quan trọng cho hoạt động của các cơ quan kế hoạch. Trên thực tế, mặc dù vẫn còn nhiều vấn đề liên quan đến nội dung và quy trình xây dựng các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch, cũng như một số tồn tại, bất cập trong việc điều hành thực hiện kế hoạch, v.v. những thành tựu cơ bản trong lĩnh vực kế hoạch đã ngày càng thể hiện rõ nét qua các khía cạnh sau:

o Kế hoạch định hướng phát triển 5 năm đang ngày càng trở thành trọng tâm của công tác kế hoạch, được xây dựng trên cơ sở chiến lược phát triển kinh tế – xã hội dài hạn, định rõ cho từng thời kỳ phát triển;

o Hệ thống chỉ tiêu kế hoạch được thay đổi một cách cơ bản, thu hẹp dần các chỉ tiêu hiện vật, đồng thời mở rộng thêm các chỉ tiêu giá trị;

o Qúa trình lập kế hoạch đã được đổi mới từng bước theo hướng dân chủ và công khai, thu hút nhiều hơn sự tham gia của người dân và các bên có liên quan;

o Việc điều hành kế hoạch cũng chuyển dần từ can thiệp vi mô sang duy trì các cân đối vĩ mô, sử dụng các công cụ gián tiếp; phương pháp kế hoạch hoá theo chương trình mục tiêu nhằm giải quyết những vấn đề bức xúc nhất về kinh tế – xã hội đang dần được hoàn thiện;

o Công tác điều hành kế hoạch đã hướng tới các kết quả thiết thực hơn: đã kịp thời phát hiện và xử lý tốt hơn những diễn biến bất thường xuất hiện do tác động của nền kinh tế thế giới, khu vực và của đời sống kinh tế – xã hội trên các vùng khác nhau ở Việt Nam;

o Công tác quy hoạch phát triển đã được tăng cường, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển một số ngành, lĩnh vực, vùng và các địa phương.

o Vai trò của Nhà nước và của công tác kế hoạch hoá trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước được đổi mới và ngày càng được khẳng định vững chắc.

5. Xây dựng và phát triển các loại thị trường yếu tố sản xuất

Trong hơn một thập kỷ qua, nhiều nỗ lực nhằm đặt nền móng cho hệ thống thể chế thị trường các yếu tố ở Việt Nam đã và đang được thực hiện. Bên cạnh các nỗ lực xây dựng khung luật pháp (phần 2.1 trên đây), nhiều hoạt động thực tiễn đã và đang được xúc tiến tích cực, nhờ đó, các thị trường yếu tố cơ bản đã được hình thành và bắt đầu vận hành.

5.1 Thị trường lao động:

Là loại thị trường yếu tố sản xuất được hình thành và thực sự đi vào hoạt động sớm nhất ở Việt Nam, bắt đầu từ các nỗ lực đổi mới căn bản nhận thức về thị trường lao động: nếu trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, lao động không được coi như một hàng hoá, sự tồn tại của thị trường lao động không được pháp luật thừa nhận, thì nay, thị trường lao động đã được chính thức thừa nhận là một trong những thị trường yếu tố sản xuất quan trọng nhất. Bước tiếp theo là tạo dựng hệ thống “cơ sở hạ tầng” cho thị trường lao động: bao gồm từ các cơ sở giới thiệu, giao dịch về việc làm (năm 2004, đã có gần 200 trung tâm giới thiệu việc làm, thuộc các cơ quan của bộ LĐ-TB-XH, hoặc các tổ chức, đoàn thể xã hội), đến các siêu thị lao động, “chợ lao động”, v.v. Đây chính là nơi người lao động cần tìm việc làm và người sử dụng lao động cần người làm việc có thể “gặp” nhau để thực hiện các giao dịch về sức lao động, hoặc là nơi để các trường đào tạo nghề có thể nắm bắt nhu cầu về các loại nghề nghiệp và thực hiện việc tuyển sinh. Đồng thời, nhiều công ty môi giới lao động cho xuất khẩu đã xuất hiện, làm cầu nối cho người lao động muốn tìm việc làm có thu nhập cao hơn ở nước ngoài và các doanh nghiệp nước ngoài có nhu cầu tuyển dụng lao động từ Việt Nam có thể gặp gỡ nhau. Một số biện pháp cải tiến cụ thể liên quan đến thị trường lao động được tóm tắt tại Hộp 2 dưới đây.

Nhờ đó, thị trường lao động đã chính thức đi vào cuộc sống và từng bước phát triển, không chỉ riêng trong lãnh thổ Việt nam mà còn vươn ra cả phạm vi ngoài nước. Nguồn nhân lực, vì thế, đã được sử dụng một cách có hiệu quả hơn.

Hộp 2

Một số biện pháp cụ thể hỗ trợ sự phát triển của thị trường lao động

§ Ban hành và thực thi các văn bản pháp lý tạo điều kiện cho việc tự do trao đổi sức lao động trên thị trường; bảo vệ quyền lợi của cả người lao động và người sử dụng lao động, thuộc mọi thành phần kinh tế;

§ Hình thành quỹ bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động theo hướng Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động cùng đóng góp;

§ Bước đầu khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia phát triển hàng hóa sức lao động (ví dụ: tham gia vào việc đào tạo, xuất khẩu lao động);

§ Tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra của Nhà nước và xử lý kịp thời vi phạm pháp luật lao động;

§ nâng cao vai trò đại diện của Công đoàn trong việc xây dựng và thực hiện khung chính sách về lao động;

§ Tạo dựng và đa dạng hóa các loại hình “thể chế thị trường lao động cứng” như chợ lao động, triển lãm việc làm, các trung tâm giới thiệu việc làm; v.v. và các cơ chế thị trường thuận lợi khác nhằm giúp đỡ những người có khả năng lao động, nhất là những người trẻ tuổi, được đào tạo, tìm được công ăn việc làm với mức trả công xứng đáng.

5.2 Thị trường bất động sản

Trong những năm gần đây, đã có nhiều thay đổi được thực hiện đối với thị trường bất động sản ở Việt Nam. Bên cạnh những đổi mới về khung luật pháp, đã có nhiều thay đổi tích cực về quản lý nhà nước đối với loại thị trường này: năm 2004, Bộ Tài nguyên và Môi trường chính thức được thành lập, với một trong những chức năng quan trọng là thực thi việc quản lý nhà nước đối với thị trường bất động sản, trong đó có đất đai, nhà ở và các công trình trên đất khác. Cho đến nay, đã có nhiều biện pháp và sáng kiến đã được thực hiện nhằm làm cho các hoạt động của thị trường BĐS đi theo hướng phục vụ cho tăng trưởng kinh tế và đảm bảo công bằng xã hội (xem Hộp 3). Nhờ đó, thị trường BĐS đang trở thành một trong những thị trường có hoạt động sôi động nhất trong những năm gần đây.

Hộp 3

Một số biện pháp cụ thể nhằm hỗ trợ sự phát triển Thị trường BĐS

· Xác định rõ các quyền về đất đai của người sử dụng, các biện pháp và chế tài bảo đảm thực hiện dễ dàng các quyền đó; Tạo cơ sở pháp lý thuận lợi về cho thuê và chuyển quyền sử dụng đất.

· Thực hiện cơ chế mọi doanh nghiệp đều phải mua quyền sử dụng đất hoặc thuê đất khi có nhu cầu sử dụng;

· Phân cấp mạnh hơn cho Uỷ ban nhân dân các cấp trong việc quản lý đất đai;

· Nâng cao tính công khai, minh bạch trong quy hoạch sử dụng đất, bảo đảm tính pháp lý của quy hoạch khi được thông qua;

· Thống nhất chế độ đăng ký bất động sản và giấy tờ liên quan đến bất động sản.

· Bãi bỏ nhiều quy định hạn chế khả năng chuyển dịch bất động sản.

Tuy nhiên, liên quan tới thị trường BĐS hiện còn có quá nhiều vấn đề thể chế cần được xem xét. Trong đó trước hết phải kể đến là các vấn đề liên quan đến hệ thống luật pháp, bộ máy thực thi pháp luật bất động sản, và sự thiếu vẵng các “thể chế thị trường cứng”, được công nhận chính thức ở Việt Nam. Việc thiếu vắng một đạo luật về đăng ký và kinh doanh bất động sản – cơ sở pháp lý tối cần thiết để điều chỉnh sự vận hành của loại thị trường quá nhạy cảm và rất phức tạp này – cũng chính là hạn chế rất lớn hiện nay.

5.3 Thị trường tài chính

Sự phát triển thị trường tài chính Việt Nam thời gian qua đã có những kết quả rất đáng khích lệ. Cụ thể là: (i) các cấu thành cơ bản của thị trường này đã được hình thành. Một loạt các định chế mới như: công ty chứng khoán, công ty tài chính, công ty bảo hiểm nhân thọ,… đã được xây dựng và bắt đầu hoạt động; (ii) hệ thống ngân hàng và tín dụng ngân hàng đã và đang có những thay đổi căn bản theo hướng tích cực. Vai trò và năng lực của NHNN, NHTM đã dần được cải thiện, tiếp cận với các hình thức kinh doanh hiện đại; (iii) thị trường tài chính trong nước đã dần từng bước hoà hợp với thị trường quốc tế. Các nguyên tắc quản lý tài chính tiên tiến, các chuẩn mực quốc tế về tính minh bạch, kế toán, kiểm toán,… đã và đang từng bước được thể chế hoá và vận dụng trong thực tế và (iv) các cơ quan quản lý Nhà nước và các định chế tài chính (NHNN, Bộ Tài chính, UBCKNN,…) đã dần được thể chế hoá và có sự phối hợp tác nghiệp chặt chẽ hơn.

Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể thì thị trường tài chính Việt Nam vẫn chưa theo kịp và đáp ứng được những đòi hỏi của đời sống kinh tế – xã hội. Thị trường tài chính nói chung, thị trường tiền tệ và thị trường vốn nói riêng, còn ở trình độ phát triển thấp, thị trường chứng khoán mới ra đời còn nhỏ bé và yếu kém. Hiện nay, nhiều thị trường thứ cấp ở Việt Nam vẫn chưa phát triển, mối liên kết, tác động qua lại giữa các thị trường trong hệ thống còn thiếu chặt chẽ, hệ thống ngân hàng còn tiềm ẩn nhiều rủi ro; tính minh bạch thông tin chưa thường xuyên được đảm bảo… Ngoài ra, hệ thống pháp lý hiện hành vẫn chưa tạo điều kiện để đảm bảo tính độc lập cần thiết của NHTW và cũng chưa nới lỏng điều kiện gia nhập thị trường tài của các nhà đầu tư trong lĩnh vực này, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài. Hệ thống pháp lý trong lĩnh vực tín dụng còn thể hiện sự phân biệt đối xử tương đối rõ nét giữa các nhà cung ứng tín dụng cũng như giữa khách hàng của các tổ chức tín dụng[12].

5.4. Thị trường khoa học công nghệ

Trong hơn một thập kỷ qua, với đường lối “coi KHCN là động lực của tăng trưởng”, nhiều cơ chế, chính sách cho hoạt động thị trường KHCN đã được thể chế hoá thành hệ thống các văn bản pháp quy nhằm điều chỉnh hành vi, sự tham gia, mối quan hệ qua lại giữa các tổ chức tham gia vào thị trường KHCN. Tuy vậy, trên thực tế, so với các thị trường yếu tố sản xuất khác thì thị trường KHCN còn rất sơ khai. Nếu quan sát thị trường KHCN ở Việt Nam trong vài năm qua, rõ ràng có thể thấy: trình độ công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn rất thấp; các giao dịch trên thị trường KHCN còn nghèo nàn (các doanh nghiệp chủ yếu tham gia vào giao dịch mua bán máy móc mà chưa tham gia vào giao dịch có hàm lượng KHCN cao như: mua bán bản quyền sáng chế, hợp đồng nghiên cứu và triển khai,…); cung trên thị trường KHCN từ các doanh nghiệp và tổ chức KHCN nước ngoài nhiều, nhưng chi phí quá cao so với khả năng tài chính của doanh nghiệp. Do vậy, đến nay đã có nhiều ý kiến cho rằng thị trường khoa học công nghệ thực sự còn chưa được hình thành ở Việt Nam[13]. Trong khi đó, loại thị trường yếu tố này là bộ phận cấu thành không thể thiếu để đảm bảo tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.

6. Mở cửa và hội nhập

Bên cạnh những nỗ lực về cải thiện khung pháp lý nhằm tạo dựng mới và/ hoặc làm hài hòa hệ thống luật pháp (xem phần 2.1 trên đây), Chính phủ Việt Nam đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó, quan trọng phải kể đến là:

– Tiến hành rộng rãi công tác tuyên truyền, giải thích trong các tổ chức chính quyền, đoàn thể, doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân về hội nhập kinh tế quốc tế, nhằm nâng cao nhận thức về tầm quan trọng, về các cơ hội và thách thức của quá trình này;

– Tích cực chuẩn bị cho việc xây dựng Chiến lược tổng thể về hội nhập kinh tế quốc tế với một lộ trình cụ thể để các ngành, các địa phương, doanh nghiệp dựa vào đó mà sắp xếp lại cơ cấu, chiến lược kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, bảo đảm hội nhập có hiệu quả hơn;

– Thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát huy tối đa lợi thế cạnh tranh của ngành hoặc của quốc gia, nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, tạo ra những sản phẩm mũi nhọn, có khả năng chiếm lĩnh thị trường quốc tế.

– Tiếp tục sắp xếp lại, đổi mới DNNN theo hướng nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp này;

– Chú trọng việc đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề, tinh thông nghiệp vụ, có tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động cao. Quan tâm nhiều hơn đến việc đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý và kinh doanh; bước đầu bắt tay xây dựng và đưa vào thực hiện một số chính sách về thu hút và sử dụng nhân tài;

– Tăng cường hoạt động kinh tế đối ngoại theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa thị trường và các đối tác, tham gia tích cực vào hoạt động của các tổ chức quốc tế, nhằm nâng cao thế và lực của Việt Nam.[14]

– Thực hiện mọi nỗ lực nhằm sớm kết thúc đàm phán để gia nhập WTO theo các phương án và lộ trình hợp lý, phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam và các yêu cầu của các đối tác quốc tế.

– Thành lập và kiện toàn UBQG về hợp tác kinh tế quốc tế, nhằm giúp Thủ tướng Chính phủ tổ chức, chỉ đạo các hoạt động hội nhập.

Nhờ đó, hội nhập kinh tế quốc tế trong những năm qua có bước tiến quan trọng. Quan hệ quốc tế được mở rộng, các cam kết quốc tế được triển khai thực hiện tốt; đồng thời đã tiến hành ký kết nhiều hiệp định đa phương, song phương, tạo bước phát triển mới về kinh tế đối ngoại. Theo báo cáo của bộ Kế hoạch và Đầu tư (năm 2005), thị trường xuất khẩu được duy trì và mở rộng; tổng kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh (16,2%/năm), chiếm trên 50% GDP và đạt 370 USD/người. Nguồn vốn tài trợ phát triển chính thức (ODA) liên tục tăng qua các năm, kể cả trong điều kiện kinh tế thế giới gặp nhiều khó khăn: tổng giá trị các hiệp định đã được ký kết trong thời kỳ 2001 -2005 đạt khoảng 14,7 tỷ USD, trong đó vốn viện trợ không hoàn lại chiếm 15-20%. Nguồn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) tăng khá, nhờ môi trường đầu tư tiếp tục được cải thiện thông qua việc sửa đổi, bổ sung các chính sách. Trong 5 năm 2001-2005 tổng vốn đăng ký vẫn đạt 17,9 tỷ USD, vượt 19,3% mục tiêu đề ra. Tổng vốn thực hiện đạt 13,6 tỷ USD (so với mục tiêu đề ra là 11 tỷ USD), tăng 12,5% so với thời kỳ trước.

Tuy vẫn còn những khó khăn cần sớm được khắc phục (ví dụ: xuất khẩu chủ yếu vẫn là các nhóm hàng nguyên liệu, hoặc gia công, có giá trị gia tăng thấp; hoặc những chậm trễ trong việc giải ngân làm giảm hiệu quả sử dụng ODA), những thành tựu nói trên vẫn là các yếu tố đáng ghi nhận, nếu tính đến một thực tế là Việt Nam mới đang ở giai đoạn chuẩn bị và thử nghiệm các thể chế mới cho một sự hội nhập kinh tế thực sự và toàn diện.

Rõ ràng là, nhờ những nỗ lực của 20 năm đổi mới, đặc biệt là trong 5 năm vừa qua (nhất là các năm 2004 và 2005), Việt Nam đã hình thành được các thể chế kinh tế thị trường ban đầu. Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng mặc dù đã đạt được một số kết quả bước đầu đáng khích lệ, song Việt Nam vẫn đang phải đối mặt với không ít những khó khăn do thiếu vắng cơ sở lý luận và các tiền lệ lịch sử. Do vậy, nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện khung thể chế cho nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đang và sẽ tiếp tục được coi là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của Chính phủ Việt Nam.

Mục tiêu của nhiệm vụ này không phải là tạo ra một nền kinh tế thị trường khác, mà là sử dụng các ưu thế của kinh tế thị trường hiện có như một “công cụ” để phát triển kinh tế đất nước, trong khi định hướng XHCN được trao vai trò là “kim chỉ nam” để hướng các chủ thể kinh tế thị trường vận động theo huớng đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội tối đa. Các thử nghiệm về đổi mới thể chế ban đầu đã cho thấy rất rõ rằng thể chế kinh tế thị trường không phải là phạm trù bất biến, mà là thường xuyên biến đổi: việc Nhà nước, thị trường, doanh nghiệp ở Việt Nam cần đảm nhiệm vai trò nào trong quá trình vận hành nền kinh tế phụ thuộc rất nhiều vào trình độ phát triển của chính nền kinh tế đó ở từng thời điểm. Nếu kinh tế thị trường càng phát triển, năng lực tự điều chỉnh càng cao thì càng ít cần sự can thiệp của Nhà nước. Ngược lại, nếu nền kinh tế này đang còn tiểm ẩn nhiều rủi ro, nhiều sự bất định, trong khi thị trường với các doanh nghiệp cấu thành lại chưa đủ sức tự xử lý các rủi ro này một cách hiệu quả, thì Nhà nước Việt Nam vẫn sẽ cần phải duy trì vai trò lớn hơn, lâu dài hơn.


[1] Dẫn từ nguồn: “ Nâng cao chất lượng xây dựng các dự án Luật, pháp lệnh do Chính phủ soạn thảo” – TS. Phạm Tuấn Khải – TC Nghiên cứu Lập Pháp – 3/2004.

[2] Ví dụ: Các DNNN hoạt động theo Luật DNNN (2003), Luật Doanh nghiệp (1999) áp dụng cho các DNTN, còn các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoại là được điều chỉnh bằng Luật về đầu tư trực tiếp nước ngoàI (1996).

[3] Trong các văn bản pháp quy có liên quan, đáng lưu ý là Nghị định 198/CP (ngày 31/12/1994) quy định chi tiết và hướng dẫn về hợp đồng lao động; Nghị định 72/CP (ngày 31/10/1995) quy định chi tiết và hướng dẫn về việc làm; Nghị định 03/CP (ngày 15/1/2003) quy định về điều chỉnh tiền lương, trợ cấp xã hội, ngoài ra còn một số thông tư về bảo hiểm xã hội, về giờ làm việc, giờ nghỉ ngơi,…

[4] Nguyên tắc cơ bản của Luật đất đai ở Việt nam là đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân (nguyên tắc này cũng đã được tuyên bố trong Hiến Pháp năm 1980 “đất đai thuộc sở hữu toàn dân” – một nền tảng hoàn toàn mới về thể chế đối với đất đai). Luật đất đai đã thiết lập quyền sử dụng đất lâu dài, bao gồm: quyền sử dụng đất, quyền sở hữu kết quả sản xuất từ đất, quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền thế chấp quyền sử dụng đất. Luật này cũng phân chia đất thành nhiều loại như: đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất thổ cư, đất đô thị, đất chuyên dùng và đất chưa sử dụng. Chính phủ quy định khung giá thuê cho từng loại đất, trên cơ sở đó, UBND các tỉnh xác định cụ thể giá để áp dụng.

[5] Đến nay, Việt Nam đã ký kết 47 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư với các nước và vùng lãnh thổ, trong đô Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ đã mang lại nhiều cơ hội mới cho các doanh nghiệp.

[6] Lộ trình xoá bỏ chế độ 2 giá đang được đẩy mạnh. Giá vé máy bay nội địa đã được thống nhất áp dụng từ 1/1/2004. Trong khuôn khổ đàm phán gia nhập WTO, Việt Nam đã cam kết xoá bỏ sự phân biệt về giá điện cho sản xuất vào năm 2005

[7] Các số liệu trong mục này được trích dẫn từ bài tham luận của TS. Ngô Văn Điểm, Phó Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, tại hội thảo về “ Phát triển thể chế kinh tế thị trường ở Việt Nam”, do CIEM tổ chức tại Hà Nội, ngày 29/4/2005.

[8] Dẫn theo: “Những thể chế nào là quan trọng cho việc duy trì sự tăng trưởng dài hạn ở Việt Nam”, do ADB xuất bản, năm 2004, tr. 140

[9] Ví dụ: Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm được hình thành từ 3 bộ: Bộ Nông nghiệp, Bộ Công nghiệp thực phẩm và Bộ lương thực; Bộ Năng lượng từ 2 bộ: Bộ điện lực và Bộ Mỏ và than,…

[10] Theo Nghị quyết này: 1- Thành lập Bộ kinh tế đối ngoại trên cơ sở sáp nhập Bộ ngoại thương và Uỷ ban Kinh tế đối ngoại, 2- Thành lập Bộ xây dựng (mới) trên cơ sở sáp nhập Bộ xây dựng và Uỷ ban xây dựng cơ bản Nhà nước, 3- Sáp nhập Tổng cục điện tử và Kỹ thuật tin học vào Bộ cơ khí và Luyện kim.

[11] Theo Nghị quyết này sẽ có một số thay đổi như sau:

– Thành lập Bộ văn hóa – Thông tin – Thể thao và Du lịch trên cơ sở Bộ văn hóa, Bộ thông tin, Tổng cục thể dục thể thao và Tổng cục du lịch để thống nhất quản lý Nhà nước về văn hóa, thông tin, phát thanh, truyền hình, báo chí, xuất bản, thể dục thể thao và du lịch;

– Thành lập Bộ giáo dục và đào tạo trên cơ sở Bộ giáo dục, Bộ đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề để thống nhất quản lý Nhà nước về giáo dục và đào tạo;

– Thành lập Bộ thương nghiệp trên cơ sở Bộ kinh tế đối ngoại; Bộ nội thương, Bộ vật tư để thống nhất quản lý Nhà nước các hoạt động thương nghiệp và dịch vụ;

– Đổi tên Bộ cơ khí và luyện kim thành Bộ công nghiệp nặng để thống nhất quản lý Nhà nước đối với các ngành cơ khí luyện kim, điện tử, mỏ, địa chất, dầu khí và hóa chất. Phê chuẩn việc giải thể Tổng cục mỏ và địa chất, Tổng cục hóa chất và Tổng cục dầu khí;

– Đổi tên Bộ giao thông vận tải thành Bộ giao thông vận tải và bưu điện đảm nhiệm chức năng quản lý Nhà nước đối với ngành bưu điện do Tổng cục bưu điện phụ trách và ngành hàng không dân dụng. Phê chuẩn việc giải thể Tổng cục hàng không dân dụng Việt Nam.

– Đổi tên ủy ban khoa học và kỹ thuật Nhà nước thành ủy ban khoa học Nhà nước để thống nhất quản lý Nhà nước về khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội; Phê chuẩn việc chuyển ủy ban khoa học xã hội Việt Nam thành Viện khoa học xã hội Việt Nam làm chức năng nghiên cứu khoa học xã hội;

– Giao chức năng quản lý Nhà nước đối với ngành cao su cho Bộ nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm đảm nhiệm. Phê chuẩn việc giải thể Tổng cục cao su.

[12] Thể hiện qua sự phân biệt đối sử giữa các ngân hàng thương mại quốc doanh với các ngân hàng thương mại cổ phần, giữa các ngân hàng trong nước với các ngân hàng liên doanh và các chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Phân biệt đối xử cũng thể hiện rõ nét giữa các khách hàng là DNNN với các khách hàng là doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân.

[13] Xem “Kinh tế Việt Nam 2003” của Viện nghiên cứu QLKTTƯ, phần về “Thị trường khoa học và công nghệ”, tr. 89-92.

[14] Ví dụ: để đạt được mục tiêu này, Chính phủ đã đặt ra cho các cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài nhiệm vụ hàng đầu là phục vụ công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế của đất nước.

SOURCE: CỔNG THÔNG TIN VIỆN NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ KINH TẾ TRUNG ƯƠNG

Trích dẫn từ:

http://ciem.org.vn/home/vn/upload/info/attach/11633999352810_Xay_dung_va_hoan_thien_The_che_KTTT.doc

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: