Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

CÁC QUY ĐỊNH VỀ GIÁM HỘ TRONG QUAN HỆ DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Tác giả viết bài này vào thời điểm năm 2004

THÁI CÔNG KHANH

Trong pháp luật thực định Việt Nam có những qui định về vấn đề giám hộ trong các quan hệ pháp luật có yếu tố nước ngoài, nhất là trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, cụ thể là: Theo khoản 1, 2 Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài giải quyết việc giám hộ có yếu tố nước ngoài; Theo khoản 3 Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình, Toà án nhân dân cấp tỉnh giải quyết tranh chấp việc giám hộ có yếu tố nước ngoài; theo khoản 1 Điều 106 Luật Hôn nhân và gia đình, việc giám hộ trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được thực hiện tại Việt Nam, tại cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài phải tuân theo pháp luật Việt Nam; theo Điều 5 Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của Chính phủ về đăng ký hộ tịch, việc đăng ký và quản lý hộ tịch có yếu tố nước ngoài được thực hiện theo qui định của Nghị định này. Theo Điều 75 Nghị định này, việc đăng ký nhận giám hộ giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài và giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên định cư ở nước ngoài được thực hiện theo pháp luật Việt Nam.

Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy những qui định trên đây bộc lộ một số nhược điểm về nguyên tắc, về nội dung, về sử dụng từ ngữ, về kỹ thuật xây dựng văn bản… Mặt khác, trong thực tế, từ trước tới nay Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cũng như cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài (dưới đây gọi tắt là Đại sứ quán) chưa hề giải quyết một việc giám hộ, mà người giám hộ hoặc người được giám hộ là công dân Việt Nam. Tuy nhiên, việc nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện các qui định về giám hộ trong các quan hệ pháp luật có yếu tố nước ngoài là rất cần thiết, đặc biệt trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay.

1. Các điều kiện của người giám hộ và người được giám hộ:

a. Căn cứ vào những qui định của Bộ luật Dân sự.

Theo quy định của Bộ luật Dân sự, người giám hộ và người được giám hộ phải cùng cư trú trong một phường, xã, thị trấn với mục đích là để có điều kiện thực hiện nghĩa vụ giám hộ, và để chính quyền phường, xã, thị trấn giám sát việc thực hiện giám hộ theo pháp luật đã qui định. Như vậy, rõ ràng là công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài không thể làm người giám hộ cho công dân Việt Nam đang sinh sống tại Việt Nam.

Người giám hộ phải “có đủ điều kiện cần thiết bảo đảm thực hiện việc giám hộ”. Nhưng đến nay chưa có một văn bản nào dưới luật của cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn, giải thích, hiểu như thế nào là “có đủ điều kiện cần thiết…”. Nhưng trong thực tế cho thấy, những điều kiện cần thiết là: Cùng Tổ quốc, cùng cư trú, cùng ngôn ngữ, cùng tôn giáo, cùng dân tộc, cùng giới tính với người được giám hộ.

b. Căn cứ vào thực tiễn.

– Tại sao người giám hộ và người được giám hộ phải cùng Tổ quốc? Theo pháp luật nước ta và pháp luật của nhiều

nước thì người giám hộ có nghĩa vụ chăm sóc, giáo dục đối với người được giám hộ. Nếu người giám hộ và người được giám hộ không cùng dân tộc, Tổ quốc sẽ có nhiều khác biệt về truyền thống văn hoá, lối sống, thói quen trong sinh hoạt.v.v. Đó là những trở ngại có thể làm cho người giám hộ không hoàn thành được nghĩa vụ mà pháp luật qui định.

– Tại sao người giám hộ và người được giám hộ phải cùng ngôn ngữ? Nếu người giám hộ và người được giám hộ là công dân hai nước có ngôn ngữ khác nhau, thì họ không thể giao tiếp được với nhau, và đó cũng là trở ngại lớn, khiến cho người giám hộ không thể thực hiện được nghĩa vụ của mình mà pháp luật đã qui định. Việc pháp luật nước ta qui định, công dân nước ngoài cũng được làm người giám hộ cho trẻ em là công dân Việt Nam là điều kiện không phù hợp với thực tế.

– Tại sao người giám hộ và người được giám hộ phải cùng nơi cư trú? Theo pháp luật nước ta và pháp luật các nước, họ phải cùng nơi cư trú, nếu không cùng nơi cư trú thì người giám hộ không thể thực hiện nghĩa vụ mà pháp luật đã qui định: Chăm sóc cho đứa trẻ, đại diện cho đứa trẻ trong giao dịch dân sự, quản lý tài sản của đứa trẻ, bảo vệ quyền lợi cho đứa trẻ được giám hộ. Qua dẫn chứng này cho thấy, mặc dù pháp luật đã quyết định, nhưmg công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài không thể làm người giám hộ cho đứa trẻ là công dân Việt Nam ở Việt Nam.

– Tại sao người giám hộ và người được giám hộ phải cùng tôn giáo? Chúng tôi được biết, theo thực tiễn ở các nước, trong việc cử người giám hộ, người ta rất lưu ý đến vấn đề tôn giáo, đòi hỏi người giám hộ phải cùng tôn giáo với người được giám hộ. Thực tế cho thấy, người theo đạo Hinđu không thể làm người giám hộ cho người theo đạo Thiên chúa và ngược lại, người theo đạo Thiên chúa không thể làm người giám hộ cho người theo đạo Hồi và ngược lại, người theo đạo Hồi không thể làm người giám hộ cho người theo đạo Phật và ngược lại.

c. Trường hợp người giám hộ và người được giám hộ không cùng quốc tịch. Việc giám hộ, mà người giám hộ và người được giám hộ không cùng quốc tịch phát sinh trong hai trường hợp sau đây:

– Cha là công dân Việt Nam, mẹ là công dân nước ngoài cùng thường trú ở Việt Nam, sinh con ở Việt Nam, đứa trẻ này là công dân Việt Nam. Sau khi sinh con, người cha chết thì người mẹ là người giám hộ cho con. Hai mẹ con có quốc tịch khác nhau, nhưng đây là giám hộ đương nhiên.

– Hai cha mẹ nuôi đều là công dân nước ngoài thường trú ở nước ngoài có con nuôi là công dân Việt Nam đang sinh sống ở nước ngoài cùng cha mẹ nuôi. Sau khi cha nuôi chết, thì mẹ nuôi là người giám hộ cho con nuôi. Hai mẹ con có quốc tịch khác nhau, nhưng đây là giám hộ đương nhiên.

d. Công dân Việt Nam làm người giám hộ cho công dân nước ngoài.

Gặp trường hợp công dân nước ngoài cư trú ở Việt Nam cần có người giám hộ, mà những người thân thích cử một công dân Việt Nam đủ tiêu chuẩn làm người giám hộ cho công dân nước ngoài này, thì Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh không có quyền xem xét, giải quyết, ra quyết định công nhận. Bởi lẽ, theo Hiệp định lãnh sự mà nước ta đã ký kết với nước ngoài, thì trong trường hợp này, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh phải qua đường ngoại giao thông báo cho Đại sứ quán nước của người cần giám hộ để Đại sứ quán này cử công dân của nước mình ở Việt Nam làm giám hộ. Nếu không cử được người giám hộ, thì một viên chức lãnh sự thuộc Đại sứ quán này phải đích thân làm giám hộ. Thỏa thuận này cũng nói lên rằng, người giám hộ và người được giám hộ phải cùng quốc tịch.

đ. Công dân Việt Nam làm người giám hộ cho người không quốc tịch.

Trường hợp người không quốc tịch thường trú ở Việt Nam cần có người giám hộ, mà những người thân thích cử một công dân Việt Nam đủ tiêu chuẩn làm người giám hộ và công dân Việt Nam này chấp nhận, thì về nguyên tắc, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có quyền xem xét, giải quyết, ra quyết định công nhận. Tuy nhiên, trong thực tế, thì chưa bao giờ xẩy ra.

2. Thẩm quyền của Đại sứ quán nước ta ở nước ngoài trong việc giám hộ giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài.

Theo khoản 2 Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình, Đại sứ quán nước ta ở nước ngoài giải quyết việc giám hộ có yếu tố nước ngoài. Như vậy, Đại sứ quán được quyền xem xét, ra quyết định công nhận việc giám hộ, mà người giám hộ là công dân Việt Nam, người được giám hộ là người nước ngoài ở nước sở tại, hoặc người giám hộ là người nước ngoài, người được giám hộ là công dân Việt Nam ở nước sở tại. Qui định này là phi thực tế. Phải khẳng định rằng, từ trước đến nay, Đại sứ quán nước ta ở nước ngoài chưa hề một lần ra quyết định công nhận việc giám hộ, mà người giám hộ hoặc người được giám hộ là công dân Việt Nam. Bởi vì:

– Trong trường hợp một công dân nước sở tại cần có người giám hộ, mà những người thân thích lại cử một công dân Việt Nam làm giám hộ và yêu cầu Đại sứ quán nước ta ở nước này ra quyết định công nhận, thì Đại sứ quán phải từ chối. Bởi lẽ, pháp luật nước nào cũng vậy, không chấp nhận người nước ngoài làm người giám hộ cho công dân nước mình.

Trường hợp một công dân Việt Nam ở nước sở tại cần có người giám hộ, mà những người thân thích lại cử một công dân của nước sở tại làm người giám hộ cho công dân Việt Nam này và yêu cầu Đại sứ quán ra quyết định công nhận, thì Đại sứ quán phải từ chối. Bởi lẽ, theo Hiệp định lãnh sự, mà nước ta đã ký với nước ngoài cũng như các nước đã ký song phương với nhau, gặp trường hợp này, chính quyền nước sở tại phải qua đường ngoại giao thông báo cho Đại sứ quán nước ta biết, để Đại sứ quán cử công dân Việt Nam làm người giám hộ, hoặc một viên chức của Đại sứ quán phải đích thân làm người giám hộ cho công dân nước mình thường trú ở nước sở tại.

Qua những dẫn chứng trên đây thấy rằng, người giám hộ và người được giám hộ phải là hai người cùng Tổ quốc, cùng nơi cư trú, cùng tôn giáo, cùng ngôn ngữ… Ngoài ra, người không quốc tịch cũng không thể làm người giám hộ cho công dân Việt Nam, vì họ không phải là công dân của một quốc gia nào cả. Đây là quan điểm của chúng tôi về lĩnh vực giám hộ, mà người giám hộ và người được giám hộ có quốc tịch khác nhau.

3. Sử dụng cụm từ “có yếu tố nước ngoài” không đúng chỗ.

Trong một số văn bản pháp qui của Nhà nước đã sử dụng cụm từ “có yếu tố nước ngoài” không đúng chỗ. Ví dụ: “Giám hộ có yếu tố nước ngoài”, “Giám hộ trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài”, “đăng ký và quản lý hộ tịch có yếu tố nước ngoài”, “đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài”, “kết hôn có yếu tố nước ngoài”, “ly hôn có yếu tố nước ngoài”, “nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài”, “nhận cha, mẹ, con có yếu tố nước ngoài”… theo ý kiến cá nhân tôi, việc sử dụng những cụm từ nói trên trong văn bản pháp qui của Nhà nước là chưa chuẩn xác. Theo chúng tôi chỉ được sử dụng cụm từ “có yếu tố nước ngoài” trong trường hợp: Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài, quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài… có nghĩa là, khi mà chủ thể của mối quan hệ này là cá nhân, pháp nhân nước ngoài, hoặc khi mà khách thể của mối quan hệ này ở nước ngoài, hoặc khi mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt mối quan hệ này phát sinh ở nước ngoài. Chúng ta chỉ sử dụng trong lĩnh vực “luật tư”, chứ không thể sử dụng trong lĩnh vực “luật công”. Vì vậy, chúng ta không thể sử dụng cụm từ “khởi tố có yếu tố nước ngoài”, “xét xử có yếu tố nước ngoài”, “bản án có yếu tố nước ngoài”./.

SOURCE: TẠP CHÍ KIỂM SÁT SỐ 4/2004

Trích dẫn từ: http://tapchikiemsat.org.vn/viewtopic/phap-luat-58/Giam-ho-co-yeu-to-nuoc-ngoai-157.html

Advertisements

One Response

  1. cảm ơn tác giả, bài viết này tôi thấy rất hay và bổ ích.

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: