Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

THỜI HIỆU DÂN SỰ – NHÌN TỪ GÓC ĐỘ LỊCH SỬ VÀ SO SÁNH

TS. TRẦN ANH TUẤN – Khoa Pháp luật Dân sự – Đại học Luật Hà Nội

1. Cơ sở của việc quy định thời hiệu dân sự

Xét dưới góc độ nhân sinh, đời sống của con người vốn không phải là bất diệt. Sinh, lão, bệnh, tử dường như là con đường mà con người ta ai cũng phải trải qua trong cõi nhân gian[1]. Có lẽ do thấu hiểu rằng sự sống của con người vốn là hữu hạn nên từ cổ chí kim, khi pháp luật được hình thành thì đều có những hạn định về thời gian đối với các hành vi và quyền lợi của con người. Vấn đề thời hiệu trong đời sống dân sự có lẽ cũng có nguồn gốc sâu xa từ quy luật chung này.

Theo góc nhìn lịch sử thì dường như vấn đề thời hiệu dân sự là thành tựu của nền văn minh nhân loại, ra đời do nhu cầu tự thân của đời sống chứ không phải là phát minh riêng của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, phụ thuộc vào truyền thống, lịch sử, văn hoá và quan niệm của nhà lập pháp mỗi nước mà các quy định về vấn đề này trong nội luật của mỗi quốc gia có thể có những điểm tương đồng và khác biệt nhất định.

Về phương diện xã hội, thời hiệu là phương tiện được sử dụng nhằm ổn định tình trạng hiện hữu của các quan hệ xã hội sau một thời gian nào đó vì lợi ích của thương mại hay pháp lý. Do vậy, việc kiện tụng không thể được hành xử vô hạn định mà cần phải được thực hiện trong thời hạn được nhà lập pháp ấn định. Việc không hạn định thời gian thực hiện việc kiện có thể gây nên những xáo trộn, làm thiệt hại cho nền kinh tế xã hội. Ngoài ra, nếu người có quyền để vụ việc trôi qua quá lâu mới thực hiện việc kiện thì người có nghĩa vụ sẽ ở vị thế bất lợi và khó có thể đưa ra được chứng cứ để biện hộ cho mình.

Theo nguyên tắc tự do ý chí, thời hiệu được coi như là một sự suy đoán có tính mặc nhiên về ý chí của chủ thể đối với quyền lợi. Luật suy đoán rằng người có quyền lợi đã từ bỏ tố quyền nếu họ không hành động trong thời hạn mà họ đã có thể thực hiện nó. Như vậy, nếu trong một thời hạn nhất định, người có quyền lợi đã không khởi kiện mặc dù không có bất kỳ trở ngại nào cản trở việc thực hiện quyền này thì có thể suy đoán rằng họ đã từ bỏ quyền khởi kiện của mình. Theo góc nhìn này, người có nghĩa vụ có thể được giải thoát khỏi gánh nặng về nghĩa vụ dân sự.

2. Thời hiệu dân sự trong cổ luật Việt Nam

Mục đích của việc triển khai nội dung này là mong có một cái nhìn thấu đáo hơn về các quy định về thời hiệu đã tồn tại trong lịch sử lập pháp trước đây. Song tiếc rằng do thời gian và hoàn cảnh lịch sử nên nhiều thư tịch cổ của tiền nhân đã bị thất truyền. Điều này quả thực là một trở ngại cho việc khảo cứu tài liệu để có thể hiểu thấu đáo hơn về vấn đề thời hiệu dân sự trong cổ luật.

Theo sử liệu thì thời hiệu dân sự đã từng được ghi nhận dưới thời Lý – Trần và dưới triều Lê. Tháng giêng năm Đại Định thứ ba (1142), vua Lý Anh Tông (1128 – 1175) khi ban hành quy định về việc kiện tụng và chuộc lại ruộng đất đã định rằng « Các ruộng cày cấy đã đem cầy cấy có thể chuộc lại trong một hạn là hai mươi năm. Các vụ tương tranh về điền thổ không thể xin vua xét xử sau một thời hạn 5 hay 10 năm.

Phàm vườn ruộng bỏ hoang, đã có người cầy cấy, người chủ chỉ có quyền đòi lại trong hạn một năm. Trái lệnh này, sẽ phải phạt 80 trượng.

Các ruộng cày cấy hoặc bỏ hoang, đã có văn tự bán đứt, không thể chuộc lại được – Ai trái lệnh cũng phải phạt cùng một tội ». Giáo sư Vũ Văn Mẫu nhận xét rằng « Đây là điều luật cổ nhất ngày nay ta còn thấy ghi chép rõ ràng trong sử về quy chế các điền thổ – Đạo luật ấy đã bênh vực quyền lợi của nông dân » và « Để cho người dân quê tránh khỏi nạn bóc lột của chủ nợ thường manh tâm chiếm đoạt của họ, Vua Lý Anh Tông đã ấn định một thời hạn khá dài là 20 năm, cho phép họ được chuộc lại ruộng đất trong thời hạn ấy »[2].

Nếu so sánh với các quy định về thời hiệu dân sự trong pháp luật đương đại của một số nước điển hình trên thế giới (kể cả các cải cách về thời hiệu trong thời gian gần đây) thì quy định trên về thời hiệu dân sự có thể xem là một thành tựu lập pháp trong cổ luật Việt Nam cả về phương diện kỹ thuật và tính nhân bản của pháp luật. Dưới góc nhìn lập pháp thời nay, trong bối cảnh « đất chật người đông », « tấc đất tấc vàng » thì quy định về thời hiệu thủ đắc trong hạn một năm đối với ruộng đất bỏ hoang dường như là quá dễ dãi với người chiếm hữu và việc bảo vệ quyền lợi của chủ đất cũ đã không được chú trọng. Tuy nhiên, điều này hoàn toàn có thể giải thích, bởi bối cảnh cổ xưa của nền văn minh nông nghiệp, tình trạng đất đai bị hoang hoá và sự cần thiết phải thực hiện chính sách « trọng nông » đối với các vương triều phong kiến Việt Nam. Việc coi trọng quyền lợi của người nông dân đã thực sự cầy cấy những ruộng đất bỏ hoang và coi họ như sở hữu chủ những ruộng đất ấy sau một năm cầy cấy là một chính sách pháp luật nhằm hạn chế tình trạng bỏ hoang hoá ruộng đất, không có người khai thác.

Giáo sư Vũ Văn Mẫu nhận xét rằng « luật pháp triều Lý có một tính cách rất thiết thực. Sự bênh vực quyền lợi của lớp nông dân không phải là một chính sách hoàn toàn đạp đổ quyền sở hữu trong mọi trường hợp. Vì vậy, nhà làm luật đã phân biệt rõ ràng sự cầm cố với sự bán đứt hay đoạn mại các ruộng nương. Trong trường hợp có văn tự biên rõ là đoạn mãi, các ruộng nương không thể chuộc lại được. Đây là một nguyên tắc rất cần thiết cho tính cách vững ổn các hợp đồng đã được ký kết giữa các tư nhân. Nhờ nguyên tắc ấy, các sự mua bán mới có một căn bản vững chắc, và các sự kiện tụng mới mong giảm bớt được »[3].

Tinh thần căn bản nói trên về thời hiệu cũng được kế thừa trong pháp luật triều Trần và triều Lê. Năm 1299, Vua Trần Anh Tông có chiếu định rằng ai đã bán ruộng đất và gia nhân làm nô tỳ trong hai năm 1290, 1291 thì cho chuộc về, để quá hạn năm 1299 thì không cho chuộc[4]. Có lẽ do xuất phát từ nền văn minh nông nghiệp nên pháp luật về thời hiệu dân sự dưới các vương triều phong kiến Việt Nam đều chú trọng tới vấn đề ruộng đất. Dưới triều Lê, Điều 387 Bộ luật Hồng Đức định rằng, đối với những ruộng đất cầm mà chủ ruộng xin chuộc thì phải trong niên hạn. « Nếu quá niên hạn mà xin chuộc thì không được (niên hạn là 30 năm). Trái lẽ mà cố cưỡng đi kêu, thì phải phạt 50 roi, biếm một tư » (Điều 384). Ngoài ra, « Con trai từ 16 tuổi, con gái từ 20 tuổi trở lên, mà ruộng đất của mình để người trưởng họ hay người ngoài cày hay ở, đã quá niên hạn mới cố cưỡng đòi lại, thì phải phạt 80 trượng và mất ruộng đất (niên hạn: người trưởng họ 30 năm, người ngoài 20 năm). Nếu vì binh hoả hay đi siêu bạt mới về, thì không theo luật này »[5].

Như vậy, các quy định về thời hiệu trên cho thấy pháp luật chỉ nói đến việc mất quyền do hết thời hiệu như quá hạn luật định thì chủ ruộng đất cũ không được đòi hay chuộc lại tài sản, còn quyền thủ đắc theo thời hiệu của người đang thực thụ chiếm hữu ruộng đất chỉ là quy định có tính ẩn ngầm về sự thủ đắc. Dường như có một mối liên hệ chặt chẽ giữa sự mất quyền của chủ ruộng đất cũ và sự thủ đắc quyền lợi của người chiếm hữu ruộng đất dựa trên các quy định về thời hiệu trong cổ luật. Ngoài ra, thời hiệu chấm dứt quyền theo cổ luật Việt Nam là tương đối dài. Quy định ngoại lệ về thời gian không tính vào thời hiệu do « binh hoả hay đi siêu bạt mới về » là một thành tựu thể hiện sự mềm dẻo và tinh tế trong tư duy lập pháp của ông cha ta. Ngày nay, chúng ta có thể tìm thấy tính hợp lý của cách tư duy này trong các định chế của phương Tây và luật thực định Việt Nam về thời gian không tính vào thời hiệu do trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng.

3. Thời hiệu dân sự dưới thời Pháp thuộc

Thời kỳ này, pháp luật dân sự Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng của pháp luật dân sự Pháp. Do vậy, thời hiệu dân sự là một danh từ dùng để chỉ hai loại thời hiệu là thời hiệu thủ đắc và thời hiệu tiêu diệt. Về học lý, vấn đề này đã được giáo sư Vũ Văn Mẫu và giáo sư Lê Đình Chân đề cập trong cuốn « Danh từ và tài liệu Dân luật và Hiến luật » năm 1968. Theo đó, thời hiệu (prescription) được hiểu là thời hạn do luật ấn định có hiệu lực biến sự chiếm hữu một tài sản thành quyền sở hữu (thời hiệu thủ đắc – prescription acquisitive) hoặc tiêu diệt món nợ của đương sự (thời hiệu tiêu diệt – prescription libératoire hay prescription extinctive). Sở dĩ, nhà làm luật quy định vấn đề thời hiệu, là vì muốn tránh những vụ phân tranh kiện cáo phiền phức và tốn kém, khi các đương sự đã để trôi qua một thời gian quá lâu mà không hành động. Do đó, mới công nhận là quyền chiếm hữu đã thành quyền sở hữu hay món nợ đã bị tiêu diệt[6]. Như vậy, theo nhận định này thì thời hiệu thủ đắc và thời hiệu tiêu diệt có mối liên hệ mật thiết với nhau.

Theo nhà nghiên cứu Trần Thúc Linh thì « Thời hiệu là một phương chước để một người có thể thủ đắc bất động sản bằng cách chấp hữu trong một thời gian, hoặc để cho con nợ được tự giải thoát khỏi bị chủ nợ khởi tố nếu đã để quá thời hạn luật định không hành xử tố quyền… ». Tuỳ theo trường hợp chiếm hữu một bất động sản hay một động sản, thời hiệu thủ đắc có thể dài hay ngắn hoặc tức thì. Tuy nhiên, có một số động sản hoặc bất động sản thuộc về lãnh vực công của quốc gia thì không thể thủ đắc bằng thời hiệu. Thời hạn thủ đắc bằng thời hiệu phải là 30 năm với điều kiện sự chấp hữu phải liên tục, không có bạo hành, công khai và nhầm lẫn. Còn thời hiệu tiêu diệt là thời hiệu làm cho tố quyền của chủ nợ đối với con nợ vô hiệu vì đã không hành xử trong thời hạn luật định. Thời hiệu này có thể dài hay ngắn tuỳ theo trường hợp. Theo thời hiệu tiêu diệt thì một quyền lợi không được chủ thể sử dụng trong một thời gian lâu sẽ bị thời hiệu làm chấm dứt[7].

Việc nghiên cứu cho thấy, tinh thần này đã được thể hiện trong hai bộ Dân luật Bắc 1931 (DLB) và Dân luật Trung 1936 (DLT). Điều 857 DLB và Điều 934 DLT đều quy định « Giải trừ thời hiệu, là một cách thoát nợ vì chủ nợ không đòi hỏi trong thời hạn pháp luật đã định ». Về nguyên tắc thì thời hiệu giải trừ nghĩa vụ thông thường là tương đối dài 20 năm hoặc 10 năm, trong một số trường hợp đặc biệt thì thời hiệu này còn có thể ngắn hơn nữa. Điều 857 DLB ấn định thời gian dài nhất để giải trừ nghĩa vụ là 20 năm, theo đó « Phàm nghĩa vụ mà pháp luật không quy định một thời hạn ngắn hơn hay không tuyên rõ là không thể bị thời hiệu giải trừ được, thì cứ hết hai mươi năm tính từ lúc người chủ nợ có quyền đòi hỏi mà không đòi hỏi gì, đều bị tiêu diệt vì thời hiệu giải trừ ». Điều 935 DLT cũng sử dụng cùng một văn từ trên nhưng lại ấn định thời hiệu giải trừ là 10 năm. Như vậy, cùng mô phỏng từ luật dân sự Pháp nhưng cách ấn định thời hạn của thời hiệu tại Bắc bộ và Trung bộ lại có những sự khác biệt nhất định. Sự khác biệt về góc nhìn lập pháp này tiếp tục được thể hiện đối với các việc kiện về nhân quyền, theo đó thời hiệu tiêu diệt là mười lăm năm trong DLB (Điều 863) và 10 năm trong DLT (Điều 936) « trừ khi có điều luật định khác thời không kể ». Đối với các tố quyền xin tiêu huỷ các khế ước vì vô hiệu, Điều 863 khoản 2 DLB và Điều 936 khoản 2 DLT định rằng các việc kiện vô hiệu hay kiện xin thủ tiêu khế ước sẽ bị tiêu diệt sau thời hiệu là 5 năm, trừ khi có điều luật riêng định khác thời không kể.

Nghiên cứu về nghĩa vụ không bị chấm dứt do thời hiệu trong thời kỳ này cho thấy dường như các thuật ngữ « Phàm nghĩa vụ mà pháp luật … không tuyên rõ là không thể bị thời hiệu giải trừ được (Điều 857 DLB, Điều 935 DLT) và « trừ khi có điều luật định khác thời không kể » (Điều 863 DLB và Điều 936 DLT) đã thể hiện nhà làm luật Việt Nam đã có dự liệu về những nghĩa vụ không bị chấm dứt do thời hiệu. Tuy nhiên, luật thực định không có điều khoản nào quy định cụ thể về loại tố quyền không bị chấm dứt bởi thời hiệu này. Về học lý, vấn đề này đã được nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Quýnh giải thích trong « Luật học nhập môn về nhân thân gia đình ». Theo đó, có những quyền lợi dù không được sử dụng cũng không bị tiêu diệt. Đó là các quyền tinh thần thuộc về gia đình và quyền sở hữu. Một trạch chủ có một thửa đất không sử dụng, sau 30 năm cũng không mất quyền sở hữu của mình, nếu không có kẻ chiếm cứ. Vì vậy, người ta gọi quyền sở hữu là một quyền vĩnh viễn. Quá 30 năm tuy trạch chủ đó có thể mất quyền sở hữu nếu có kẻ khác chiếm hữu bất động sản. Nhưng nếu xảy ra như vậy thì là vì kẻ chiếm đất đã thời đắc được thửa đất, chứ không phải vì quyền sở hữu của trạch chủ bị chấm dứt bởi thời hiệu. « Bằng chứng là nếu kẻ chiếm đất không hội đủ điều kiện để thời đắc, thì thửa đất vẫn thuộc quyền sở hữu của trạch chủ cũ ».

Ngày nay pháp luật Việt Nam đã phát triển theo hướng không áp dụng thời hiệu đối với các quan hệ nhân thân. Tuy nhiên, ngược dòng lịch sử có thể thấy rằng thời hiệu kiện yêu cầu xác định cha cho con đã từng được ấn định trong các Điều 177 DLB, Điều 173 DLT. Theo quy định này thì nếu người mẹ kiện xác định cha cho con, thời hạn kiện là 2 năm sau khi sinh đứa trẻ. Trong trường hợp người cha chung sống với người mẹ hoặc cấp dưỡng cho con thì thời hạn 2 năm để khởi kiện sẽ tính từ ngày hai người chấm dứt tình trạng sống chung hoặc từ ngày người cha chấm dứt sự cấp dưỡng nuôi nấng đứa trẻ. Điều 176 DLT định rằng nếu người con đã trưởng thành khởi kiện xác định cha thì thời hạn để khởi kiện là 1 năm sau khi đã thành niên. Thời hạn kiện xác định cha cho con ngoài giá thú không được quy định trong Dân Luật Nam kỳ giản yếu. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Quýnh thì « Sự im lặng này đã được án lệ giải thích một cách rộng rãi là coi tố quyền này bất khả thời tiêu nghĩa là có thể được hành sử vô hạn định »[8].

Tinh thần căn bản trên của học lý sau này đã được tiếp thu trong Điều thứ 1434 Bộ Dân luật năm 1972: « Thời hiệu là một phương tiện để thủ đắc một quyền lợi hay để được giải nợ sau một thời gian và với những điều luật định. Trường hợp trên là sự thủ đắc thời hiệu hay đắc hiệu; trường hợp dưới là sự tiêu diệt thời hiệu hay thời tiêu ».

Về thời hiệu tiêu diệt Điều 1474 Bộ luật này định rằng « Hết thảy mọi tố quyền, dù là tố quyền đối nhân hay đối vật đều bị thời tiêu sau ba mươi năm, không cứ là người viện dẫn thời hiệu ấy ngay tình hay gian tình và cũng không cần người ấy phải xuất trình bằng chứng gì khác, ngoại trừ những trường hợp đã được luật pháp ấn định một thời hạn ngắn hơn…». Về nguyên tắc thì thời hiệu tiêu diệt tố quyền tương đối dài (30 năm), trừ một số các trường hợp biệt lệ thời hiệu này có thể là 5 năm, 2 năm, 6 tháng (Điều 1476, 1477, 1478 Bộ Dân luật năm 1972).

Về thời hiệu thủ đắc để trở thành sở hữu chủ đối với bất động sản thì người chấp hữu một bất động sản liên tiếp yên ổn, công khai và minh bạch, với tư cách là sở hữu chủ trong hai mươi năm, sẽ làm cho người chấp hữu thủ đắc quyền tư hữu về bất động sản ấy (Điều 1444 và Điều 1482 Bộ Dân luật năm 1972). Ngoài ra, việc phân hoá các giải pháp trong luật nhằm bảo vệ quyền lợi của người chiếm hữu các động sản trên cơ sở suy đoán sự ngay tình trong việc chiếm hữu tỏ ra rất gần gũi với đời sống thực tại và có giá trị tham khảo cho hoạt động lập pháp ngày nay. Theo đó, đối với động sản thì người chiếm hữu được coi là sở hữu chủ. Tuy nhiên, người để thất lạc hay bị mất trộm một đồ vật thực thể, hữu hình, có thể kiện đòi đồ vật ấy trong tay người chiếm hữu, trong hạn ba năm kể từ ngày đồ vật bị thất lạc hay bị lấy trộm; trong trường hợp này người chiếm hữu có quyền khởi kiện người đã di chuyển đồ vật cho mình. Nếu người chiếm hữu đã mua đồ vật ấy ở chợ, hay một cuộc phát mại công cộng, ở một tiệm có bán những đồ vật tương tự, người chủ, muốn lấy lại đồ vật, phải hoàn lại giá mua cho người chiếm hữu (Điều 1488 và Điều 1489 Bộ Dân luật năm 1972).

Như vậy, kết quả nghiên cứu lịch sử pháp luật Việt Nam về thời hiệu dân sự, giúp ta có một nền tảng căn bản để tiếp tục giải quyết những vấn đề của hiện tại trong mối liên hệ với sự tiến triển về học lý, luật thực định và án lệ Pháp ngày nay.

4. Thời hiệu dân sự theo pháp luật Việt Nam hiện hành và so sánh

4.1. Về thời điểm bắt đầu thời hiệu và thời gian của thời hiệu

– Đối với tố quyền vô hiệu:

Theo học lý của Pháp, có hai thuyết về xác định thời điểm bắt đầu thời hiệu. Theo lý thuyết có tính cách xã hội, vì thời hiệu liên hệ đến quyền lợi chung, nên khởi điểm ngay từ ngày kết lập khế ước để sớm chấm dứt tình trạng bất định. Đối với lý thuyết căn cứ vào sự xác nhận mặc nhiên, thời hiệu chỉ khởi điểm từ ngày đương sự có đủ năng lực để xác nhận chứng thư vô hiệu[9]. Tuy nhiên, quy định tại Điều 1304 Bộ luật Dân sự Pháp (BLDSP) cho thấy nhà làm luật đã chấp nhận lý thuyết thứ hai căn cứ vào sự xác nhận mặc nhiên. Các điều khoản trên định rằng trong trường hợp bị đe doạ, thời hiệu khởi điểm từ ngày sự đe doạ đó chấm dứt; trong trường hợp lầm lẫn hoặc bị lừa dối thì khởi điểm là ngày phát hiện ra việc nhầm lẫn hoặc hành vi lừa dối; đối với giao dịch ký kết với người chưa thành niên thì khởi điểm là ngày người đó đủ tuổi thành niên hoặc được công nhận có đầy đủ năng lực hành vi. Luật ngày 17/6/2008 đã sửa đổi quy định tại Điều 2224 BLDSP[10] về thời hiệu đối với tố quyền vô hiệu tuyệt đối, theo hướng thời điểm bắt đầu của thời hiệu này được « kể từ ngày người có quyền biết hoặc buộc phải biết các sự kiện cho phép họ thực hiện quyền khởi kiện ».

Theo truyền thống của Pháp thì độ dài của thời hiệu phụ thuộc vào bản chất của sự vô hiệu. Theo các quy định của BLDSP trước đây thì thời hiệu của tố quyền vô hiệu tương đối là 5 năm thì thời hiệu của tố quyền vô hiệu tuyệt đối là 30 năm. Luật ngày 17/6/2008 đã thống nhất các thời hạn này. Điều 1304 BLDSP vẫn được giữ nguyên bởi Luật ngày 17/6/2008, theo đó « Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu tuyên bố vô hiệu hoặc hủy bỏ hợp đồng là 5 năm, trừ trường hợp luật chuyên ngành có quy định thời hạn ngắn hơn ». Quy định này chỉ áp dụng đối với tố quyền vô hiệu tương đối mà không áp dụng với tố quyền vô hiệu tuyệt đối và các tố quyền không phải là tố quyền vô hiệu.

Trước đây, theo quy định tại Điều 2262 BLDSP thì « Thời hiệu khởi kiện đối với việc kiện dù về tài sản hay nhân thân đều là ba mươi năm». Án lệ Pháp đã áp dụng quy định này đối với các tố quyền vô hiệu tuyệt đối. Với chủ đích trừng phạt sự vi phạm pháp luật và bảo vệ lợi ích chung thì một thời hạn dài như trên có thể tăng thêm những cơ may huỷ bỏ hợp đồng có vi phạm. Tuy nhiên, vì lý do đề cao vai trò của thời hiệu trong việc ổn định tình trạng các quan hệ xã hội vì lợi ích của thương mại và pháp lý nên Luật ngày 17/6/2008 đã rút ngắn một cách đáng kể thời hạn của thời hiệu đối với tố quyền vô hiệu tuyệt đối. Do vậy, từ nay theo quy định tại Điều 2224 BLDSP thì « Thời hiệu khởi kiện đối với việc kiện dù về tài sản hay nhân thân đều là 5 năm, kể từ ngày người có quyền biết hoặc buộc phải biết các sự kiện cho phép họ thực hiện quyền khởi kiện ». Như vậy, theo quy định này thì thời hiệu đối với tố quyền vô hiệu tuyệt đối và tố quyền vô hiệu tương đối đã được đồng nhất là 5 năm chứ không còn có sự cách biệt như trước đây nữa.

Cải cách theo hướng rút ngắn thời hiệu này cũng gây nên những bất cập. Cụ thể là cơ hội để yêu cầu huỷ bỏ giao dịch vô hiệu xâm phạm trật tự công hoặc lợi ích chung đã bị hạn chế, do vậy, nguy cơ số lượng các giao dịch vô hiệu tuyệt đối tồn tại sẽ tăng lên. Ngoài ra, quy định về thời điểm bắt đầu thời hiệu « kể từ ngày người có quyền biết hoặc buộc phải biết các sự kiện cho phép họ thực hiện quyền khởi kiện » có thể dẫn tới thực tế là thời hiệu của tố quyền vô hiệu tuyệt đối có thể còn ngắn hơn cả thời hiệu của tố quyền vô hiệu tương đối. Bởi vì, theo truyền thống trước đây trong pháp luật Pháp thì thời hiệu dài nhất đối với tố quyền vô hiệu tuyệt đối là 30 năm kể từ ngày ký kết hợp đồng, trong khi đó thời hiệu đối với tố quyền vô hiệu tương đối do vi phạm ý chí thì là 5 năm kể từ ngày phát hiện ra việc nhầm lẫn hoặc hành vi lừa dối. Giả sử trường hợp một sự nhầm lẫn phát hiện được sau 32 năm kể từ khi giao kết hợp đồng thì việc kiện yêu cầu tuyên bố vô hiệu tương đối sẽ tiếp tục được thực hiện trong 5 năm kể từ thời điểm phát hiện, trong khi đó thời hiệu 30 năm đã kết thúc từ 2 năm trước đó.

Có lẽ cần phải coi rằng vì các lý do an ninh pháp lý mà thời hiệu 30 năm tạo thành một thời hạn tối đa. Học lý về vấn đề này cũng còn có quan điểm khác nhau. Tuy nhiên, án lệ trước đây đi theo hướng không áp dụng thời hạn tối đa đối với yêu cầu huỷ bỏ giao dịch vô hiệu tương đối. Án lệ của Toà án Paris, trong bản án ngày 22 tháng 7 năm 1853 đã xử bác yêu cầu huỷ bỏ giao dịch vô hiệu tương đối với lý do việc kiện này không thể được tiến hành sau 30 năm kể từ ngày giao kết hợp đồng. Nhưng Toà dân sự Pháp, trong bản án ngày 24 tháng 1 năm 2006 đã phán quyết rằng yêu cầu tuyên bố vô hiệu trong vụ kiện năm 1998 do có sự lừa dối khi ký kết giao dịch năm 1961 vẫn không bị hết thời hiệu với lập luận rằng giải pháp ngược lại sẽ làm mất đi hiệu quả của quyền kiện yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu do lừa dối được phát hiện sau 37 năm giao kết hợp đồng[11]. Về phương diện luật thực định, để các cải tổ về thời hiệu không phá vỡ truyền thống, nhà lập pháp đã thiết lập bên cạnh các quy định thời hiệu 5 năm một quy định về thời hạn chặn hay thời hạn tối đa có tính nguyên tắc tại Điều 2232 BLDSP (Luật ngày 17/6/2008). Theo đó, một tố quyền vô hiệu không bao giờ có thể được thực hiện vượt quá 20 năm từ khi giao kết hợp đồng.

Theo pháp luật dân sự Việt Nam thì thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu tương đối do lừa dối, nhầm lẫn, đe dọa, do người không có năng lực hành vi hoặc không nhận thức, làm chủ được hành vi là hai năm, kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập. Còn đối với các giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo, trái pháp luật, đạo đức xã hội thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế (Điều 136 BLDSVN 2005). Như vậy, giải pháp về thời hiệu đối với tố quyền vô hiệu tương đối trong pháp luật Việt Nam đi theo lý thuyết về ổn định xã hội, thời điểm bắt đầu thời hiệu khởi kiện là ngày giao dịch được xác lập với chủ đích bình ổn các quan hệ dân sự được thiết lập. Giải pháp này dường như đi ngược lại với luật thực định Pháp và không đáp ứng yêu cầu bảo đảm quyền tiếp cận công lý của công dân. Ngoài ra, thời hạn 2 năm của thời hiệu đối với yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu tương đối theo pháp luật Việt Nam là khá ngắn so với thời hạn 5 năm trong pháp luật Pháp.

Đối với các giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối nhà lập pháp Việt Nam đã chọn giải pháp đề cao việc bảo vệ trật tự công, do vậy luật thực định không hạn chế thời hiệu khởi kiện huỷ bỏ đối với giao dịch vô hiệu tuyệt đối. Giải pháp này dường như đi ngược với tục dao la tinh « Quae temporalia sunt ad agendum perpetua sunt ad excipiendum » được tạm dịch là « Sự việc mang tính nhất thời bằng phương thức khởi kiện nhưng là vĩnh viễn bằng phương thức phản kháng ». Theo đó, tố quyền kiện vô hiệu bị giới hạn bởi thời hiệu nhưng sự phản kháng về tính vô hiệu có tính vĩnh viễn. Có nghĩa là khi quyền khởi kiện yêu cầu huỷ bỏ giao dịch bất hợp pháp đã không thể thực hiện được nữa do hết thời hiệu kiện thì một bên đương sự vẫn có thể sử dụng phương thức phản kháng về tính vô hiệu để chống lại yêu cầu thi hành hợp đồng của bên đối phương mà không bị hạn chế về thời gian. Tính vĩnh viễn của phương pháp biện hộ này là nhằm làm thất bại dự tính của một bên trong việc để vượt quá thời hiệu kiện huỷ bỏ rồi mới kiện yêu cầu thi hành hợp đồng, trong khi bên đối phương đã bị tước đi khả năng tranh luận về tính hợp pháp của hợp đồng do thời hiệu đã hết[12]. Theo truyền thống pháp luật Pháp thì thời hiệu yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu tuyệt đối là 30 năm kể từ ngày giao dịch được xác lập. Luật ngày 17/6/2008 đã sửa đổi theo hướng thời hiệu này chỉ còn là 5 năm nhưng được bắt đầu « kể từ ngày người có quyền biết hoặc buộc phải biết các sự kiện cho phép họ thực hiện quyền khởi kiện »[13]. Ngoài ra, Luật này cũng có quy định về thời hạn tối đa đối với mọi yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu là 20 năm, kể từ thời điểm giao dịch được thiết lập. Tuy nhiên, giải pháp về thời hiệu trong pháp luật dân sự Việt Nam đối với giao dịch vô hiệu tuyệt đối lại là vô hạn. Giải pháp này có sự khác biệt căn bản với pháp luật dân sự của Pháp và nhiều nước trên thế giới như Đức, Trung Quốc, Nhật Bản. Các nước này đều quy định theo hướng thiết lập song song hai loại thời hạn đối với tố quyền yêu cầu huỷ bỏ giao dịch vô hiệu: Một thời hạn ngắn từ 1 đến 5 năm và một thời hạn tối đa tương đối dài kể từ ngày thực hiện hành vi hoặc xác lập giao dịch (Đức là 30 năm; Pháp, Trung Quốc, Nhật Bản là 20 năm).

Đối với các tố quyền khác

Ngoài các quy định về thời hiệu đối với các tố quyền vô hiệu trên đây, pháp luật cũng quy định thời hiệu chung đối với các tố quyền đối nhân, tố quyền động sản là 5 năm. Tuỳ theo trường hợp, các thời hiệu đặc biệt được thiết lập có thể dài hơn hoặc ngắn hơn thời hạn 5 năm. Cụ thể là các trường hợp đặc biệt có thời hiệu là 30 năm, 10 năm, 4 năm, 3 năm, 2 năm, 1 năm hoặc dưới 1 năm. Việc nghiên cứu so sánh cho thấy mặc dù cải tố theo hướng rút ngắn thời hiệu để đáp ứng yêu cầu của nhịp sống hiện tại, thì về căn bản thời hạn của thời hiệu trong pháp luật dân sự Pháp cũng được quy định dài hơn so với pháp luật Việt Nam. Góc nhìn lập pháp này cho thấy pháp luật Việt Nam về thời hiệu dường như chưa thực sự đáp ứng yêu cầu về sự cân bằng giữa mục tiêu ổn định đời sống dân sự và bảo đảm quyền lợi của chủ thể trong các quan hệ dân sự đã được thiết lập.

– Về thời hiệu 5 năm – thời hiệu chung :

Trước khi Luật ngày 17/6/2008 có hiệu lực, thời hiệu chung theo quy định của BLDSP là 30 năm. Thời hạn trên từ lâu đã bị giới nghiên cứu đánh giá là quá dài, nhất là do sự gia tăng của nhịp độ cuộc sống hiện nay. Do vậy, khuynh hướng pháp luật hiện nay ở Pháp cũng như ở các nước là rút ngắn thời hạn của thời hiệu. Điều 2224 BLDSP quy định « Các tố quyền đối nhân hoặc tố quyền động sản hết thời hiệu sau 5 năm kể từ ngày người có quyền lợi biết hoặc buộc phải biết các sự kiện cho phép họ thực hiện quyền này » (Sửa đổi bởi Luật ngày 17/6/2008). Thời hiệu này được áp dụng chung cho các lĩnh vực hợp đồng và bồi thường ngoài hợp đồng, trong lĩnh vực dân sự cũng như thương mại, lao động.

– Về thời hiệu 30 năm:

Hiện nay, theo quy định tại Điều 2227 BLDSP (Sửa đổi bởi Luật ngày 17/6/2008) thì « Quyền sở hữu không thể bị chấm dứt bởi thời hiệu. Trừ trường hợp các tố quyền bất động sản hết thời hiệu sau 30 năm kể từ ngày người có quyền biết hoặc buộc phải biết các sự kiện cho phép họ thực hiện quyền này » (Sửa đổi bởi Luật ngày 17/6/2008). Như vậy, thời hiệu truyền thống 30 năm vẫn tiếp tục được áp dụng đối với các tố quyền đối vật bất động sản «kể từ ngày người có quyền biết hoặc buộc phải biết các sự kiện cho phép họ thực hiện quyền này».

Một quy định mới tại Điều L.152-1 của Luật Môi trường của Pháp, cũng có quy định đặc biệt về thời hiệu 30 năm đối với “nghĩa vụ tài chính liên quan tới những thiệt hại gây ra đối với môi trường bởi các thiết bị, công trình và các hoạt động điều chỉnh bởi luật này…”. Thời hạn này được áp đặt nhằm tuân thủ các quy định tại Chỉ thị 2004/35/CE của Nghị viện Châu Âu. Quy định này được thiết lập là phù hợp với thực tiễn, bởi vì sự phát hiện ra các thiệt hại có liên quan đến ô nhiễm môi trường thường là rất muộn. Tuy nhiên, độ dài của thời hạn này cũng đã được giới hạn, bởi thời điểm bắt đầu thời hiệu sẽ được tính từ khi có “biểu hiện thiệt hại” chứ không phải là thời điểm mà người bị thiệt hại biết được thiệt hại. Đây là điểm khác biệt căn bản với pháp luật Việt Nam, thời hiệu 2 năm để kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (bao gồm cả thiệt hại môi trường) là quá ngắn.

Ngoài ra, các tố quyền huỷ bỏ hôn nhân theo pháp luật dân sự Pháp là 30 năm (Điều 184 và Điều 191 BLDSP), với ngoại lệ về thời hiệu đối với các tố quyền huỷ bỏ hôn nhân do thiếu sự tự do, tự nguyện hoặc do nhầm lẫn là 5 năm kể từ ngày kết hôn hoặc kể từ khi người làm đơn đã hoàn toàn tự do hoặc đã chấp nhận sự nhầm lẫn. Có lẽ do sự khác biệt căn bản về quan niệm lập pháp nên pháp luật Việt Nam đã phát triển theo hướng yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật là vô hạn định.

– Về thời hiệu 10 năm:

Thời hiệu này được áp dụng cho các trường hợp sau: tố quyền thân trạng (truyền thống coi là không áp dụng thời hiệu, sau này được giảm xuống còn 30 năm theo Luật ngày 3/1/1972 về trực hệ, rồi 10 năm bởi Sắc lệnh ngày 4/7/2005 – xem Điều 321 BLDSP); các tố quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ do tai nạn giao thông, nạn nhân của hành vi khủng bố (Điều L. 211–19, L . 1142-28 Luật Bảo hiểm) trừ trường hợp thiệt hại gây ra do tra tấn, hành vi dã man, bạo lực hoặc xâm hại tình dục đối với người chưa thành niên thì thời hiệu là 20 năm; các tố quyền về trách nhiệm nghề nghiệp y tế (Điều L. 1142-28 Luật y tế công); trách nhiệm của nhà sản xuất đối với sản phẩm (Điều 1386 -16 BLDS); tố quyền về trách nhiệm của người cho thuê công trình, kiến trúc sư, chủ thầu…; tố quyền thi hành các chứng thư có hiệu lực; tố quyền trách nhiệm về sự bất hợp thức trong việc thành lập công ty (Điều L. 210-8 LTM)…

Về thời hiệu 4 năm và các thời hiệu ngắn hơn:

Thời hiệu 4 năm được áp dụng đối với các món nợ của Nhà nước hoặc pháp nhân công quyền cũng như các khoản nợ về thuế hoặc tương đương (Điều L. 274 Luật Tài chính công). Thời hiệu 3 năm được áp dụng đối với các việc kiện tuyên bố vô hiệu đối với sự thành lập công ty hoặc các văn bản và các nghị quyết sau khi thành lập công ty, về trách nhiệm đối với công ty thương mại; tố quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại gây ra cho học sinh trong các cơ sở đào tạo (Điều L. 274 Luật Tài chính công)…Thời hiệu 2 năm áp dụng với kiện huỷ bỏ giao dịch thực hiện bởi một bên vợ chồng do vượt quá quyền hạn của mình đối với tài sản chung; tố quyền kiện huỷ hợp đồng mua bán vì khuyết tật của sản phẩm; kiện về trách nhiệm nghề nghiệp đối với tài sản và dịch vụ cung cấp đối với người tiêu thụ; các việc kiện phát sinh từ hợp đồng bảo hiểm; kiện hãng vận chuyển hàng không hoặc vận tải biển; kiện về tai nạn lao động; về trách nhiệm của thừa phát lại do làm mất hoặc huỷ tài liệu, giấy tờ. Thời hiệu 1 năm áp dụng với kiện tuyên bố vô hiệu các giao dịch do một bên vợ chồng tự quyết định về chỗ ở của gia đình; yêu cầu huỷ bỏ việc tặng vì lý do vô ơn…Một số trường hợp thời hiệu có thể dưới 1 năm, chẳng hạn, thời hiệu 6 tháng đối với kiện ghi chuyển nhượng LC, thời hiệu 3 tháng đối với kiện bồi thường thiệt hại do vu khống, lăng nhục bởi báo chí, thời hiệu 2 tháng đối với các tranh chấp bởi các đồng sở hữu chủ vắng mặt hoặc phản đối các quyết định của đại hội của nghiệp đoàn các đồng sở hữu.

– Về trường hợp không áp dụng thời hiệu

Theo lịch sử lập pháp Việt Nam thì có những quyền lợi dù không được sử dụng cũng không bị tiêu diệt. Đó là các quyền tinh thần thuộc về gia đình và quyền sở hữu[14]. Pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành đã phát triển theo hướng không áp dụng thời hiệu đối với các yêu cầu hoàn trả tài sản thuộc sở hữu nhà nước, yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân và các trường hợp khác mà pháp luật có quy định (Điều 160 BLDS 2005) nhưng lại không có điều khoản nào quy định về tính vĩnh viễn của quyền sở hữu và quyền kiện về sở hữu.

Nghiên cứu rộng ra thì hiện nay pháp luật dân sự Pháp vẫn giữ truyền thống trước đây là thời hiệu tiêu diệt không thể làm chấm dứt quyền sở hữu. Tính không thể tiêu diệt do thời hiệu được thể hiện trong các quy định về quyền sở hữu, quyền này không thể bị mất do không sử dụng theo thời gian, do vậy, thời hiệu tiêu diệt không thể áp dụng đối với các tố quyền đòi lại tài sản sở hữu là động sản cũng như bất động sản (Điều 2227 BLDSP). Việc yêu cầu đòi lại tài sản chỉ có thể không được chấp nhận trong trường hợp một quyền lợi có được do chiếm hữu liên tục bởi thời hiệu thủ đắc, đối với các động sản theo quy định tại Điều 2276 BLDSP (Điều 2279 được sửa đổi bởi Luật ngày 17/6/2008 là 3 năm), đối với các tố quyền đối vật bất động sản khác sẽ không thể kiện đòi sau khi hết thời hiệu 30 năm (Điều 2227). Nguyên tắc không chấm dứt quyền do thời hiệu không chỉ được áp dụng đối với quyền sở hữu tài sản hữu hình mà còn được áp dụng đối với quyền sở hữu tác phẩm văn học và nghệ thuật và các quyền kiện về cắm mốc phân giới, về tường ngăn chung của hai bên và kiện phân chia tài sản chung. Bởi vì, mặc dù không thuộc trường hợp kiện đòi tài sản sở hữu nhưng các việc kiện này đều gắn liền và có đặc tính của quyền sở hữu. Quyền cắm mốc phân giới và quyền về tường ngăn chung đều là những quyền gắn với sở hữu, do vậy, quyền kiện về cắm mốc phân giới, tường ngăn chung có tính vĩnh viễn, không thể áp dụng thời hiệu[15]. Về phân chia tài sản chung thì về nguyên tắc không thể buộc chủ sở hữu chung phải đặt tài sản của mình trong tình trạng không thể phân chia, do họ đã không yêu cầu phân chia trong một thời hạn nào đó. Điều 815 BLDSP quy định: « Không ai có thể bị buộc phải chấp nhận trong tình trạng di sản chưa chia và bất cứ lúc nào cũng có thể yêu cầu chia di sản trừ trường hợp việc này được tạm hoãn theo bản án hoặc theo thỏa thuận ».

4.2. Về hiệu lực của thời hiệu

Vấn đề thời hiệu làm chấm dứt tố quyền hay quyền lợi là một vấn đề còn có ý kiến khác nhau. Ở Pháp, vấn đề thời hiệu sẽ làm chấm dứt tố quyền hay chấm dứt nghĩa vụ cũng tồn tại hai quan điểm đối lập nhau. Một số tác giả theo « thuyết thủ tục » thì cho rằng thời hiệu chỉ làm chấm dứt tố quyền tại Toà án mà không làm chấm dứt nghĩa vụ của con nợ. Những tác giả này cho rằng thời hiệu là một phương tiện tố tụng, tức là một yêu cầu bác đơn làm mất đi của chủ nợ quyền theo kiện con nợ. Con nợ có thể yêu cầu Toà án bác đơn kiện mà không xem xét đến nội dung vụ kiện vì lý do thời hiệu đã hết. Theo một quan niệm khác – « thuyết thực thể » thì thời hiệu không chỉ làm chấm dứt tố quyền mà còn làm chấm dứt quyền lợi. Các tác giả François Terré, Philippe Simler, Yves Lequette cho rằng « Thời hiệu tiêu diệt có hiệu lực đầu tiên và hiển nhiên là làm chấm dứt nghĩa vụ theo thời hiệu. Nói cách khác là chủ nợ không thể đòi hỏi con nợ phải thi hành nghĩa vụ của họ nữa »[16].

Về phương diện luật thực định, nhà lập pháp của Pháp dường như đã không quyết định dứt khoát về vấn đề này. Điều 122 BLTTDSP khẳng định rằng yêu cầu bác đơn vì lý do hết thời hiệu « nhằm yêu cầu Toà án không chấp nhận đơn của phía bên kia mà không cần xem xét nội dung đơn vì người đứng đơn không có quyền tham gia tố tụng ». Nhưng văn từ của BLDSP trước đây cũng như sau sửa đổi bởi Luật ngày 17/6/2008 cho thấy khi thì thời hiệu làm chấm dứt quyền lợi (Điều 2219, 2221, 2227)[17], khi thì thời hiệu làm chấm dứt tố quyền (Điều 2224 và 2225)[18].

Xét về thực tế thì « thuyết thực thể » – thời hiệu không chỉ làm chấm dứt tố quyền mà còn làm chấm dứt quyền lợi là thuyết đã thúc đẩy học lý và án lệ Pháp. Một tác giả khẳng định « thời hiệu làm chấm dứt quyền lợi, bởi vì nó không chỉ làm chấm dứt tố quyền mà nó còn làm chấm dứt một cách hoàn toàn quyền lợi »[19]. Cơ sở của thuyết này dựa trên lập luận sau: Nếu coi thời hiệu chỉ chấm dứt quyền kiện ra toà sẽ dẫn đến một sự nghịch lý là có những nghĩa vụ sẽ vĩnh viễn không thể bị chấm dứt vì thời hiệu, do chủ nợ đã thực hiện việc khởi kiện và có trong tay một bản án chưa được thi hành. Trong khi đó, chắc chắn là các khoản nợ được xác định bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật cũng phải chấm dứt theo thời hiệu chung được luật định.

Về lý luận thì sự chấm dứt nghĩa vụ vì hết thời hiệu không diễn ra một cách mặc nhiên mà cần phải được con nợ thể hiện ý chí của mình bằng cách viện dẫn việc hết thời hiệu[20]. Tinh thần căn bản này đã được thể hiện trong Điều 2247 BLDSP: « Thẩm phán không thể tự mình thay thế căn cứ phát sinh thời hiệu ». Có nghĩa là Thẩm phán không thể tự mình viện dẫn việc hết thời hiệu và con nợ được tự mình quyết định việc viện dẫn hoặc không viện dẫn việc hết thời hiệu để bác bỏ việc trả nợ. Hệ quả là nếu người có nghĩa vụ đã trả nợ khi thời hiệu đã hết thì họ sẽ không thể kiện yêu cầu đòi hoàn lại số tiền đã trả nữa (Điều 2249 BLDSP). Quy định này được áp dụng ngay cả khi con nợ do không biết thời hiệu đã hết nên không phản đối việc đòi nợ, họ được suy đoán là tự nguyện trả khoản nợ đã hết thời hiệu. Nghiên cứu rộng ra cho thấy, giải pháp này cũng được chấp nhận trong pháp luật dân sự Đức (Điều 275, 439, 653 và Điều 218 BGB).

Theo truyền thống dân luật Pháp thì việc con nợ tự nguyện thực hiện nghĩa vụ trong trường hợp nêu trên được coi là việc thực hiện một nghĩa vụ tự nhiên. Đó là một loại nghĩa vụ tương phản với nghĩa vụ dân sự, theo đó việc không thực hiện nghĩa vụ không bị pháp luật trừng trị và việc nghĩa vụ đó có được thực hiện hay không chỉ được kiểm chứng qua sự thành thực của người có nghĩa vụ. Nghĩa vụ tự nhiên là một loại quy phạm đạo đức, chứ không phải là quy phạm pháp luật. Người đã tự nguyện thực hiện nghĩa vụ tự nhiên không có quyền đòi lại những gì đã thực hiện[21]. Tinh thần căn bản này đã được thể hiện tại Điều 1235 BLDSP. Theo đó, trường hợp con nợ được giải phóng khỏi khoản nợ bởi thời hiệu thì về pháp lý, con nợ này không có trách nhiệm phải trả nợ nữa và con nợ có quyền không biết đến những yêu cầu mà chủ nợ cũ đã yêu cầu họ thực hiện. Nhưng theo đòi hỏi của lương tâm, họ có thể tự nguyện trả nợ mặc dù biết rằng điều đó là không bắt buộc vì món nợ đã hết thời hiệu, trong trường hợp này, pháp luật cấm con nợ đòi hoàn trả khoản tiền mà mình đã trả khi hết thời hiệu[22].

Ở Việt Nam, quan niệm thời hiệu làm chấm dứt tố quyền đã được tiếp cận « Thời hiệu này làm cho tố quyền của chủ nợ đối với con nợ vô hiệu vì đã không hành xử trong thời hạn luật định »[23]. Giáo sư Vũ Văn Mẫu cho rằng « Một khi thời gian luật định đã trôi qua, tố quyền xin tiêu huỷ sẽ bị tiêu diệt, bất luận là sự vô hiệu có tính cách tương đối hay tuyệt đối »[24]. Trong một công trình khác tác giả này nhận xét rằng thời hiệu là thời hạn do luật ấn định có hiệu lực…tiêu diệt món nợ của đương sự. Đây là trường hợp thời hiệu tiêu diệt[25].

Quan niệm này cũng được một số nhà nghiên cứu khác tán đồng. Cụ thể là « Một quyền lợi không được chủ thể sử dụng trong một thời gian lâu sẽ bị thời tiêu. Trên nguyên tắc, thời gian này, theo DLP là 30 năm (Điều 2262). Theo DLB (Điều 857) thời gian dài nhất để giải trừ nghĩa vụ là 20 năm. DLT lại ấn định thời hiệu là 10 năm (Điều 935). Thời hiệu còn có thể ngắn hơn nữa trong những trường hợp bất thường »[26]. Nhà nghiên cứu Nguyễn Huy Đẩu khẳng định rõ hơn rằng « …nếu vụ tranh tụng bị trước tiêu thì quyền lợi và tố quyền cũng bị tiêu diệt luôn »[27].

Như vậy, theo kết quả nghiên cứu thì pháp luật Việt Nam về thời hiệu dân sự dưới thời Pháp thuộc chịu nhiều ảnh hưởng của pháp luật dân sự Pháp. Sau này vì lý do lịch sử nên một số quy định về thời hiệu dân sự được mô phỏng từ pháp luật dân sự Pháp không còn được áp dụng nữa. Nhà lập pháp đương đại dường như đi theo hướng tách biệt thời hiệu dân sự làm 3 loại riêng biệt là thời hiệu hưởng quyền dân sự, thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự và thời hiệu khởi kiện (Điều 154 đến Điều 162 BLDS 2005). Tuy nhiên, việc khảo cứu học lý, luật thực định và án lệ của Pháp và Việt Nam dưới thời Pháp thuộc cho thấy chỉ có hai loại thời hiệu là thời hiệu thủ đắc và thời hiệu tiêu diệt. Thời hiệu (prescription) được hiểu là thời hạn do luật ấn định có hiệu lực biến sự chiếm hữu một tài sản thành quyền sở hữu (thời hiệu thủ đắc – prescription acquisitive) hoặc tiêu diệt món nợ của đương sự (thời hiệu tiêu diệt – prescription libératoire hay prescription extinctive). Khi các đương sự đã để trôi qua một thời gian quá lâu mà không hành động thì quyền chiếm hữu đã thành quyền sở hữu hay món nợ đã bị tiêu diệt[28]. Như vậy, theo nhận định này thì thời hiệu thủ đắc hay thời hiệu hưởng quyền dân sự và thời hiệu tiêu diệt hay thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Thuật ngữ thời hiệu khởi kiện dường như không tồn tại với tư cách là một loại thời hiệu riêng biệt mà được bao hàm trong thuật ngữ thời hiệu tiêu diệt hay thời hiệu chấm dứt quyền.

Như đã phân tích ở trên thì thuyết “thời hiệu không chỉ làm chấm dứt tố quyền mà còn làm chấm dứt quyền lợi” là thuyết đã thúc đẩy học lý và án lệ Pháp. Về phương diện luật thực định, nhà lập pháp của Pháp dường như đã không quyết định dứt khoát về vấn đề này. Tuy nhiên trong từ điển luật học của Pháp không tồn tại thuật ngữ “thời hiệu khởi kiện” mà chỉ có thuật ngữ thời hiệu tiêu diệt. Vậy xét về bản chất thì việc hết “thời hiệu khởi kiện” trong pháp luật Việt Nam sẽ chỉ làm chấm dứt quyền khởi kiện hay làm chấm dứt cả quyền lợi của chủ thể về phương diện pháp lý. Luật thực định Việt Nam đi theo hướng khi thời hiệu khởi kiện kết thúc thì “mất quyền khởi kiện”[29]. Về học lý, do sự “đứt gãy” về truyền thống lập pháp nên cho đến nay vấn đề này dường như vẫn còn bỏ ngỏ. Xét về tính thực tế của vấn đề thì khi quyền khởi kiện bị mất do hết thời hiệu thì dường như quyền lợi của chủ thể cũng chấm dứt vì pháp luật hiện hành không quy định bất kỳ phương tiện pháp lý nào khác để chủ thể có thể đạt được quyền lợi của mình khi hết thời hiệu khởi kiện.

Tuy nhiên, thực tiễn tư pháp Việt Nam dường như đã chấp thuận một trường hợp đặc biệt về quyền khởi kiện chấm dứt nhưng quyền lợi vẫn tồn tại. Đó là, trường hợp thời hiệu khởi kiện về thừa kế (10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế) đã hết thì người thừa kế vẫn có thể khởi kiện yêu cầu chia tài sản thuộc sở hữu chung. Sau một thời gian dài do dự với quan niệm « quyền thừa kế không đồng nhất với quyền sở hữu, nên thời điểm phát sinh quyền thừa kế không đồng thời phát sinh quyền sở hữu. Vì vậy, họ không thể kiện đòi tài sản với tư cách chủ sở hữu »[30] thực tiễn tư pháp đã ngả theo hướng chấp thuận quyền kiện chia tài sản chung của các đồng thừa kế với các điều kiện bảo lưu. Theo đó, « Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết… ». « Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa kế không trực tiếp quản lý, sử dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo uỷ quyền…thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại di sản »[31].

Như vậy, theo góc nhìn lịch sử và so sánh thì giải pháp trên trong thực tiễn tư pháp Việt Nam dường như đi theo đường lối về tính không thể áp dụng thời hiệu đối với quyền sở hữu (ngoại lệ của thời hiệu tiêu diệt trong pháp luật). Đường lối về thời hiệu tiêu diệt không làm chấm dứt quyền sở hữu đã từng tồn tại trong lịch sử pháp luật dân sự Việt Nam và có nguồn gốc sâu xa từ truyền thống dân luật Pháp. Xét về bản chất thì giải pháp trong thực tiễn tư pháp trên cũng không thuộc trường hợp thời hiệu chỉ làm chấm dứt quyền khởi kiện (không làm chấm dứt quyền lợi) mà đơn giản chỉ là sự chuyển hoá từ quyền khởi kiện chia thừa kế sang quyền khởi kiện chia tài sản thuộc sở hữu chung. Tuy nhiên, sự chuyển hoá từ về việc kiện về thừa kế đã hết thời hiệu khởi kiện sang việc kiện về yêu cầu chia tài sản thuộc sở hữu chung với bảo lưu về điều kiện áp dụng cũng đặt ra vấn đề về ý nghĩa của thời hiệu 10 năm đối với yêu cầu khởi kiện chia thừa kế. Nếu coi quyền khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế không bị hạn chế bởi thời hiệu và quyền này chỉ bị chấm dứt trong trường hợp người chiếm hữu trở thành sở hữu chủ do thời hiệu hưởng quyền dân sự để hoá giải vướng mắc hiện nay đối với những vụ kiện chia di sản thừa kế vừa có phần di sản đã hết thời hiệu khởi kiện và vừa có phần di sản còn thời hiệu khởi kiện[32] thì việc người thừa kế chiếm hữu phần di sản chưa chia của các đồng thừa kế khác có được coi là ngay tình để được hưởng thời hiệu thủ đắc hay không cũng là vấn đề cần phải được bàn thêm.

4.3. Sự phân biệt giữa hết thời hiệu kiện với chấm dứt tố tụng vì hết thời hạn tố tụng

Việc đi sâu nghiên cứu nội dung này nhằm hai chủ đích là tránh sự ngộ nhận về khái niệm và lý giải về phương diện lý luận sự cải cách của pháp luật tố tụng dân sự hiện nay về vấn đề này. Trên thưc tế việc nhầm lẫn giữa thời hiệu tiêu diệt với thời hạn tố tụng có thể dẫn đến những hệ quả về phương diện lập pháp. Theo như phân tích ở trên, về phương diện học lý thì thời hiệu làm chấm dứt tố quyền hay quyền lợi cũng có hai quan điểm đối lập nhau trong giới nghiên cứu của Pháp. Luật thực định cũng không có quyết định rõ ràng về vấn đề này. Tuy nhiên, học lý và án lệ Pháp sau này thiên về hướng thời hiệu làm chấm dứt đồng thời cả tố quyền và quyền lợi.

Ở Việt Nam, trước đây nhà nghiên cứu Nguyễn Huy Đẩu đã từng nhận xét rằng nhà làm luật ở Trung, ở Nam “đã lấy hiệu lực của thời tiêu tố quyền để chế tài sự không hành động của đương sự có việc đang kiện trước toà”. Chỉ cần chậm trễ trong 18 tháng (Trung) hay 6 tháng (Nam) là quyền lợi bị tiêu tan, vì hiệu lực của sự không hành động trong lúc đang theo kiện là tố quyền bị tiêu diệt. Hậu quả quá gay gắt của việc định ra chế tài này là do sự hỗn đồng giữa hai khái niệm thất hiệu (péremption) và thời hiệu tiêu diệt (prescription) mà ra[33]. Theo ông “Có thể rằng sự ngộ nhận giữa các tính cách và hiệu lực trong quan niệm cũ này đã làm nhà lập pháp 1910 và 1942 sai lạc đường lối. Dù sao đó cũng là một điểm đáng lưu ý nhà làm luật sau này”[34].

Tiếp tục theo hướng nghiên cứu này cho thấy, tố quyền sẽ bị chấm dứt nếu không được sử dụng trong thời hạn luật định. Có nghĩa là hết thời hạn luật định thì chủ thể quyền lợi không thể kiện được nữa, trừ “tố quyền bất khả tiêu diệt” hay tố quyền không thể áp dụng thời hiệu (action imprescriptible) như tố quyền thân trạng đối với việc xác định cha mẹ cho con. Theo quan niệm này thì quyền lợi và tố quyền cùng bị chấm dứt khi hết thời hiệu. Việc nghiên cứu tìm hiểu về bản chất của thất hiệu hay chấm dứt tố tụng vì hết thời hạn (péremption de l’instance) cho thấy đây là sự chấm dứt tố tụng theo yêu cầu của bị đơn, vì lý do sau khi nộp đơn kiện thì nguyên đơn đã để quá thời hạn hai năm mà không thực hiện các hành vi tố tụng tiếp theo. Do vậy, có thể suy đoán họ đã từ bỏ việc kiện và Toà án có thể bãi bỏ vụ kiện nếu như bị đơn yêu cầu.

Về bản chất thì sự chấm dứt tố tụng vì hết thời hạn tố tụng tuy có hậu quả làm huỷ bỏ vụ kiện nhưng không cản trở đương sự khởi kiện lại nếu vẫn còn thời hiệu kiện (Điều 386 Bộ luật tố tụng dân sự Pháp). Đây là điểm căn bản nhất để phân biệt việc chấm dứt tố tụng vì hết thời hạn với thời hiệu tiêu diệt (hay thời hiệu khởi kiện theo cách hiểu hiện nay ở Việt Nam). Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành không quy định về việc huỷ bỏ vụ kiện vì hết thời hạn tố tụng. Tuy nhiên, Toà án sẽ trả đơn khởi kiện cho đương sự nếu hết thời hạn được thông báo mà người khởi kiện không đến Toà án làm thủ tục thụ lý vụ án (điểm d khoản 1 Điều 168 BLTTDS) hoặc nếu họ không sửa đổi, bổ sung đơn kiện theo yêu cầu của Toà án (khoản 2 Điều 169 BLTTDS). Ngoài ra, nếu nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi là đã từ bỏ việc khởi kiện và Toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án (Điều 199 BLTTDS).

Sự nhầm lẫn trên dẫn tới trong một thời gian khá dài luật thực định của Việt Nam đã đi theo hướng Toà án sẽ trả lại đơn kiện cho đương sự vì lý do thời hiệu khởi kiện đã hết. Vấn đề này đã từng là điều tâm huyết và trăn trở của cố Luật sư Lê Kim Quế[35]. Thiết nghĩ, việc trả lại đơn kiện, không thụ lý vụ kiện vì lý do hết thời hiệu khởi kiện trong luật thực định dường như không bảo đảm quyền tiếp cận công lý của công dân. Bởi vì, việc hết “thời hiệu khởi kiện” có hệ quả là làm chấm dứt quyền lợi của chủ thể. Xét về thực tế thì việc thẩm định vụ kiện còn thời hiệu kiện hay không cũng cần phải có sự xét đoán thận trọng, nhất là trong trường hợp cần phải xác định thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện do có trở ngại khách quan, sự kiện bất khả kháng hoặc bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện. Việc trả đơn khởi kiện, không thụ lý làm cho nguyên đơn mặc nhiên bị tước đi quyền kháng cáo yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm cứu xét tới quyền lợi của mình. Việc nghiên cứu cho thấy để bảo đảm quyền tiếp cận công lý của công dân, pháp luật tố tụng dân sự Pháp đã lựa chọn giải pháp Toà sơ thẩm xử bác đơn kiện của đương sự mà không xét tới nội dung của vụ kiện và đương sự không đồng ý với quyết định này có thể kháng cáo yêu cầu Toà phúc thẩm xem xét lại[36].

Như vậy, một góc nhìn xuyên suốt lịch sử lập pháp Việt Nam về thời hiệu dân sự trong mối liên hệ với học lý, luật thực định và án lệ Pháp sẽ hữu ích cho việc giải quyết những vướng mắc hiện nay về thời hiệu dân sự ở Việt Nam. Để bảo đảm quyền tiếp cận công lý của công dân thì giải pháp về thời điểm bắt đầu, độ dài của thời hiệu dân sự trong dân luật Pháp cũng có giá trị tham khảo cho việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam. Quy định về hiệu lực của thời hiệu thông qua hành vi viện dẫn việc hết thời hiệu của người có nghĩa vụ và việc tự nguyện thực hiện nghĩa vụ sau khi đã hết thời hiệu trong dân luật Pháp cũng là những quy định cần được nghiên cứu tiếp thu. Ngoài ra, việc tham khảo kinh nghiệm lập pháp của Pháp về các trường hợp không áp dụng thời hiệu, mối liên hệ giữa thời hiệu hưởng quyền dân sự với thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự sẽ góp phần hoá giải những vướng mắc trong thực tiễn tư pháp và lập pháp hiện nay ở Việt Nam.

Trên đây là một số nghiên cứu xung quanh vấn đề thời hiệu dân sự. Đây là một vấn đề thực sự quan trọng và phức tạp, liên quan mật thiết đến quyền lợi của công dân và chính sách pháp luật của quốc gia. Do vậy, rất mong được quý bạn đọc quan tâm trao đổi để vấn đề nghiên cứu có thể được làm sáng rõ thêm. Hy vọng rằng sự kết hợp giữa học lý châu Âu lục địa với truyền thống luật án lệ và thành tựu lập pháp của tiền nhân sẽ đặt nền tảng căn bản cho việc hoàn thiện pháp luật nước nhà về vấn đề này.


[1] Ayya Khema, Vô ngã vô ưu, Nxb Phương Đông 2009, tr. 17, 38, 39 ; Ngọc Liên, Thuần Tâm, Triết lý Phật Thích Ca, Nxb Tri thức 1972, tr. 15.

[2] Khâm định Việt sử thông giám cương mục IV, 39a – Đại Việt sử ký IV, 36a ; Vũ Văn Mẫu, Dân luật khái luận, Bộ Quốc gia giáo dục xuất bản, 1958, tr. 190, 191.

[3] Khâm định Việt sử thông giám cương mục IV, 39a – Đại Việt sử ký IV, 36a ; Vũ Văn Mẫu, Dân luật khái luận, Bộ Quốc gia giáo dục xuất bản, 1958, tr. 192.

[4] GS. TS. Lê Minh Tâm, Ths. Vũ Thị Nga, Giáo trình Lịch sử Nhà nước và pháp luật Việt Nam, Nxb CAND 2009, tr. 117.

[5] Cao Nãi Quang, Nguyễn Sĩ Giác, Vũ Văn Mẫu, Quốc triều hình luật, Nxb Nguyễn Văn Của, 1956..

[6] Vũ Văn Mẫu, Lê Đình Chân, Danh từ và tài liệu Dân luật và Hiến luật, Tủ sách Đại học, Sài Gòn 1968. tr.164, 165.

[7] Trần Thúc Linh, Danh từ pháp luật lược giải, Nhà sách Khai Trí, tr. 866: Các giáo sư, giáo viên chỉ có thời hạn 6 tháng để kiện đòi tiền dạy học, các chủ khách sạn chỉ có thời hạn 6 tháng để kiện đòi tiền khách hàng ngủ trọ; các thừa phát lại chỉ có thời hạn 1 năm để kiện đòi tiền thù lao ; các bác sĩ, cô đỡ, dược sĩ có thời hạn 2 năm để kiện đòi tiền khám bệnh hay mua thuốc ; tiền thuê nhà, tiền lời vay nợ chịu thời hiệu tiêu diệt 5 năm ; tất cả tố quyền đối vật hay đối nhân, các vật quyền như quyền địa dịch hưởng dụng thu lợi cũng chịu thời hiệu tiêu diệt 30 năm.

[8] Nguyễn Quang Quýnh, Dân luật, quyển I, Luật học nhập môn nhân thân gia đình, Bộ văn hoá giáo dục, Viện đại học Cần Thơ xuất bản 1967, tr. 136, 442.

[9] Vũ Văn Mẫu, Việt Nam dân luật lược khảo, quyển II, Nghĩa vụ và khế ước, Bộ quốc gia giáo dục xuất bản 1963, tr. 230

[10] Code civil, Dalloz, 109e édition, 2010. Cần lưu ý là Luật 2008 – 561 ngày 17/6/2008 chỉ là Luật về cải cách thời hiệu dân sự còn theo truyền thống dân luật Pháp thì vấn đề thời hiệu được quy định tại Thiên thứ XX BLDSP và các luật chuyên ngành.

[11] François Terré, Philippe Simler, Yves Lequette, Les obligations, édition Dalloz 2009, 10e édition, tr. 422, 423, 426.

[12] Nhà pháp luật Việt – Pháp, Organisation internationale de la Francophonie, Từ điển thuật ngữ pháp luật Việt – Pháp, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội 2009, tr. 721.

[13] Code civil, Dalloz, 109e édition, 2010.

[14] Nguyễn Quang Quýnh, Dân luật, quyển I, Luật học nhập môn nhân thân gia đình, Bộ văn hoá giáo dục, Viện đại học Cần Thơ xuất bản 1967, tr. 136, 442..

[15] François Terré, Philippe Simler, Yves Lequette, Sđd, tr. 1457.

[16] François Terré, Philippe Simler, Yves Lequette, Sđd, tr. 1480.

[17] Chấm dứt quyền lợi: Theo Điều 2219 BLDSP thì « Thời hiệu tiêu diệt là một cách thức chấm dứt quyền lợi do việc không hành động của người có quyền trong một khoảng thời gian xác định » (Sửa đổi bởi Luật ngày 17/6/2008). Điều 2227 BLDSP định rằng « Quyền sở hữu không thể bị tiêu diệt bởi thời hiệu. Ngoại trừ trường hợp này, các tố quyền bất động sản hết thời hiệu sau 30 năm kể từ ngày người có quyền biết hoặc buộc phải biết các sự kiện cho phép họ thực hiện quyền này » (Sửa đổi bởi Luật ngày 17/6/2008).

[18] Chấm dứt tố quyền: Điều 2224 BLDSP : « Các tố quyền đối nhân hoặc tố quyền động sản hết thời hiệu sau 5 năm kể từ ngày người có quyền lợi biết hoặc buộc phải biết các sự kiện cho phép họ thực hiện quyền này » (Sửa đổi bởi Luật ngày 17/6/2008). Điều 2225 BLDSP: « Các tố quyền về trách nhiệm đại diện hoặc trợ giúp các đương sự tại Toà án, bao gồm cả việc làm mất hoặc phá huỷ tài liệu đã được tin tưởng phó thác, có thời hiệu là 5 năm kể từ ngày chấm dứt việc đại diện hoặc trợ giúp » (Sửa đổi bởi Luật ngày 17/6/2008).

[19] Bandrac, art. préc., n° 37; François Terré, Philippe Simler, Yves Lequette, Les obligations, édition Dalloz 2009, 10e édition, tr. 1480 – 1482.

[20] François Terré, Philippe Simler, Yves Lequette, Les obligations, édition Dalloz 2009, 10e édition, tr. 1480.

[21] Nhà pháp luật Việt – Pháp, Organisation internationale de la Francophonie, Từ điển thuật ngữ pháp luật Việt – Pháp, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội 2009, tr. 593.

[22] Jean – Luc Aubert, Introduction au droit et thèmes fondamentaux du droit civil, édition ARMAND COLIN 1995, tr.19.

[23] Trần Thúc Linh, Danh từ pháp luật lược giải, tr. 866.

[24] Vũ Văn Mẫu, Việt Nam dân luật lược khảo, quyển II, Nghĩa vụ và khế ước, Bộ quốc gia giáo dục xuất bản 1963, tr. 231 – 232.

[25] Vũ Văn Mẫu, Lê Đình Chân, Danh từ và tài liệu Dân luật và Hiến luật, Tủ sách Đại học, Sài Gòn 1968. tr. 164, 165.

[26] Nguyễn Quang Quýnh, Dân luật, quyển I, Luật học nhập môn nhân thân gia đình, Bộ văn hoá giáo dục, Viện đại học Cần Thơ xuất bản 1967, tr. 136.

[27] Nguyễn Huy Đẩu, Luật dân sự tố tụng Việt Nam, Xuất bản dưới sự bảo trợ của Bộ tư pháp, Sài Gòn 1968, đoạn 1058.

[28] Vũ Văn Mẫu, Lê Đình Chân, Sđd, tr.164, 165.

[29] Riêng đối với giao dịch dân sự vô hiệu tương đối thì nhà lập pháp suy đoán rằng chủ thể của giao dịch coi như đã thừa nhận và chấp nhận thực tại nếu họ để vượt quá thời hạn 2 năm kể từ ngày xác lập giao dịch mà không khởi kiện huỷ bỏ giao dịch. Do vậy, họ sẽ bị mất quyền khởi kiện và phải thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo cam kết (Điều 136 BLDS 2005).

[30] Báo cáo tham luận của Toà Dân sự tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án nhân dân 2003, tr. 4-5.

[31] Nghị quyết số 02/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, tr. 4, 5.

[32] Tham luận của Toà Dân sự tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án nhân dân 2008, ngày 15/11/2008, tr. 7.

[33] Nguyễn Huy Đẩu, Luật dân sự tố tụng Việt Nam, Xuất bản dưới sự bảo trợ của Bộ tư pháp, Sài Gòn 1968, đoạn 1057.

[34] Nguyễn Huy Đẩu, Luật dân sự tố tụng Việt Nam, Xuất bản dưới sự bảo trợ của Bộ tư pháp, Sài Gòn 1968, đoạn 1057 – 1059.

[35] Ý tưởng này được nghiên cứu và phát triển trên cơ sở tiếp thu ý kiến của bậc Thầy mẫu mực và đáng kính nay đã đi xa – cố Luật sư Lê Kim Quế – nguyên Vụ trưởng Vụ Nghiên cứu pháp luật thuộc Toà án nhân dân tối cao, Chủ nhiệm Đoàn Luật sư Hà Nội.

[36] Serge Guinchard et Frédérique Ferrand, Procédure civile, Droit interne et droit communautaire, 28e édition Dalloz 2006, tr. 210 – 217, 1170.

SOURCE: TẠP CHÍ TÒA ÁN NHÂN DÂN SỐ 11, THÁNG 6 NĂM 2011

Advertisements

2 Responses

  1. Bài nghiên cứu sâu sắc nhưng ngôn ngữ và cách viết nội dung quá dài dòng. Có lẽ đọc xong thì người đọc cũng mệt với việc tự tóm tắt. Gía mà ai đó biên soạn lại cho những người không phài dân chuyên luật đọc và hiểu được nhỉ? Không phải lúc nào cũng có thời gian vô hạn để ngồi đọc hết. Mà không đọc thì tiếc quá!

  2. Có phải tác giả là GS TRẦN ANH TUẤN – GS Học viện QG HÀNH CHÍNH SÀI GÒN ? Nếu đúng xin được phép hoan nghinh
    NGUYỄN MINH ĐÌNH
    MOBI; 0908779874

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: