Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ

TS. TRẦN ANH TUẤN – Bộ môn Luật Tố tụng dân sự, Khoa Luật Dân sự – Đại học Luật Hà Nội

1. Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam trong tiến trình hội nhập nhìn từ góc độ văn hoá, lịch sử và truyền thống dân tộc

Con người vốn không hoàn hảo và loài người vốn bất toàn. Do vậy, từ xưa tới nay, dù ở Đông phương hay Tây phương thì trật tự xã hội được duy trì là nhờ vào luân lý và luật pháp. Xét theo lẽ thường thì luân lý và luật pháp quốc gia được hình thành trên nền tảng của những triết lý nhân bản, hướng tới việc duy trì trật tự xã hội và phụng sự cho cuộc sống của con người được tốt đẹp hơn. Các triết lý nhân bản này vốn bắt nguồn từ cuộc sống và là sự phản ánh của đời sống thực tại, cho nên sự thể hiện các triết lý này trong luật pháp không thể tách rời các điều kiện kinh tế – xã hội, truyền thống lịch sử và nền văn hoá của mỗi nước. Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế hiện nay thì các triết lý căn bản về tố tụng dân sự và sự thể hiện nó trong pháp luật của mỗi quốc gia cũng không nằm ngoài quy luật chung này. Hội nhập quốc tế về pháp luật tố tụng dân sự không có nghĩa là đồng nhất hoá hay lai tạp luật pháp của các quốc gia với nhau mà là sự tiếp biến và chọn lọc có điều kiện những ưu việt của nền văn minh nhân loại cho phù hợp với điều kiện của mỗi nước. Có như vậy thì hiện tượng “có mới, nới cũ”, “sính ngoại” hay “đứt gãy về truyền thống lập pháp”, làm mất đi “hồn cốt dân tộc” mới được khắc phục và loại trừ.

Để có một cái nhìn thấu đáo về pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta cần nghiên cứu và đánh giá một cách nghiêm cẩn thành tựu lập pháp của tiền nhân, trên cơ sở đó mà suy xét về những vấn đề đang được đặt ra trong giai đoạn hiện nay. Có thể nhận xét rằng những giải pháp cụ thể về hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam trong tiến trình hội nhập không thể không gắn với lịch sử lập pháp về tố tụng dân sự, điều kiện kinh tế, xã hội và truyền thống văn hoá dân tộc. Bởi vì nếu chỉ sao chép nguyên bản các định lệ về tố tụng của nước ngoài theo trào lưu hội nhập mà không xét đến gốc rễ, cội nguồn sâu xa của vấn đề trong mối liên hệ với nền văn hoá và triết lý nhân sinh của mỗi dân tộc thì e rằng các quy định được xây dựng sẽ trở nên xa lạ với đời sống và khó có thể trường tồn. Xét ở góc độ tinh thần tự tôn dân tộc thì việc tiếp nhận một cách cơ học luật pháp nước ngoài còn có thể vô tình làm cho bản sắc văn hoá pháp lý và chủ quyền dân tộc bị lu mờ trước sức xâm lấn và đồng hoá của luật pháp ngoại bang.

Trong xu thế toàn cầu hoá và mở rộng giao lưu thương mại giữa các quốc gia hiện nay thì sự trao đổi và tiếp biến văn hoá tư pháp giữa phương Đông và phương Tây là một tất yếu khách quan. Tuy nhiên, trong lĩnh vực tư pháp dân sự thì định lệ về tố tụng dân sự được xây dựng phải đáp ứng được hai yêu cầu cơ bản: Tiếp thu được những thành tựu khoa học tố tụng của các nước phát triển nhưng không quá xa lạ với người Việt và văn hoá Việt. Nhà lập pháp phải lưu ý rằng thủ tục tố tụng dân sự được xây dựng không chỉ áp dụng cho thị dân thành thị, nơi mà thương mại phát triển, trình độ dân trí cao, mối quan hệ giữa con người với con người ít ràng buộc bởi tình làng, nghĩa xóm…mà còn áp dụng nơi thôn dã với những phong tục, thói quen, người nông dân ít hiểu biết về pháp luật và cũng không có điều kiện để thuê luật sư bảo vệ quyền lợi cho mình như người dân thành thị. Nơi vùng sâu, vùng xa có đồng bào dân tộc sinh sống thì đặc điểm tâm lý, văn hoá của các dân tộc thiểu số cũng cần được các nhà lập pháp lưu tâm khi tiếp thu thành tựu lập pháp nước ngoài. Chẳng hạn, do trọng danh dự và quan niệm việc tự tước đi mạng sống sẽ chứng minh cho sự trong sạch của mình, đôi khi có thể dẫn tới việc người dân có những phản ứng tiêu cực khi gặp những bất lợi trong quá trình kiện tụng dân sự[1]. Ở những vùng dân cư này thì việc hoà giải tiền tố tụng của những người có uy tín trong bản làng và vai trò của Thẩm phán trong việc đôn đốc thủ tục cần được đề cao. Do vậy, việc mô phỏng và tiếp nhận thủ tục tố tụng tranh tụng của các nước theo hệ thống thông luật hay luật án lệ cần phải được cân nhắc hết sức thận trọng.

Để xây dựng một thủ tục tố tụng dân sự dân chủ, gần dân, thân thiện với dân thì ngay từ khi chắp bút soạn thảo pháp luật, nhà lập pháp đã phải ý thức được sứ mệnh cao cả và bổn phận thiêng liêng của mình với xã hội. Pháp luật tố tụng dân sự được xây dựng không phải là những định lệ phiền toái như dân gian quan niệm[2] mà phải là phương tiện hữu hiệu để người dân có thể sử dụng trong việc bảo vệ quyền lợi của mình. Cho nên nhà lập pháp khi xây dựng nên những định lệ này phải đứng từ góc nhìn nhân bản để ngăn chặn hay loại bỏ những nhân tố tiêu cực có thể nảy sinh từ phía người tiến hành tố tụng hoặc các tụng nhân. Ngạn ngữ tây phương có câu « Mọi quyền lực đều làm hư hỏng con người »[3] và cổ ngữ đông phương dường như còn mở rộng hơn khuynh hướng này thông qua câu tục ngữ « dân gian, quan tham ». Đó là một khuynh hướng tiêu cực trong đời sống có nguồn gốc từ cái tâm không chính của con người cần phải được hạn chế, loại trừ ra khỏi đời sống pháp đình. Dưới góc nhìn của giáo lý nhà Phật thì con người có bản ngã, bị trói buộc bởi « tham, sân, si »[4]. Khi mỗi cá nhân không tự chủ được mình, không vượt qua được bản ngã thì hành vi của cá nhân đó có khuynh hướng không còn theo « con đường chính » nữa. Đây chính là căn nguyên của những phức tạp nảy sinh trong quá trình kiện tụng mà nguồn gốc của nó là từ cái tâm không chính của con người. Ngoài căn nguyên này thì sự nhầm lẫn hay ngộ nhận của quan toà và các tụng nhân về sự việc, về luật pháp hay về quyền lợi cũng làm cho việc kiện có thể bị kéo dài, gây hao tiền, tốn của.

Như vậy, các quy định về tố tụng được xây dựng, một mặt có ý nghĩa định hướng hành vi ứng xử của người tiến hành tố tụng và các tụng nhân đi theo « con đường chính », mặt khác, là phương tiện để sửa chữa những sai lầm do sự vô tình hay hữu ý của quan toà và các tụng nhân đem lại. Thiết nghĩ, một thủ tục tố tụng được coi là tốt đẹp nếu việc vận hành thủ tục này sẽ làm cho người nắm quyền lực phán xử không thể lạm quyền, người có quyền lợi cần được phán xử không thể gian dối, gây khó khăn cho việc thực thi công lý. Tuy nhiên, các quy định về tố tụng dân sự sẽ trở nên lý tưởng nếu bên cạnh sự kiểm soát, định hướng hành vi ứng xử theo « con đường chính » còn thể hiện được tính nhân bản, gần dân và phụng sự cho dân. Đây là tư tưởng cốt lõi mà nhà lập pháp cần phải thấm nhuần khi tiếp nhận các định chế nước ngoài vào nội luật. Có thể nhận thấy rằng tinh thần nhân bản phụng sự dân, bảo vệ dân chống lại sự lạm quyền của quan xử kiện thông qua các quy định về thủ tục tố tụng không phải chỉ xuất hiện trong các định chế tố tụng của Tây phương mà điều này từ lâu đã được ông cha ta ghi nhận trong cổ luật. Những quy định này có lẽ có cội nguồn từ sự đúc kết những kinh nghiệm quản lý, điều hành đất nước của ông cha ta theo triết lý nhân bản của Phật giáo và Nho giáo.

Dưới góc nhìn lịch sử, có thể nhận thấy rằng pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của điều kiện kinh tế, xã hội và những biến động trong dòng chảy lịch sử nước nhà. Trước thời Pháp thuộc, pháp luật Việt Nam dường như không có sự phân biệt rạch ròi giữa dân sự và hình sự, cơ quan tài phán và cơ quan quản lý. Các tranh chấp về dân sự được giải quyết bởi người đứng đầu bộ máy cai trị các cấp theo các quy tắc chung về tố tụng được thiết lập để giải quyết các việc kiện cáo trong dân. Dưới thời Lê (1428 – 1788) các quy định này được ghi nhận trong Quốc triều Hình luật (1483) và Quốc triều khám tụng điều lệ (1777). Đến thời Nguyễn (1802 – 1858 và 1858 – 1945) các quy định này tiếp tục được kế thừa trong bộ Hoàng Việt luật lệ (1812). Do chịu ảnh hưởng sâu sắc của nho giáo nên pháp luật về tố tụng trong thời kỳ này đã hạn chế quyền đi kiện của một số thành viên trong gia đình[5]. Tuy nhiên, nhiều quy định về tố tụng được xây dựng trong thời kỳ này đã thể hiện những triết lý về tố tụng được trải nghiệm và đúc kết từ thực tế cuộc sống. Chẳng hạn như quy định về sự phân cấp thẩm quyền xét xử, về thời hạn xét xử theo tính chất của vụ việc, quy định về hoà giải nhằm giảm bớt việc kiện tụng, về lệ tạ phạt nếu quan xét xử không đúng, về việc từ chối xử kiện của quan xét xử nếu không bảo đảm tính khách quan…v.v. Những quy định này đã thể hiện những triết lý về tính linh hoạt, mềm dẻo của thủ tục tố tụng và tính minh bạch, công bằng trong phán xét của quan xử kiện nhằm bảo vệ quyền lợi cho dân chúng. So với kỹ thuật lập pháp của các nước phương Tây thời bấy giờ thì có thể xem đây là những thành tựu và di sản lập pháp đáng tự hào mà ông cha ta để lại.

Việc nghiên cứu cho thấy các quy định về thủ tục tố tụng dân sự với tư cách là một thủ tục tố tụng riêng biệt có lẽ chỉ chính thức được du nhập vào miền Nam Việt Nam dưới thời Pháp thuộc bằng Nghị định 16/3/1910[6]. Tiếp theo đó là Bộ dân sự tố tụng Bắc ban hành năm 1917 và Bộ Hộ sự thương sự tố tụng Trung Việt năm 1942, áp dụng tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Có thể nhận xét rằng các quy định về tố tụng dân sự của Việt Nam dưới thời Pháp thuộc được xây dựng trên cơ sở tham chiếu và giản lược các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự Pháp 1807 cho phù hợp với đời sống của người dân bản địa. Do vậy, các quy định về tố tụng dân sự trong những bộ luật này chịu nhiều ảnh hưởng của pháp luật tố tụng dân sự Pháp.

Sau cách mạng tháng 8/1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã ban hành Sắc lệnh số 47 ngày 10/10/1945 cho giữ tạm thời các luật lệ hiện hành của chế độ cũ. Sau năm 1954, đất nước bị chia cắt thành hai miền Nam, Bắc. Ở miền Nam, nhà lập pháp của chế độ Sài Gòn đã pháp điển hoá các quy định về tố tụng dân sự và xây dựng Bộ luật dân sự thương sự tố tụng năm 1972. Tuy nhiên, năm 1975 đất nước thống nhất, do vậy các quy định của Bộ luật này cũng không được áp dụng nữa. Ở miền Bắc, do hoàn cảnh lịch sử để lại, cho nên trong một thời gian tương đối dài (1954 – 1989) chúng ta chưa có một văn bản chính thức về tố tụng dân sự, các vấn đề liên quan đến thủ tục kiện tụng về dân sự chỉ được quy định tản mạn trong các văn bản hướng dẫn của Toà án nhân dân tối cao.

Sự đổi mới cơ chế và mở cửa đất nước đã thúc đẩy sự ra đời của 3 văn bản về thủ tục tố tụng trong lĩnh vực tư pháp dân sự: Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 và Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996. Trên cơ sở kế thừa và phát triển ba Pháp lệnh về thủ tục tố tụng trước đó đồng thời tiếp thu những thành tựu lập pháp của nhiều nước trên thế giới như Cộng hoà Pháp, Mỹ, Úc, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Singapore… năm 2004, nhà lập pháp Việt Nam đã xây dựng Bộ luật tố tụng dân sự chung thống nhất (BLTTDS). Như vậy, sau rất nhiều năm tồn tại ba loại thủ tục tố tụng riêng biệt như là một sự khác biệt so với thế giới, BLTTDS ra đời đã đánh dấu một bước chuyển biến lớn trong lịch sử pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, khẳng định sự nỗ lực của Việt Nam trong việc hội nhập và tiếp thu thành quả của nền văn minh nhân loại.

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, BLTTDS là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, pháp nhân nước ngoài có quan hệ thương mại với Việt Nam. Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết các tranh chấp tại Toà án đã cho thấy một số quy định về thủ tục tố tụng được mô phỏng từ pháp luật nước ngoài khi áp dụng tại Việt Nam lại không phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế của xã hội Việt Nam. Điển hình là một số quy định về nghĩa vụ chứng minh, thủ tục cung cấp, thu thập chứng cứ còn có những hạn chế cần phải được hoàn thiện. Ngoài ra, toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo ra áp lực đòi hỏi các quốc gia và cộng đồng phải cải cách pháp luật tố tụng dân sự của mình theo hướng đảm bảo sự mềm dẻo, linh hoạt và đa dạng hoá các loại hình thủ tục tố tụng cho phù hợp với tính chất của từng loại tranh chấp. Các quy định về thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của chúng ta hiện nay tuy đã có nhiều sửa đổi nhưng cũng chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu về tính có hiệu quả trong việc bảo vệ quyền lợi của đương sự, đặc biệt là trong các tranh chấp thương mại hiện nay. Trước đây, khi Việt Nam còn là một xã hội thuần nông, việc kiện tụng dân sự tại Toà án không nhiều và chủ yếu là các việc kiện về dân sự, hôn nhân và gia đình thì các quy định về thủ tục tố tụng dân sự trước kia là tương đối phù hợp với nhịp sống của người Việt. Thế nhưng, nay do giao lưu kinh tế quốc tế, các tranh chấp dân sự, thương mại cũng nảy sinh ngày một nhiều đòi hỏi các quy định về thủ tục tố tụng dân sự phải được cải tiến nhằm đáp ứng được yêu cầu về tính nhanh chóng, hiệu quả trong việc giải quyết các loại tranh chấp này. Xét về thực tế thì Việt Nam đã là thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới, nhưng pháp luật tố tụng dân sự của chúng ta lại thiếu vắng các quy định về thủ tục tố tụng giản đơn áp dụng đối với các vụ kiện dân sự, thương mại đơn giản, rõ ràng. Các quy định về thủ tục giải quyết việc dân sự mới được xây dựng ở Việt Nam là một loại hình thủ tục tố tụng dân sự đặc biệt nhưng bản thân các quy định về thủ tục này cũng còn có những hạn chế, thiếu tính mềm dẻo, linh hoạt cần phải được tiếp tục nghiên cứu để sửa đổi và hoàn thiện.

2. Hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

Dưới góc nhìn lịch sử thì sự hình thành và phát triển của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam dường như luôn gắn với những thăng trầm của lịch sử dân tộc. Các nhà lập pháp Việt Nam trong từng thời kỳ lịch sử trước đây đều chú trọng và có những đóng góp nhất định trong việc xây dựng và bồi đắp cho nền pháp luật tố tụng dân sự nước nhà. Nhà lập pháp đương đại cũng đã có nhiều cố gắng để hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự cho phù hợp hơn với đời sống nhưng xét một cách khách quan thì pháp luật tố tụng dân sự của chúng ta cũng chưa thực sự đáp ứng được các yêu cầu về tính mềm dẻo, linh hoạt mà công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra. Nhận thức được thực tế này, Nghị quyết 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã chỉ rõ cần phải « Cải cách mạnh mẽ các thủ tục tố tụng tư pháp theo hướng dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch, chặt chẽ, nhưng thuận tiện, bảo đảm sự tham gia và giám sát của nhân dân đối với hoạt động tư pháp; bảo đảm chất lượng tranh tụng tại các phiên toà xét xử, lấy kết quả tranh tụng tại toà làm căn cứ quan trọng để phán quyết bản án, coi đây là khâu đột phá để nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp… ». Tiếp theo đó, Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã chỉ rõ: «…Xây dựng cơ chế xét xử theo thủ tục rút gọn đối với những vụ án có đủ một số điều kiện nhất định »; “Tiếp tục hoàn thiện thủ tục tố tụng dân sự… », « Nghiên cứu chế định thừa phát lại (thừa hành viên); trước mắt, có thể tổ chức thí điểm tại một số địa phương ».

Thực hiện đường hướng về cải cách thủ tục tố tụng tư pháp nói trên, cần phải có sự nghiên cứu và đánh giá hết sức thận trọng về những ưu điểm, nhược điểm của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành trong mối liên hệ với truyền thống lập pháp, đặc điểm văn hoá, tâm lý dân tộc và thành tựu khoa học tố tụng trên thế giới. Trên cơ sở sự nghiên cứu này có thể rút ra những giải pháp cụ thể cho việc hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự, đáp ứng những yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế và phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của nước ta. Như vậy, hai yêu cầu căn bản đặt ra cần phải được giải quyết một cách hài hoà là đơn giản hoá các thủ tục nhằm đáp ứng đòi hỏi về tính mềm dẻo, linh hoạt của thủ tục tố tụng dân sự trong bối cảnh toàn cầu hoá và chú trọng đến những đặc điểm riêng biệt về tâm lý, văn hoá, truyền thống dân tộc, điều kiện kinh tế – xã hội nhằm đảm bảo tính thích ứng và sự phù hợp của pháp luật tố tụng dân sự với đời sống. Nói cách khác là nhà lập pháp Việt Nam phải tìm được lời giải cho bài toán về tính hợp lý cho sự tồn tại của các định lệ về tố tụng dân sự trong bối cảnh toàn cầu hoá. Theo tinh thần này, chúng tôi cho rằng năm vấn đề mang tính cốt lõi trong việc hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, bao gồm: Xác định hợp lý vai trò và trách nhiệm chứng minh của các chủ thể; đảm bảo tính linh hoạt và hiệu quả của các quy định về thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; xây dựng cơ chế chuyển hoá từ việc dân sự sang vụ án dân sự; thiết lập thủ tục tố tụng dân sự rút gọn nhằm loại bỏ sự rườm rà, đảm bảo tính linh hoạt, mềm dẻo của thủ tục tố tụng dân sự; đổi mới cơ chế thi hành án dân sự nhằm khắc phục tình trạng chậm chạp và kém hiệu quả do mô hình thi hành án công đem lại.

2.1. Về các quy định liên quan tới nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự

Trên thế giới hiện tồn tại nhiều hệ thống pháp luật khác nhau, trong đó hai hệ thống pháp luật được xem là chủ yếu đó là hệ thống pháp luật châu Âu lục địa (continental law) và hệ thống pháp luật án lệ (common law). Tương ứng với hai hệ thống pháp luật trên là hai loại hình thủ tục tố tụng chủ yếu là thủ tục tố tụng xét hỏi và thủ tục tố tụng tranh tụng. Có thể nhận xét rằng, hai loại hình tố tụng này đều có những ưu điểm và nhược điểm nhất định. Tuy nhiên, để khắc phục những hạn chế của mỗi loại hình tố tụng, xu hướng cải cách thủ tục tố tụng trên thế giới hiện nay là pháp luật tố tụng dân sự của các nước đang ngày càng xích lại gần nhau hơn, loại bỏ dần những yếu tố không hợp lý và chấp nhận những ưu điểm của hệ thống pháp luật khác.

Theo dòng lịch sử, có thể thấy rằng pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam trước đây thuộc loại hình thủ tục tố tụng xét hỏi, coi trọng việc điều tra, thu thập chứng cứ của Thẩm phán và hồ sơ vụ án. Điều này có thể được minh chứng bởi các quy định về thủ tục tố tụng dân sự tại Nam kỳ, Trung Kỳ và Bắc kỳ trong thời kỳ Pháp thuộc được xây đựng trên cơ sở mô phỏng và giản lược các quy định của BLTTDS Pháp 1807. Sau này, các quy định tại ba pháp lệnh về thủ tục (Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996) mặc dù quy định nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh bảo vệ quyền lợi cho mình thuộc về đương sự nhưng vẫn khẳng định « Khi cần thiết, Toà án có thể xác minh, thu thập chứng cứ để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án được chính xác »[7].

Bộ Luật Tố tụng Dân sự Việt Nam năm 2004 (BLTTDS) về cơ bản cũng được xây dựng trên cơ sở thủ tục tố tụng xét hỏi của các nước theo hệ thống luật châu Âu lục địa như BLTTDS mới của Pháp năm 1975 nhưng có kết hợp các yếu tố của thủ tục tố tụng tranh tụng của các nước theo hệ thống pháp luật án lệ. Cụ thể là BLTTDS Việt Nam hiện nay vẫn coi hồ sơ vụ án là tài liệu quan trọng làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án nhưng đề cao hơn nghĩa vụ tự chứng minh của đương sự so với các quy định trước kia, trong trường hợp xét thấy chứng cứ trong hồ sơ chưa đủ cơ sở để giải quyết thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ. Toà án chỉ tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ khi đương sự không thể tự mình thu thập được và có yêu cầu Toà án thu thập chứng cứ[8].

Theo BLTTDS hiện nay, mặc dù Hội đồng xét xử giữ vai trò điều khiển phiên tòa nhưng các yếu tố của thủ tục tố tụng tranh tụng được coi trọng như trong phần xét hỏi luật sư có quyền chất vấn bên đối thủ, các đương sự có thể đặt câu hỏi đối với nhau. Ngoài ra, đương sự được biết và ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do các đương sự khác xuất trình hoặc do Toà án thu thập; tất cả các tình tiết, chứng cứ, tài liệu dùng làm căn cứ cho việc giải quyết vụ án đều được các bên tranh tụng công khai, trực tiếp và bằng lời nói tại phiên tòa, luật sư giữ vai trò chủ động trong quá trình tranh tụng, Toà án không được hạn chế thời gian tranh luận mà phải tạo điều kiện cho những người tham gia tranh luận trình bày hết ý kiến của họ[9].

Việc tiếp nhận các yếu tố của thủ tục tố tụng tranh tụng trong BLTTDS Việt Nam cũng đặt ra những vấn đề mà chúng ta cần giải quyết. Trong thực tiễn, sau khi BLTTDS có hiệu lực pháp luật, các Toà án dường như trút được một gánh nặng trong việc chứng minh làm rõ sự thật của vụ án với quan niệm các đương sự phải tự chứng minh cho quyền lợi của mình, nếu không tự chứng minh được sẽ bị Toà án xử bác yêu cầu. Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận rằng Việt Nam là một đất nước mà đa phần dân số đều làm nông nghiệp, do vậy, các quy định này của BLTTDS mặc dù không gây xáo trộn đối với các doanh nghiệp, các thị dân thành phố nhưng đối với khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa thì đó lại quả là một vấn đề không nhỏ. Người nông dân Việt Nam vốn xa lạ với pháp đình và càng xa lạ hơn với việc tự chứng minh, do vậy, sau khi nộp đơn kiện rồi thì thường phó mặc cho Toà án giải quyết mà không biết rằng mình phải tự đi thu thập các tài liệu cần thiết để chứng minh. Trong khi đó, theo quy định của BLTTDS hiện nay thì Toà án không còn được tự mình tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ để hoàn thiện hồ sơ vụ án như trước đây nữa. Như vậy, hậu quả tất yếu là thời gian giải quyết vụ án sẽ bị kéo dài hơn so với các quy định trước kia. Để khắc phục tình trạng này, thiết nghĩ cơ quan có thẩm quyền nên có những quy định mang tính chuyển tiếp cho việc thực hiện. Cụ thể là cần quy định rõ khi nhận đơn khởi kiện của đương sự, Toà án phải giải thích rõ cho đương sự về nghĩa vụ chứng minh của họ cũng như các chứng cứ, tài liệu cụ thể cho mỗi vụ án mà đương sự phải xuất trình và quyền yêu cầu Toà án thu thập chứng cứ nếu không tự mình thu thập được.

Hiện nay, Điều 7 BLTTDS và Nghị quyết số 04 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao ngày 17/9/2005 quy định khi có yêu cầu của đương sự thì cơ quan, tổ chức đang lưu giữ, quản lý chứng cứ (thường là các giấy tờ về hộ tịch, nhà đất…) có trách nhiệm cung cấp đầy đủ các chứng cứ này cho đương sự, trong trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản cho đương sự biết và nêu rõ lý do của việc không cung cấp được chứng cứ. Trong thực tiễn tố tụng tại Toà án thì văn bản này được coi là điều kiện tiên quyết để đương sự có thể yêu cầu Toà án tiến hành các biện pháp cần thiết để thu thập chứng cứ. Nhưng xem ra quy định này khó có thể được thực hiện trên thực tế khi mà nền hành chính quốc gia chưa thực sự được cải tổ và cơ quan công quyền chưa thực sự « gần dân ». Khi người có trách nhiệm quản lý hồ sơ, tài liệu trong các cơ quan công quyền đã không có thiện chí trong việc cấp cho người dân các giấy tờ, tài liệu có liên quan tới vụ kiện thì có lẽ người dân sẽ không thật dễ dàng để có trong tay bản thông báo nói trên. Do vậy, để đơn giản hoá các thủ tục tố tụng, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong việc bảo vệ quyền lợi của mình thì cần hoàn thiện các quy định trên theo hướng nếu cơ quan, tổ chức đang lưu giữ, quản lý chứng cứ của vụ án không cung cấp các tài liệu cần thiết và cũng không thông báo bằng văn bản cho đương sự về lý do của việc không cung cấp thì đương sự có thể ngay lập tức yêu cầu sự can thiệp của Toà án trong việc thu thập chứng cứ.

2.2. Về các quy định liên quan đến thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự

Quá trình xây dựng các quy định về thủ tục áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong BLTTDS, chúng ta cũng đã tham khảo pháp luật tố tụng dân sự của nhiều nước trên thế giới về vấn đề này như pháp luật tố tụng dân sự Mỹ, Pháp, Nga, Trung Quốc…Việc tham khảo pháp luật của các nước này cho thấy, trên cơ sở sự kết hợp hài hoà giữa các nguyên tắc truyền thống, sự mm dẻo, linh hoạt trong việc xây dựng thủ tục giải quyết tranh chấp, các nhà lập pháp đã xây dựng những quy định về thủ tục áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm đảm bảo cho việc xét xử, thi hành án hoặc giải quyết những yêu cầu khẩn cấp của đương sự. Pháp luật tố tụng dân sự của Mỹ, Pháp, Trung Quốc cho phép áp dụng các biện pháp khẩn cấp trước khi khởi kiện hoặc trong quá trình Toà án giải quyết một vụ kiện chính hoặc có thể được áp dụng một cách hoàn toàn độc lập.

Tuy nhiên, các quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong pháp luật tố tụng dân sự của các nước này cũng có những điểm khác biệt nhất định. Chẳng hạn, trong BLTTDS Pháp có hai loại thủ tục tố tụng được thiết lập để áp dụng giải quyết những loại việc mang tính khẩn cấp là thủ tục xét xử cấp thẩm và thủ tục xét xử theo đơn yêu cầu. Điểm khác biệt cơ bản giữa hai thủ tục này là vấn đề có triệu tập bị đơn đến tham gia tố tụng hay không[10]. Theo thủ tục xét xử theo đơn yêu cầu trong tố tụng dân sự Pháp không cần thiết phải triệu tập bị đơn đến tham gia tố tụng, ngược lại thủ tục xét xử cấp thẩm tuân theo trình tự tranh tụng, việc triệu tập bị đơn đến tham gia phiên xét xử là bắt buộc. Thủ tục xét xử theo đơn yêu cầu không đòi hỏi Thẩm phán phải triệu tập bị đơn đến tham gia tố tụng, bởi lẽ thủ tục này được áp dụng đối với các loại việc có nhiều bị đơn mà Toà án không thể triệu tập các đương sự đến tham gia tố tụng hoặc các vụ việc mà việc triệu tập bị đơn là khó khăn. Ví dụ: buộc những người đình công chiếm giữ công sở phải rời nơi họ chiếm giữ, sở hữu chủ yêu cầu trục xuất những người chiếm hữu nhà của họ một cách bất hợp pháp mà không có hợp đồng thuê nhà, lập bằng chứng về việc ngoại tình[11]…Các quy định về thủ tục trục xuất những người chiếm hữu nhà một cách bất hợp pháp cũng thường được áp dụng trong tố tụng dân sự của Ý và Tây Ban Nha.

Ở Việt Nam những thủ tục tương tự đã từng được áp dụng trong thời kỳ Pháp thuộc và chế độ cũ dưới tên gọi là thủ tục cấp thẩm và thủ tục án lệnh phê đơn với thẩm quyền chuyên biệt trong việc ra quyết định thuộc về Chánh án. Theo những thủ tục này, Chánh án Toà án có thể quyết định áp dụng các biện pháp cần thiết ngay cả khi Toà án chưa thụ lý vụ kiện. Tiếc rằng, theo dòng thời gian, các quy định này không còn được áp dụng nữa. Trong quá trình xây dựng BLTTDS, Ban soạn thảo đã phối hợp với Nhà Pháp luật Việt – Pháp tổ chức nhiều cuộc hội thảo về pháp luật tố tụng dân sự, đặc biệt là tham khảo kinh nghiệm của Pháp về thủ tục cấp thẩm nhằm hoàn thiện các quy định về thủ tục áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Dự thảo BLTTDS Việt Nam. Tuy nhiên, do có nhiều quan điểm khác nhau nên BLTTDS Việt Nam chỉ tiếp thu một phần kinh nghiệm của Pháp về thủ tục cấp thẩm để xây dựng các quy định về một số biện pháp khẩn cấp mang tính chất buộc tạm thực hiện trước một phần nghĩa vụ như buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm; buộc người sử dụng lao động phải tạm ứng tiền công, tiền bồi thường.v.v. BLTTDS của chúng ta hiện nay chỉ dừng lại ở việc quy định các biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm đảm bảo cho việc xét xử và thi hành án trong vụ kiện chính mà không có sự phân biệt giữa hai loại thủ tục xét xử cấp thẩm và xét xử theo đơn yêu cầu như trong tố tụng dân sự Pháp[12].

Có thể nhận xét rằng, các quy định về thời điểm áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong BLTTDS hiện nay chủ yếu được xây dựng trên cơ sở kế thừa ba pháp lệnh về thủ tục tố tụng trước đó và được bổ sung, hoàn thiện hơn trên cơ sở tham khảo các quy định tương ứng trong pháp luật tố tụng dân sự của một số nước trên thế giới. Tuy nhiên, sự tiếp thu quy định của các nước về thời điểm áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong BLTTDS Việt Nam cũng còn nhiều hạn chế. Theo pháp luật tố tụng dân sự của nhiều nước trên thế giới mà điển hình là pháp luật tố tụng dân sự của Mỹ, Pháp và Trung Quốc thì thủ tục áp dụng các biện pháp khẩn cấp có thể được áp dụng trước khi khởi kiện hoặc trong quá trình Toà án giải quyết một vụ kiện chính hoặc có thể được áp dụng một cách hoàn toàn độc lập[13]. Trong quá trình xây dựng BLTTDS, trên cơ sở mô phỏng quy định trong pháp luật tố tụng dân sự các nước nói trên, các nhà soạn thảo của chúng ta đã đưa vào Khoản 1 Điểm a Điều 120 Dự thảo XI BLTTDS một quy định theo hướng: « Nếu biện pháp khẩn cấp tạm thời được áp dụng trước khi người yêu cầu khởi kiện vụ án mà hết thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày Toà án ra quyết định áp dụng người yêu cầu đã không khởi kiện vụ án tại Toà án thì biện pháp khẩn cấp tạm thời này bị huỷ bỏ ». Tuy nhiên, sự tiếp thu này đã gây nhiều tranh cãi và phản ứng khác nhau, sau nhiều bàn thảo và tranh luận cam go giữa những người nghiên cứu về tố tụng và các nhà thực tiễn, chúng ta đã đi đến một giải pháp trung dung giữa các quy định mang tính truyền thống và các kỹ thuật tố tụng hiện đại của thế giới. Cụ thể là BLTTDS Việt Nam đã mở rộng hơn phạm vi áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời so với các quy định trước kia, cho phép đương sự có thể yêu cầu Toà án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời cùng với việc nộp đơn khởi kiện vụ án hoặc trong quá trình giải quyết vụ án (Điều 99 BLTTDS) nhưng không cho phép yêu cầu áp dụng biện pháp này trước khi khởi kiện vụ án. Có lẽ khi quyết định chọn lựa giải pháp này nhà lập pháp Việt Nam dường như không xét đến tính logic giữa các quy định về vấn đề này trong nội luật. Bởi vì theo Điều 340 BLTTDS thì đương sự vẫn có quyền yêu cầu Toà án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời ngay cả khi vụ tranh chấp thương mại do trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết. Thiết nghĩ, để đáp ứng yêu cầu về tính linh hoạt của thủ tục tố tụng trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế thì việc hoàn thiện quy định về các biện pháp khẩn cấp theo hướng mở rộng quyền yêu cầu áp dụng các biện pháp này trước khi khởi kiện hoặc độc lập với vụ kiện chính là hoàn toàn cần thiết.

Theo học lý về tố tụng dân sự của các nước theo hình mẫu Châu Âu lục địa thì để đảm bảo hiệu quả của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong một số trường hợp việc áp dụng các biện pháp này phải mang tính bí mật, bất ngờ đối với bên bị áp dụng. Vấn đề này không được mô tả cụ thể trong BLTTDS Pháp 1807 nhưng đã được ghi nhận trong học lý và án lệ của Pháp[14]. Học lý về tố tụng dân sự và BLTTDS của ta hiện nay không đề cập tới vấn đề này. Thiết nghĩ, đối với các biện pháp khẩn cấp tạm thời như kê biên, cấm chuyển dịch tài sản đang tranh chấp, phong toả tài khoản tại các tổ chức tín dụng, kho bạc nhà nước, phong toả tài sản tại nơi gửi giữ, phong toả tài sản của người có nghĩa vụ thì yếu tố bí mật, bất ngờ trong việc áp dụng là hết sức cần thiết. Đây là một vấn đề cần phải được nghiên cứu và bổ sung trong BLTTDS theo hướng đương sự có quyền trực tiếp yêu cầu Chánh án hay Thẩm phán áp dụng các biện pháp khẩn cấp nêu trên và Chánh án hay Thẩm phán được yêu cầu có bổn phận trong việc bảo mật thông tin trước khi biện pháp khẩn cấp tạm thời được áp dụng.

Để đảm bảo quyền lợi chính đáng của người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp và ngăn ngừa việc lạm quyền khi yêu cầu áp dụng biện pháp này, pháp luật tố tụng dân sự của nhiều nước trên thế giới như Mỹ, Pháp, Trung Quốc…đều có những quy định về buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Điều 120 BLTTDS Việt Nam hiện nay đã tiếp thu được các quy định về buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo pháp luật tố tụng dân sự của các nước nói trên. Theo khoản 1 Điều 120 BLTTDS thì « Người yêu cầu Toà án áp dụng một trong các biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại các khoản 6, 7, 8, 10 và 11 Điều 102 của Bộ luật này phải gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá do Toà án ấn định tương đương với nghĩa vụ tài sản mà người có nghĩa vụ phải thực hiện để bảo vệ lợi ích của người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và ngăn ngừa sự lạm dụng quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời từ phía người có quyền yêu cầu ». Thực tiễn vận dụng các quy định nêu trên của BLTTDS đã đặt ra những vấn đề sau đây:

Theo tinh thần của Điều luật này thì mặc dù trong « …tình thế khẩn cấp, cần phải bảo vệ ngay bằng chứng, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra… » mà người yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời chưa thực hiện biện pháp bảo đảm thì Toà án vẫn không ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Như vậy, việc vận dụng các quy định về buộc thực hiện biện pháp bảo đảm này trong thực tiễn trong nhiều trường hợp không bảo đảm được quyền lợi chính đáng của nguyên đơn. Mặt khác, bị đơn có thể lợi dụng các quy định của pháp luật để tẩu tán tài sản, đặc biệt là đối với các vụ án mà nguyên đơn là người nghèo không có tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá để gửi vào tài khoản phong toả tại ngân hàng nơi có trụ sở của Toà án.

Ngoài ra, việc nhà lập pháp quy định người yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải thực hiện biện pháp bảo đảm tại ngân hàng trước khi biện pháp khẩn cấp tạm thời được áp dụng sẽ khó tránh khỏi việc rò rỉ thông tin về biện pháp khẩn cấp mà Toà án sẽ áp dụng. Do vậy, ngoài trách nhiệm của người tiến hành tố tụng trong việc bảo mật thông tin thì quy định về việc mã hoá các thông tin liên quan đến biện pháp khẩn cấp tạm thời sẽ được áp dụng khi thực hiện biện pháp bảo đảm tại ngân hàng cũng là vấn đề cần phải cân nhắc. Nghiên cứu mẫu quyết định thực hiện biện pháp bảo đảm do Toà án nhân dân tối cao ban hành hiện nay thì các thông tin về biện pháp khẩn cấp tạm thời sẽ được áp dụng dường như không được bảo mật mà trái lại còn được mô tả « khá cụ thể và chi tiết »[15] !

2.3. Về việc xây dựng cơ chế chuyển hoá từ việc dân sự sang vụ án dân sự

Trước những yêu cầu của công cuộc cải cách và hội nhập quốc tế, một thủ tục tố tụng đặc biệt đã được xây dựng trong BLTTDS với tên gọi thủ tục giải quyết việc dân sự. Thủ tục này được xây dựng nhằm áp dụng giải quyết đối với các vụ việc không có tranh chấp về quyền, lợi ích hợp pháp giữa các bên đương sự. Có thể nói, đây là một thủ tục giản đơn hơn so với thủ tục giải quyết các vụ việc mà các bên đương sự có tranh chấp về quyền, lợi ích vì thời hạn giải quyết được rút ngắn, Toà án không phải mở phiên toà xét xử, vụ việc chỉ do một Thẩm phán độc lập giải quyết dưới hình thức một phiên họp đơn giản. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng thủ tục này cho thấy những quy định không hợp lý của luật thực định đã gây kéo dài thời gian giải quyết vụ việc mà lẽ ra chúng có thể được kết thúc sớm hơn nếu cơ chế về chuyển hoá giữa các loại hình thủ tục tố tụng được thiết lập.

Việc nghiên cứu các loại việc được giải quyết theo thủ tục giải quyết việc dân sự cho thấy rằng đối với các vụ việc mà bản chất là không có tranh chấp về quyền, lợi ích hợp pháp giữa các bên do tính chất đặc thù của loại việc và chỉ một bên đương sự yêu cầu Toà án giải quyết như yêu cầu xác định tình trạng của một cá nhân do sự vắng mặt của họ tại nơi cư trú hoặc yêu cầu xác định năng lực hành vi dân sự của một cá nhân…thì bản chất của những loại việc này không thay đổi trong suốt quá trình Toà án giải quyết. Do vậy, đối với những vụ việc này vấn đề chuyển hoá giữa việc dân sự và vụ án dân sự không được đặt ra. Vấn đề chuyển hoá giữa việc dân sự và vụ án dân sự chỉ đặt ra đối với các vụ việc mà bản chất là không có tranh chấp về quyền, lợi ích hợp pháp giữa các bên do các đương sự đã thoả thuận được với nhau về các tình tiết của sự việc cũng như những quyền và lợi ích giữa các bên và các bên cùng yêu cầu Toà án công nhận làm cơ sở cho việc thi hành án sau này như yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; yêu cầu công nhận sự thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn…v.v. Bởi lẽ trong quá trình Toà án thụ lý, giải quyết theo thủ tục giải quyết việc dân sự, trên cơ sở nguyên tắc quyền tự định đoạt các bên đương sự có thể thay đổi yêu cầu của mình. Để đáp ứng yêu cầu về tính linh hoạt, mềm dẻo của thủ tục tố tụng dân sự trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế thì việc xây dựng một cơ chế mềm dẻo, là chất kết dính mang tính chuyển tiếp giữa thủ tục giải quyết việc dân sự và thủ tục giải quyết vụ án dân sự là rất cần thiết.

Theo Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31 tháng 3 năm 2005 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thì « Trường hợp các bên yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; yêu cầu công nhận sự thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 28 của BLTTDS, nhưng sau khi Toà án thụ lý và trong quá trình giải quyết việc dân sự các bên có sự thay đổi về thoả thuận, thì cần phân biệt như sau:

a. Nếu các bên thay đổi sự thoả thuận (một phần hoặc toàn bộ) bằng một thoả thuận mới thì Toà án tiếp tục giải quyết việc dân sự theo thủ tục chung;

b. Nếu một hoặc các bên thay đổi sự thoả thuận (một phần hoặc toàn bộ), nhưng không thoả thuận được về vấn đề đã được thoả thuận trước đó và có tranh chấp, thì được coi như đương sự rút đơn yêu cầu. Toà án căn cứ vào Điều 311 và điểm c khoản 1 Điều 192 của BLTTDS ra quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự. Trong trường hợp này Toà án cần giải thích cho đương sự biết nếu họ vẫn có yêu cầu Toà án giải quyết, thì phải khởi kiện vụ án theo thủ tục chung ».

Vấn đề đặt ra là các Toà án có thể coi đây là một hướng dẫn điển hình để vận dụng trong các trường hợp tương tự hay không. Cụ thể là nếu trong quá trình Toà án giải quyết các việc dân sự không có tranh chấp mà một hoặc các bên thay đổi sự thoả thuận theo hướng có tranh chấp thì Toà án có thể ra quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự và hướng dẫn đương sự làm đơn khởi kiện vụ án theo thủ tục chung hay không?

Thiết nghĩ, việc Toà án vận dụng các quy định nói trên để ra quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự và buộc đương sự phải làm đơn khởi kiện lại từ đầu là chưa thực sự hợp lý, bởi vì về mặt ý chí thì có thể chỉ một bên đương sự thay đổi thoả thuận theo hướng có tranh chấp và ngay cả trường hợp việc thay đổi thoả thuận theo hướng có tranh chấp là do các bên đương sự thì về ý chí họ cũng không rút đơn yêu cầu Toà án giải quyết. Thực chất của vấn là ở chỗ yêu cầu tố tụng trước Toà án không mất đi mà chỉ chuyển từ dạng yêu cầu giải quyết việc dân sự do các bên cùng thoả thuận và yêu cầu Toà án công nhận sang dạng có tranh chấp theo yêu cầu của một bên hoặc các bên. Chẳng hạn, lúc đầu hai vợ chồng cùng làm đơn yêu cầu Toà án công nhận sự thuận tình về việc ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn nhưng sau đó một bên đương sự lại không đồng ý ly hôn hoặc các bên vẫn thống nhất ly hôn nhưng lại không thống nhất được với nhau về phân chia tài sản và yêu cầu Toà án giải quyết; sau khi yêu cầu công nhận sự thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn các đương sự lại có tranh chấp về vấn đề này.v.v. Cần nhận thức rằng đương sự chỉ thay đổi yêu cầu chứ không rút toàn bộ yêu cầu, đối tượng của vụ việc mà Toà án đang xem xét không thể bị triệt tiêu, do vậy, không thể làm phức tạp thêm thủ tục bằng cách ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ việc dân sự và buộc đương sự khởi kiện lại từ đầu theo thủ tục giải quyết vụ án dân sự.

Ngoài ra, theo quy định tại Điều 311 BLTTDS thì Toà án áp dụng những quy định của Chương XX về thủ tục giải quyết việc dân sự, đồng thời áp dụng những quy định khác của Bộ luật này không trái với những quy định của Chương XX để giải quyết những việc dân sự. Như vậy, về nguyên tắc quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự vẫn có thể bị kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm như quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Vậy nếu quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự bị kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm thì các đương sự có thể thực hiện quyền khởi kiện vụ án ngay không hay phải chờ Toà án cấp phúc thẩm giải quyết xong kháng cáo, kháng nghị mới có thể thực hiện quyền khởi kiện của mình?

Nếu nhìn rộng ra thì hiện nay các Điều 26, 30, 32 BLTTDS đều có quy định rằng ngoài các loại việc dân sự đã được chỉ rõ trong các điều luật, Toà án còn có thể áp dụng thủ tục giải quyết việc dân sự đối với các việc khác về dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động mà pháp luật có quy định. Đây là các quy định mang tính định hướng trong tương lai và như vậy, theo thiển ý của chúng tôi, sau này các cơ quan có thẩm quyền có thể bổ sung các vụ việc về dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động mà bản chất là không có tranh chấp về quyền, lợi ích hợp pháp giữa các bên do các đương sự đã thoả thuận được với nhau về các tình tiết của sự việc cũng như những quyền và lợi ích giữa các bên và các bên cùng yêu cầu Toà án giải quyết theo thủ tục giải quyết việc dân sự.

Các việc dân sự này sẽ khác với các việc về hôn nhân gia đình nói trên ở chỗ đương sự chỉ có thể thực hiện quyền khởi kiện trong thời hiệu mà pháp luật quy định. Theo suy luận logic thì phải chăng với cách vận dụng như hiện nay, sau khi Toà án thụ lý giải quyết các việc dân sự này mà đương sự lại thay đổi theo hướng có tranh chấp, Toà án sẽ ra quyết định đình chỉ việc giải quyết việc dân sự và đương sự khởi kiện lại từ đầu theo thủ tục giải quyết vụ án dân sự. Nếu như theo giải pháp này, có thể sẽ dẫn tới việc đương sự sẽ không thể thực hiện được quyền khởi kiện của mình nếu không muốn nói là mất quyền khởi kiện do thời hiệu khởi kiện đã hết.

Ngoài ra, trong thực tiễn tố tụng dân sự, Toà án nhân dân tối cao cũng đã từng hướng dẫn rằng đối với trường hợp cả hai vợ chồng cùng viết đơn xin thuận tình ly hôn, sau đó một bên cố tình lẩn tránh không có mặt theo giấy triệu tập của Toà án thì Toà án cần hỏi người còn lại có tiếp tục xin ly hôn nữa hay không. Nếu họ vẫn tiếp tục xin ly hôn thì Toà án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung như trường hợp ly hôn theo yêu cầu của một bên. Trong trường hợp họ không có yêu cầu xin ly hôn nữa thì Toà án mới ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án[16].

Từ những phân tích trên, có thể nhận định rằng sẽ là hợp lý hơn nếu có những sửa đổi pháp luật theo hướng trong quá trình Toà án giải quyết việc dân sự mà một hoặc các bên thay đổi sự thoả thuận theo hướng có tranh chấp thì Toà án sơ thẩm sẽ yêu cầu đương sự nộp bổ sung tiền tạm ứng án phí theo vụ án dân sự và sau đó ra quyết định áp dụng thủ tục giải quyết vụ án dân sự để giải quyết yêu cầu có tranh chấp. Sau khi ra quyết định này, Thẩm phán căn cứ vào các quy định của BLTTDS để tiếp tục tiến hành các thủ tục xác minh, thu thập chứng cứ đối với yêu cầu có tranh chấp, nếu hoà giải không thành thì Thẩm phán ra quyết định đưa vụ án ra xét xử tại phiên toà sơ thẩm. Nếu chúng ta đi theo giải pháp này sẽ phù hợp hơn với thực tiễn tư pháp từ trước tới nay và xu hướng cải cách tư pháp, đơn giản hoá các quy định về thủ tục tố tụng, tạo điều kiện tốt nhất cho người dân có thể tiếp cận công lý. Có thể coi đây sẽ là một đường lối, một chuẩn mực chung mà về lâu dài không chỉ áp dụng riêng cho các việc về hôn nhân, gia đình mà có thể vận dụng cho tất cả các việc dân sự có cùng bản chất trong các lĩnh vực dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động.

2.4. Về việc xây dựng các quy định về thủ tục tố tụng dân sự rút gọn

Năm 2003 nhà lập pháp đã nghiên cứu và xây dựng thành công trong Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) một mô hình về thủ tục tố tụng rút gọn. Theo đó, thủ tục rút gọn được áp dụng đối với các vụ án hình sự có đủ các điều kiện mà nhà lập pháp quy định như người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang; sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng; tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng; người phạm tội có căn cước, lai lịch rõ ràng (Điều 319 BLTTHS). Thế nhưng, việc xây dựng các quy định về thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự lại là vấn đề gây nhiều tranh luận và tồn tại những quan điểm trái ngược nhau. Đây là lý do giải thích vì sao các quy định về thủ tục tố tụng dân sự rút gọn đã không tồn tại trong BLTTDS 2004. Chúng ta biết rằng, thủ tục tố tụng hình sự là loại hình thủ tục tố tụng liên quan đến việc điều tra, truy tố, xét xử để kết luận về sự có tội hay vô tội của một cá nhân, quyết định tước bỏ hoặc không tước bỏ của họ những quyền quan trọng như quyền tự do thân thể, tự do cư trú, định đoạt tài sản, bầu cử, ứng cử…Và chúng ta tự đặt câu hỏi là tại sao trong thủ tục tố tụng hình sự – loại hình thủ tục liên quan đến việc quyết định thân phận của một con người mà nhà lập pháp vẫn có thể xây dựng được một thủ tục tố tụng đơn giản hơn so với thủ tục tố tụng hình sự thông thường, trong khi đó, một thủ tục tố tụng rút gọn lại không được xây dựng trong tố tụng dân sự Việt Nam – loại hình tố tụng chỉ liên quan đến việc quyết định về các quyền tài sản và nhân thân phi tài sản giữa các bên đương sự ?

Việc nghiên cứu pháp luật tố tụng nước ngoài cho thấy rằng pháp luật tố tụng dân sự của nhiều nước trên thế giới bên cạnh thủ tục tố tụng thông thường đều có xây dựng một thủ tục tố tụng giản đơn hoặc thủ tục ra lệnh áp dụng đối với những tranh chấp đơn giản, rõ ràng hoặc giá ngạch thấp. BLTTDS của Pháp, Nga, Trung Quốc và Đài Loan đều có những quy định về thủ tục ra lệnh thanh toán nợ với những khoản nợ có chứng cứ rõ ràng như có khế ước vay nợ viết, nợ do cam kết nhận hoặc rút hối phiếu (LC), ký nhận một kỳ phiếu…Ngoài ra, BLTTDS của những nước này và một số nước như Mỹ, Australia và một số nước Châu á có điều kiện gần gũi và tương đồng với Việt Nam như Nhật Bản, Thái Lan, Hàn Quốc, Singapore… đều có những quy định về thủ tục giản đơn đối với những vụ kiện có giá trị nhỏ ( đòi món nợ nhỏ ) do một Thẩm phán giải quyết và phán quyết được đem ra thi hành ngay, đương sự không có quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm hoặc hạn chế quyền kháng cáo phá án của đương sự.

Ngược dòng thời gian, chúng ta thấy rằng việc xây dựng thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự Việt Nam đã gặp không ít gian nan. Việc khởi thảo thủ tục này trong dự thảo có lẽ được bắt đầu từ những năm 1996, 1997. Sau nhiều cuộc hội thảo, mặc dù còn nhiều ý kiến và quan điểm tranh luận rất khác nhau nhưng cuối cùng thủ tục rút gọn đã được xây dựng tại chương XV Dự thảoV BLTTDS gồm 7 điều luật (Điều 234 – Điều 243). Tuy còn có những điểm còn phải chỉnh sửa nhưng các quy định về thủ tục rút gọn này đã phần nào đáp ứng được những đòi hỏi mà thực tiễn giải quyết tranh chấp đặt ra và tiếp thu được những tinh hoa của pháp luật tố tụng dân sự trên thế giới. Cho tới Dự thảo VIII BLTTDS phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn này đã bị thu hẹp bởi 3 điều luật (Điều 267 – Điều 269) tại chương XV với tên gọi là “ Thủ tục yêu cầu thanh toán nợ”. Có thể thấy rằng thủ tục yêu cầu thanh toán nợ trong Dự thảo VIII về cơ bản là sự mô phỏng các quy định về thủ tục ra lệnh thanh toán đối với các món nợ có chứng cứ rõ ràng trong BLTTDS Pháp, Trung Quốc, Nga nhưng lại thiếu vắng các quy định về cơ chế xét xử một lần, phán quyết của Toà án có hiệu lực pháp luật ngay, sự việc chỉ do một Thẩm phán giải quyết đối với những việc kiện có giá trị nhỏ. Rất tiếc rằng, cho tới Dự thảo X và XI thì thủ tục rút gọn đã hoàn toàn không còn tồn tại nữa.

Sau khi BLTTDS ra đời, nhiều ý kiến cho rằng thủ tục giải quyết việc dân sự được quy định từ Điều 311 đến Điều 341 BLTTDS năm 2004 chính là thủ tục rút gọn. Tuy nhiên, việc nghiên cứu pháp luật tố tụng dân sự của nhiều nước trên thế giới cho thấy rằng đây chỉ là các thủ tục tố tụng đặc biệt chứ không phải là thủ tục rút gọn theo đúng nghĩa của nó. Nghị quyết số 49 – NQ/TW của Bộ chính trị ngày 2/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã củng cố cho nhận định này và chỉ rõ cần phải tiếp tục: « …Xây dựng cơ chế xét xử theo thủ tục rút gọn đối với những vụ án có đủ một số điều kiện nhất định ».

Vấn đề gây nhiều tranh luận khi xây dựng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn ở Việt Nam là ngoài việc đơn giản hoá về thủ tục, rút ngắn về thời hạn thì giải quyết vấn đề nguyên tắc xét xử tập thể và quyết định theo đa số, nguyên tắc xét xử có Hội thẩm nhân dân tham gia và nguyên tắc xét xử hai cấp như thế nào.

Về vấn đề này tồn tại hai quan điểm trái ngược nhau : Quan điểm thứ nhất cho rằng nguyên tắc Toà án xét xử tập thể và quyết định theo đa số, nguyên tắc xét xử có Hội thẩm nhân dân tham gia và nguyên tắc xét xử hai cấp là những nguyên tắc bất di, bất dịch, do vậy, việc xây dựng thủ tục rút gọn theo hướng vụ việc do một Thẩm phán giải quyết và phán quyết có hiệu lực pháp luật ngay là không phù hợp với thực tiễn lập pháp của Việt Nam. Ngược lại, những người theo quan điểm ủng hộ cải cách thì cho rằng cần thiết phải xây dựng trong BLTTDS một thủ tục tố tụng dân sự rút gọn theo mô hình của một số nước như Pháp, Úc, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản…Theo đó, một Thẩm phán có thể độc lập giải quyết tranh chấp.

Xét trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam thì tuy không có những quy định về thủ tục rút gọn nhưng trong các quy định về tố tụng dân sự của Việt Nam cũng đã chứa đựng những nhân tố mang tính chất tiền đề cho việc xây dựng thủ tục này. Cơ chế xét xử một Thẩm phán đã từng được quy định tại Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/1/1946. Theo Điều 10 Sắc lệnh này thì đối với Toà án sơ cấp « tại phiên toà, Thẩm phán xét xử một mình Lục sự giữ bút ký, lập biên bản án từ » và đối với Toà án đệ nhị cấp, Điều 17 Sắc lệnh cũng quy định « về dân sự và thương sự, Chánh án xử một mình nhưng khi xử các việc tiểu hình phải có thêm hai viên phụ thẩm nhân dân góp ý kiến ».

Sau này, trên cơ sở quy định của các Hiến pháp năm 1959, 1980 và1992, các Điều 12 Luật Tổ chức Toà án năm 1960, Điều 7 Luật Tổ chức Toà án 1981, Điều 6 Luật Tổ chức Toà án năm 1992, Điều 6 Luật Tổ chức Toà án năm 2002, Điều 14 BLTTDS 2004 đều có quy định về nguyên tắc Toà án xét xử tập thể và quyết định theo đa số. Theo nguyên tắc này thì việc xét xử phải được tiến hành bởi một Hội đồng xét xử gồm nhiều thành viên. Hiện nay, theo quy định tại Điều 55 BLTTDS 2004 thì thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân. Trong trường hợp đặc biệt thì thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân. Thế nhưng, cơ chế giải quyết bằng một Thẩm phán vẫn được nhà lập pháp ghi nhận tại Điều 55 BLTTDS đối với các việc dân sự không có tranh chấp.

Thiết nghĩ, trong điều kiện hiện nay cần phải khôi phục lại các quy định về cơ chế xét xử một Thẩm phán, trao cho Thẩm phán thẩm quyền độc lập trong việc giải quyết các vụ tranh chấp đơn giản, rõ ràng, không có tranh tụng hoặc các vụ tranh chấp có giá trị không lớn. Qua tham khảo pháp luật tố tụng dân sự nước ngoài có thể thấy rằng pháp luật tố tụng dân sự của các nước trên thế giới có quy định về thủ tục tố tụng dân sự rút gọn thì việc xét xử đều giao cho một Thẩm phán đảm nhiệm. Ở Việt Nam, mặc dù tại các Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 1960, 1981, 1992, 2002 đều quy định rằng Toà án xét xử và quyết định theo đa số nhưng không phải là không có ngoại lệ. Chẳng hạn điều 12 Luật Tổ chức Toà án năm 1960 quy định « Toà án nhân dân thực hành chế độ xét xử tập thể và quyết định theo đa số. Khi sơ thẩm, Toà án nhân dân gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân; trường hợp xử những vụ án nhỏ, giản đơn và không quan trọng thì Toà án nhân dân có thể xử không có Hội thẩm nhân dân ».

Tuy nhiên, nếu xây dựng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn theo hướng một Thẩm phán độc lập giải quyết thì có đủ cơ sở để quy định về hiệu lực thi hành ngay đối với phán quyết của Thẩm phán hay không ? Xét về học lý thì mấu chốt của vấn đề là ở chỗ phải giải quyết được mối tương quan giữa các phương thức kháng án và tính phức tạp hay đơn giản của vụ kiện cũng như mối tương quan giữa việc bảo đảm các quyền tố tụng và tính hiệu quả trong việc giải quyết tranh chấp. Có thể nhận xét rằng do vụ án hình sự có liên quan trực tiếp tới thân phận của một con người nên trong thủ tục tố tụng hình sự rút gọn các cơ chế kháng án dường như mang tính tuyệt đối, có nghĩa là việc xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm đối với vụ án đã xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn vẫn được tiến hành theo thủ tục chung. Vậy nếu như xây dựng một thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự thì nhà lập pháp có buộc phải tuân theo các cơ chế kháng án như trong tố tụng hình sự hay không? Chúng ta thử tìm kiếm cơ sở lý luận và thực tiễn cho một giải pháp mềm dẻo hơn khi xây dựng mô hình thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự Việt Nam.

Theo pháp luật tố tụng của Pháp thì « Appel » – Kháng án phúc thẩm là một hình thức kháng án theo thông luật (thông thường) nhằm cải sửa hoặc huỷ bỏ, theo đó bên kháng án đưa vụ kiện ra trước một Toà án cấp cao hơn, thậm chí có thể đưa ra trước cùng một Toà án với một hội đồng xét xử khác (kháng án phúc thẩm những quyết định sơ thẩm của Toà đại hình)[17]. Trong tố tụng dân sự Pháp, kháng án phúc thẩm là một hình thức kháng án theo thông luật (thông thường) và là hình thức kháng án nhằm cải sửa hoặc huỷ bỏ, theo đó bên tự cho là bị thương tổn bởi một phán quyết, đưa vụ kiện và phán quyết ra trước các Thẩm phán ở một cấp cao hơn[18].

Về phương diện lịch sử, ở Pháp kháng án phúc thẩm phát sinh từ việc khẳng định quyền lực của nhà Vua đối với công lý lãnh chúa và sau này đã được duy trì trong lĩnh vực dân sự dưới thời Đại cách mạng Pháp, dưới thể thức kháng án chu luân (appel circulaire) theo danh nghĩa của nguyên tắc bình đẳng[19]. Theo thể thức này, không có sự kháng cáo từ Toà dưới lên Toà trên, mà chỉ có sự xê dịch hàng ngang giữa các Toà án bình đẳng[20]. Các quy định về phương thức kháng cáo này đã được kế thừa và phát triển trong BLTTDS Pháp 1807 và có lẽ được du nhập vào Việt Nam dưới thời Pháp thuộc trong lĩnh vực tố tụng dân sự bằng Nghị định ngày 16/3/1910. Về phương diện lý luận, việc quy định nguyên tắc xét xử hai cấp trong pháp luật tố tụng dân sự là xuất phát từ quan niệm Thẩm phán cũng là con người nên rất có thể có sự nhầm lẫn, sai sót khi xét xử các vụ việc vì vậy cần phải có phương tiện sửa chữa, cần phải để cho một Toà án cấp cao hơn xem xét lại nội dung vụ việc một lần nữa cho thấu đáo hơn. Suy cho cùng mục đích của việc đặt ra nguyên tắc này là nhằm tạo điều kiện cho Toà án có thể xem xét sự việc một cách kỹ lưỡng, tránh những sai sót, đảm bảo cho việc giải quyết vụ kiện của Toà án là đúng đắn, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự. Song không nhất thiết mọi vụ kiện đều phải xử qua hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm. Bởi vì đối với những vụ kiện mà việc giải quyết là khó khăn, phức tạp thì áp dụng nguyên tắc xét xử hai cấp là rất cần thiết nhưng có những vụ việc áp dụng nguyên tắc này sẽ kéo dài thời gian giải quyết, gây tổn phí cho Nhà nước và đương sự một cách không cần thiết. Đó chính là những vụ kiện có chứng cứ rõ ràng, bị đơn thừa nhận nghĩa vụ; những vụ kiện có giá ngạch thấp.

Đối với loại vụ kiện có chứng cứ rõ ràng, một bên đương sự thừa nhận nghĩa vụ thì xét về bản chất đây là loại việc không có tranh tụng cả về chứng cứ và về quyền, nghĩa vụ giữa các bên đương sự. Nếu quy định bị đơn có quyền kháng cáo đối với bản án của Toà án trong trường hợp này thì bị đơn sẽ có thể lợi dụng pháp luật kháng cáo nhằm kéo dài vụ án, trì hoãn việc thi hành nghĩa vụ của mình. Vô hình chung pháp luật đã tạo điều kiện cho người không có thiện chí trong việc thực hiện nghĩa vụ có thể trì hoãn việc thực hiện nghĩa vụ gây thiệt hại cho quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn. Thiết nghĩ, để bảo vệ kịp thời quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn vẫn cần thiết phải quy định phán quyết của Thẩm phán đối với những loại vụ kiện có những chứng cứ rõ ràng, một bên đương sự thừa nhận nghĩa vụ, sẽ có hiệu lực pháp luật ngay. Tuy nhiên, việc nghiên cứu thiết lập một cơ chế chuyển hoá giữa thủ tục xét xử rút gọn và thủ tục thông thường cũng là một giải pháp nhằm bảo vệ quyền lợi của các bị đơn « ngay tình » và « trung thực » chống lại sự lạm quyền của bên đi kiện. Cụ thể là cần quy định quyết định của Toà án buộc thanh toán nợ không bị phản kháng trong một thời hạn nhất định sẽ có hiệu lực thi hành. Ngược lại, trong trường hợp người bị kiện phản đối quyết định của Toà án buộc thanh toán nợ (kháng án) thì vụ kiện sẽ lập tức được đưa ra xét xử tại phiên toà sơ thẩm. Thế nhưng, làm thế nào để chống lại việc bị đơn lạm dụng quyền kháng án nhằm trì hoãn việc thi hành nghĩa vụ ? Thiết nghĩ, việc xây dựng các quy định về phạt tiền đối với đương sự lạm dụng quyền kháng án và rút ngắn thời hạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm cũng là một giải pháp có tính khả thi để hoá giải việc lạm dụng quyền kháng cáo của các tụng nhân thiếu trung thực[21].

Qua tham khảo pháp luật tố tụng dân sự ở một số nước có quy định về thủ tục rút gọn có thể thấy rằng các nước này đều có quy định hạn chế quyền kháng cáo phúc thẩm hoặc kháng cáo phá án của đương sự đối với những vụ việc có giá ngạch thấp. Trước thách thức về sự gia tăng các vụ kiện liên biên giới giữa các quốc gia trong Liên minh Châu Âu, các nhà nghiên cứu về tố tụng học của Liên minh này đã nghiên cứu xây dựng các quy định về thủ tục tố tụng giản đơn áp dụng đối với những vụ kiện có giá ngạch thấp[22]. Theo đó, Liên minh Châu Âu không áp đặt các quốc gia phải ghi nhận quyền kháng cáo của đương sự đối với vụ kiện có giá ngạch thấp, vấn đề có cho phép đương sự kháng cáo hay không đối với những vụ kiện này là do do nội luật của các quốc gia quy định. Có lẽ đây cũng là hình mẫu có giá trị tham khảo và định hướng cho việc hoàn thiện pháp luật của khối Đông Nam Á trong tương lai. Tuy nhiên, việc xây dựng các định chế tương tự về tố tụng dân sự trong khối chỉ đặt ra khi mà thực tiễn thương mại và tranh chấp thương mại liên quốc gia trong khối Đông Nam Á thực sự đòi hỏi. Dù sao cái nhìn khoáng đạt của Liên minh Châu Âu về nguyên tắc hai cấp xét xử đối với những vụ kiện liên biên giới có giá ngạch thấp cũng cho thấy rằng việc các quốc gia không ghi nhận quyền kháng cáo phúc thẩm của đương sự với vụ kiện có giá ngạch thấp cũng không vi phạm quyền con người và các quyền cơ bản của công dân.

Xét ở Việt Nam, mặc dù quy định việc xét xử của Toà án phải qua hai cấp là sơ thẩm và phúc thẩm nhưng không phải là không có ngoại lệ. Cơ chế xét xử một lần tức là xét xử sơ thẩm nhưng bản án của Toà án có hiệu lực ngay đã từng tồn tại. Theo các Sắc lệnh số 51/SL "Ấn định thẩm quyền các Toà án và sự phân công giữa các nhân viên trong Toà án" ngày 17/4/1946, Sắc lệnh số 85/SL "Về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng" ngày 22/5/1980 thì cơ chế xét xử một lần được áp dụng đối với những vụ kiện mà đối tượng tranh chấp là những tài sản có giá trị nhỏ và được thực hiện ở các Toà án sơ cấp và đệ nhị cấp. Rất tiếc rằng, sau này theo Luật Tổ chức Toà án năm 1960, Luật Tổ chức Toà án nhân dân 1981 thì việc xét xử hai cấp đã chính thức được ghi nhận thành một nguyên tắc do vậy cơ chế này không còn được áp dụng nữa.

Hiện nay, theo Điều 11 Luật Tổ chức Toà án nhân dân 2002, Điều 17 BLTTDS 2004 thì việc xét xử theo hai cấp là sơ thẩm và phúc thẩm được ghi nhận là một nguyên tắc cơ bản như đã từng quy định trong các Luật Tổ chức Toà án 1960, 1981. Thế nhưng, xét thực tiễn giải quyết các án kiện trong những năm qua cũng cho thấy những tranh chấp có giá ngạch thấp thường có nội dung đơn giản, trên cơ sở đoàn kết, tương thân, tương ái các bên tự thương lượng giải quyết hoặc có yêu cầu Toà án giải quyết thì ít khi đương sự kháng cáo yêu cầu Toà án cấp trên xem xét lại. Tuy vậy, cũng có một số trường hợp mặc dù tranh chấp tài sản có giá ngạch thấp nhưng do mâu thuẫn cá nhân hoặc do tâm lý nếu không kháng cáo thì mặc nhiên thừa nhận lỗi thuộc về mình cho nên người thua kiện mặc dù không có chứng cứ phản bác lại bản án sơ thẩm nhưng vẫn kháng cáo yêu cầu Toà án cấp trên xem xét lại. Để phát huy phong tục, tập quán, truyền thống tốt đẹp, tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái của người Việt, tránh việc kiện tụng tuy rất nhỏ nhặt nhưng vẫn phải qua nhiều lần xét xử thì việc khôi phục lại các quy định về cơ chế xét xử một lần đối với những tranh chấp có giá ngạch thấp là rất cần thiết. Xét theo tư duy kinh tế tư pháp của phương Tây thì cơ chế xét xử này đáp ứng được yêu cầu về tính hiệu quả của thủ tục tố tụng trong việc giải quyết tranh chấp. Dưới góc nhìn nhân bản của phương Đông, có thể xem quy định về cơ chế xét xử một lần đối với việc kiện có giá trị nhỏ là một quy định có giá trị nhân văn trong việc định hướng văn hoá tư pháp ở Việt Nam, góp phần mở rộng tâm hồn và đề cao tinh thần khoáng đạt trong cách hành xử của đại chúng trong việc giải quyết tranh chấp.

Qua tham khảo pháp luật các nước có quy định về thủ tục tố tụng dân sự rút gọn cho thấy tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế mỗi nước, thu nhập của người dân cũng như quan niệm của nhà lập pháp mà quy định về vụ kiện có giá ngạch thấp ở mỗi nước cũng khác nhau. Chẳng hạn, Pháp dưới 25.000 francs, Nhật Bản dưới 900.000 yên, Đài Loan không quá 4.000 USD, Hàn Quốc dưới 5.000.000 won, Thái Lan không quá 50.000 bạt…

Ở Việt Nam, theo "Bắc kỳ Pháp viện biên chế" được công bố bằng Nghị định ngày 2/12/1921 được thi hành tại toàn cõi Bắc kỳ thì Toà án sơ cấp có thẩm quyền sơ thẩm và chung thẩm nếu giá ngạch không quá 30 đồng bạc (Điều 6); Toà án tỉnh có quyền sơ thẩm và chung thẩm nếu giá ngạch quá 30 đồng bạc và không tới 100 đồng bạc (Điều 13). Tại Trung – Việt, theo Nghị định ngày 20/10/1947 của Hội đồng chấp chánh lâm thời Trung kỳ về sửa đổi giá ngạch cũ có quy định: Các Toà đệ nhị cấp xử chung thẩm các việc tương tranh động sản hoặc đối với người, việc thương sự; việc đòi tiền bồi hoàn hay bồi thường với giá ngạch trên 500 $ nhưng dưới 1500 $, về bất động sản theo giá ngạch đồng niên không quá 150 $ (Điều 19). Ở Miền nam Việt Nam, theo Sắc lệnh ngày 27/12/1943: "Toà xử sơ thẩm và chung thẩm các tố quyền đối nhân và động sản đến mức 7.500 quan tức 750$ hay 750 giạ lúa (mỗi giạ trọng lượng độ 20 ki lô), các tố quyền bất động sản lợi tức đồng niên 40 giạ lúa hay 300 quan hay 30$ mỗi năm. Theo Điều 16 Bộ luật dân sự và thương sự ngày 20/1/1972 của chính quyền Sài Gòn thì những vụ kiện về động sản có giá trị dưới 60.000đ (thời điểm 1972) được coi là có giá ngạch thấp[23].

Như vậy, có thể thấy rằng, ngay ở Việt Nam dưới thời Pháp thuộc thì việc xác định vụ kiện có giá ngạch thấp ở ba miền Bắc – Trung – Nam cũng có sự khác nhau. Nếu dựa trên cơ sở thực tế về vụ kiện có giá ngạch thấp đã từng được áp dụng ở Việt Nam thì 750 giạ lúa tương đương 15 tấn, 40 giạ lúa tương đương 800 ki lô. Thiết nghĩ, không nên ấn định vụ kiện có giá ngạch thấp bằng một khoản tiền cố định trong BLTTDS vì giá cả thị trường, đời sống có sự biến động thường xuyên, trong khi đó một Bộ luật thì không phải lúc nào cũng có thể dễ dàng sửa đổi. Do vậy, nên đặt ra một tiêu chí chung xác định vụ kiện có giá ngạch thấp được giải quyết theo thủ tục rút gọn. Sau này nếu có sự thay đổi thì có thể quy định chi tiết trong các văn bản hướng dẫn.

2.5. Về việc hoàn thiện pháp về thủ tục thi hành án dân sự tại Việt Nam

Trên thế giới hiện nay tồn tại nhiều mô hình thi hành án dân sự khác nhau. Ở Pháp, Bỉ, Hà Lan thì Nhà nước không nắm trong tay tất cả các đặc quyền mà thông thường do Nhà nước nắm giữ như ở một số nước khác. Nét đặc thù này thể hiện qua việc Nhà nước trao cho Thừa phát lại trách nhiệm thi hành các bản án dân sự do Toà án tuyên. Thừa phát lại không phải là công chức Nhà nước, được hành nghề theo quy chế tự do và hưởng thù lao từ lệ phí thi hành án thu được theo tỷ lệ nhất định[24]. Ngược lại, Thụy Điển, Trung Quốc, Nga, Thái Lan, Singapore và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu trước đây lại theo mô hình thi hành án công, tổ chức thi hành án bao gồm hệ thống các cơ quan thuộc bộ máy Nhà nước, các Chấp hành viên là công chức, viên chức hưởng lương từ ngân sách Nhà nước. Ngoài ra, một số nước như Nhật Bản, Đức, Hà Lan, Áo, Thuỵ Sỹ… theo mô hình tổ chức thi hành án bán công, việc thi hành án do viên chức thi hành án đảm nhiệm nhưng trên nguyên tắc tự lấy thu bù đắp chi phí thi hành án.

Xét thực tiễn thi hành án ở Việt Nam dưới thời kỳ Pháp thuộc thì việc thi hành án không do cơ quan thi hành án của Nhà nước thực hiện mà việc thi hành án do Thừa phát lại đảm nhiệm. Thừa phát lại do Nhà nước bổ nhiệm nhưng không phải là công chức nhà nước, không hưởng lương từ ngân sách nhà nước mà được trả thù lao từ các khoản lệ phí thu được từ người được thi hành án theo một tỉ lệ nhất định. Từ năm 1950, trên cơ sở Điều 19 Sắc lệnh số 85/ SL ngày 22/5/1950 “Về cải cách bộ máy Tư pháp và Luật tố tụng” thì việc thi hành án dân sự được giao Toà án đảm nhiệm. Cho đến năm 1993, sau khi Nhà nước ban hành Pháp lệnh thi hành án mới ngày 21/4/1993 thì việc tổ chức thi hành án dân sự được bàn giao cho cơ quan thi hành án dân sự thực hiện, các Toà án không còn đảm nhận công tác thi hành án dân sự nữa. Theo pháp luật hiện hành, việc thi hành các bản án, quyết định của Toà án vẫn thuộc trách nhiệm của các cơ quan nhà nước mà cụ thể là các cơ quan thi hành án dân sự.

Sau hơn mười năm áp dụng mô hình thi hành án công do các cơ quan thi hành án dân sự thực hiện, bên cạnh những ưu điểm của nó cũng bộc lộ những hạn chế, dẫn tới quyền lợi hợp pháp của ngư­ời đ­ược thi hành án không đ­ược bảo đảm, việc thi hành án bị kéo dài. Trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay việc tìm kiếm giải pháp để khắc phục những nhược điểm của mô hình thi hành án công là cần thiết. Nghị quyết số 49 – NQ/TW của Bộ chính trị ngày 2/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã chỉ rõ cần phải “…làm thí điểm ở một số địa phương về chế định Thừa phát lại, từng bước xã hội hoá các hoạt động bổ trợ tư pháp”. Để triển khai thực hiện chủ trương này, Quốc hội đã giao cho Chính phủ quy định và tổ chức thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại một số địa phương, trên cơ sở đó tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện thí điểm và báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định[25]. Theo tinh thần này, bên cạnh cơ quan thi hành án dân sự của Nhà nước, việc thi hành án dân sự sẽ do Thừa phát lại thực hiện.

Trên thực tế, nhiều cuộc hội thảo đã được tiến hành nhằm tiếp thu những điểm hợp lý của mô hình thi hành án tư của một số nước như Pháp, Bỉ, Hà Lan… khắc phục những điểm hạn chế của việc thi hành án do các cơ quan công quyền thực hiện. Mặc dù vậy, việc tiếp thu các quy định của pháp luật tố tụng nước ngoài về vấn đề này cũng có nhiều ý kiến khác nhau:

– Loại ý kiến thứ nhất ủng hộ việc xã hội hoá mạnh mẽ công tác thi hành án nói chung và công tác thi hành án dân sự nói riêng, kể cả việc áp dụng chế định thừa phát lại trong thi hành án dân sự.

– Loại ý kiến thứ hai cho rằng, chủ trương xã hội hoá công tác thi hành án là đúng đắn và cần thiết nhằm giảm bớt gánh nặng cho Nhà nước trong công tác thi hành án. Tuy vậy, cần phải có bước đi thích hợp, thận trọng[26].

Thiết nghĩ, việc cho phép các Chấp hành viên có năng lực tổ chức và chuyên môn đứng ra thành lập các văn phòng Thừa phát lại về thi hành án dân sự là cần thiết và hoàn toàn có cơ sở. Một mặt, sẽ tạo ra được một sự cạnh tranh giữa công bằng giữa các cơ quan thi hành án, các Chấp hành viên, Thừa phát lại sẽ làm việc hết sức mình, hiệu quả của công tác thi hành án sẽ được nâng cao. Mặt khác, người đứng ra thành lập văn phòng Thừa phát lại sẽ phải chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình và họ có quyền lựa chọn các nhân viên thực sự có năng lực vào làm việc. Do vậy, đối với tất cả các tổ chức thi hành án thì uy tín, chất lượng, hiệu quả sẽ được coi trọng, từ đó sẽ khắc phục được tình trạng chậm chạp, quan liêu, tạo ra được sự linh hoạt, hiệu quả trong công tác thi hành án. Hy vọng rằng sự việc tổ chức thí điểm mô hình Thừa phát lại trong thi hành án dân sự sẽ là một bước đột phá, có thể đem lại cho người dân một « dịch vụ công hoàn hảo » trong việc bảo vệ quyền lợi của mình. Để đảm bảo sự thành công của việc thí điểm mô hình Thừa phát lại trong thi hành án dân sự, tạo đà cho những bước đột phá trong cải cách sau này, cần phải lưu ý một số vấn đề sau đây :

– Cần phải xây dựng một cơ chế phối hợp và ràng buộc trách nhiệm giữa các cơ quan thi hành án với nhau. Cụ thể là cần quy định rõ nguyên tắc hưởng phí thi hành án và trách nhiệm giữa văn phòng Thừa phát lại nhận được yêu cầu thi hành án và văn phòng Thừa phát lại hoặc cơ quan thi hành án nhận được uỷ thác thi hành án.

– Tăng cường công tác kiểm sát thi hành án đối với việc thi hành án của các văn phòng Thừa phát lại nhằm tránh việc lạm quyền, xâm phạm tới quyền lợi hợp pháp của người phải thi hành án và người có tài sản liên quan đến việc thi hành án.

– Thiết lập ở Toà án các cấp Thẩm phán phụ trách về thi hành án. Vị Thẩm phán này có nhiệm vụ hỗ trợ Thừa phát lại trong việc ra các lệnh về thi hành án, đề nghị Toà án nơi mình công tác giải thích bản án, quyết định, cũng như giải quyết các khó khăn, tranh chấp về tài sản khi thi hành án.

– Đối với việc thi hành các quyết định về biện pháp khẩn cấp tạm thời thì cần có những quy định theo hướng ngay từ khi yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, đương sự có quyền đề nghị Toà án giao cho văn phòng Thừa phát lại hoặc cơ quan thi hành án của Nhà nước thi hành. Trong trường hợp đương sự không định đoạt về vấn đề này thì Toà án chuyển giao bản sao bản án, quyết định về biện pháp khẩn cấp tạm thời cho cơ quan thi hành án của Nhà nước tổ chức thi hành.

Như vậy, việc nghiên cứu « Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế » cho thấy rằng trong quá trình xây dựng BLTTDS, các nhà lập pháp của chúng ta đã tiếp thu được các quy định hợp lý trong pháp luật tố tụng dân sự của nhiều nước trên thế giới để hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam. Chẳng hạn như sự tiếp nhận các yếu tố của tố tụng xét hỏi và tranh tụng, các quy định về thủ tục áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời cũng như các quy định về thủ tục rút gọn, về xã hội hoá hoạt động thi hành án.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được cũng còn nhiều vấn đề đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục nghiên cứu kinh nghiệm của nước ngoài và tìm kiếm giải pháp khắc phục cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Như đã phân tích ở trên, khi tiếp nhận các yếu tố của thủ tục tố tụng tranh tụng và xét hỏi trong pháp luật tố tụng dân sự các nước vào nội luật, chúng ta cần nghiên cứu để xây dựng các quy định mang tính chuyển tiếp cho phù hợp với điều kiện thực tiễn và đặc điểm tâm lý của người Việt Nam. Cụ thể là khi tiếp nhận các quy định về thủ tục tố tụng tranh tụng của các nước theo truyền thống common law như Anh, Mỹ, Australia…chúng ta phải tính đến những đặc điểm riêng biệt của Việt Nam như đặc điểm về một nền văn minh nông nghiệp lúa nước, người dân Việt sống hướng nội và có « khuynh hướng duy hoà »[27] hơn là chủ động tranh đấu để tự bảo vệ quyền lợi cá nhân như ở các nước phương Tây. Sự kết hợp mềm dẻo, linh hoạt giữa vai trò chứng minh của các đương sự và vai trò của Thẩm phán trong việc đôn đốc thủ tục theo đặc điểm dân cư của từng vùng lãnh thổ, đề cao vai trò hoà giải tranh chấp của những người có uy tín trong bản làng nơi có đồng bào dân tộc sinh sống là việc làm hợp lẽ và cần thiết. Việc tham khảo pháp luật nước ngoài nhằm hoàn thiện các quy định về thủ tục áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, xây dựng cơ chế chuyển hoá giữa việc dân sự và vụ án dân sự trong BLTTDS là những việc cần tiếp tục được nghiên cứu và thực hiện. Ngoài ra, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, việc tiếp tục nghiên cứu pháp luật tố tụng dân sự của các nước như Mỹ, Úc, Pháp, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản…để vận dụng xây dựng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn, khôi phục lại các quy định về mô hình thi hành án dân sự tư nhân do Thừa phát lại thực hiện ở nước ta là những việc làm còn nhiều khó khăn và thử thách. Thế nhưng, đó là bổn phận thiêng liêng và sứ mệnh cao cả mà nhà lập pháp Việt Nam cần phải thực hiện đối với nhân dân của mình !


[1] Nhận xét này được rút ra từ việc khảo sát thực tiễn giải quyết tranh chấp dân sự tại một số vùng núi phía Bắc Việt Nam, nơi có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống.

[2] Trong tục ngữ Việt Nam có câu « Vô phúc đáo tụng đình, tụng đình rình vô phúc », Ngọc Lan, « Tục ngữ Việt Nam chọn lọc », Nxb Văn hoá – Thông tin 2007, tr. 111.

[3] Xem Trần Quốc Vượng, « Văn hoá Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm », Nxb Văn học 2003, tr. 746.

[4] Ngọc Liên, Thuần Tâm, « Triết lý Phật Thích Ca », Nxb Tri thức 1972, tr 54, 55 ; Ayya Khema, « Vô ngã vô ưu », Nxb Phương Đông 2008, tr. 109, 122 ; Gehlek Rimpoche, « Sống chết an lành », Nxb Phương Đông 2007, tr. 49, 80, 92, 93.

[5] Theo Điều 511 Quốc triều Hình luật thì « Con cháu kiện nhau với ông bà, cha mẹ, ông bà ngoại cùng là vợ kiện ông bà, cha mẹ chồng, đều phải biếm một tư ; nếu lý lẽ trái thì xử thêm tội một bậc ». Dưới góc nhìn của Nho giáo thì đây là quy định phù hợp với quy tắc ứng xử và đạo đức Đông phương. Tuy nhiên, dưới góc nhìn về quyền con người thì quy định này được coi là một hạn chế.

[6] Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Huy Đẩu thì văn bản này được gọi tên là Bộ dân sự tố tụng hiện hành tại Nam Việt (Xem Nguyễn Huy Đẩu , « Luật dân sự tố tụng Việt Nam », xuất bản tại Sài Gòn năm 1968, tr. 20).

[7] Xem Điều 3 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989; Điều 3, 4 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994, Điều 3 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996

[8] Xem Điều 6 và các điều từ Điều 85 đến Điều 98 BLTTDS.

[9] Xem các điều 222, 232, 233 BLTTDS.

[10] Xem Jean Vincent et Serge Guinchard, « Procédure civile Droit interne et droit communautaire», Nxb DALLOZ, 2006, tr 250.

[11] Xem Pierre ESTOUP, « La pratique des procédures rapides » , Nxb LITEC, 1990, tr 3, 285 , 327.

[12] Xem Jean – Marie COULON, Kỷ yếu Hội thảo pháp luật tố tụng dân sự, Nhà Pháp Luật Việt-Pháp, 1998, tr 38, 39, 40. áp dụng các Điều 808, 809 BLTTDS Pháp, Chánh án toà sơ thẩm thẩm quyền rộng có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế trả nhà đối với người thuê nhà không có hợp đồng thuê hoặc chỉ định một uỷ viên quản trị tạm thời một công ty trong trường hợp công ty không thể hoạt động do có sự bất đồng giữa các cổ đông, cưỡng chế một người thuê nhà ra khỏi nhà vì ngôi nhà có nguy cơ bị sụp đổ, quyết định cấm cạnh tranh bất hợp pháp, cấm phát hành các ấn phẩm có nội dung xâm phạm đời tư của cá nhân.

[13] Xem Điều 13, chương II; Điều 4, chương IV Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ ngày 13/7/2000; Jean Vincent et Serge Guinchard, « Procédure civile Droit interne et droit communautaire», Nxb DALLOZ, 2006, tr. 314, 758, 768, 769; §iÒu 93 BLTTDS cña n­íc Céng hoµ nh©n d©n Trung Hoa.

[14] Xem Nouveau Code de procédure civile, édition Dalloz, 2007, tr. 317 ; Jean Vincent et Serge Guinchard, « Procédure civile Droit interne et droit communautaire», Nxb DALLOZ, 2006, tr 317.

[15] Xem Nghị quyết số 02/2005/NQ-HĐTP ngày 27/4/2005 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định tại Chương VII « Các biện pháp khẩn cấp tạm thời » của Bộ luật tố tụng dân sự.

[16] Xem Công văn số 62/2001/KHXX ngày 13/6/2001 của Toà án nhân dân tối cao.

[17] Xem Điều 542 BLTTDS mới của Pháp và Điều 380-1 s. BLTTHS ; Xem thêm Raymond Guillien et Jean Vincent, « Lexique des termes juridiques », édition Dalloz 2001, page 4.

[18] Serge Guinchard, Frédérique Ferrand, « Procédure civile Droit interne et droit communautaire », édition Dalloz, 2006, page 1166.

[19] Serge Guinchard, Frédérique Ferrand, sách đã dẫn, tr. 1166.

[20] Nguyễn Huy Đẩu, « Luật dân sự tố tụng Việt Nam », Sài Gòn 1962, tr. 114.

[21] Giải pháp này cũng xuất phát từ ý tưởng về kiểm soát và định hướng hành vi của các tụng nhân theo « con đường chính » bằng pháp luật tố tụng theo triết lý của Phật giáo và Nho giáo.

[22] Serge Guinchard, Frédérique Ferrand, sách đã dẫn, tr. 871.

[23] Xem « Luật dân sự tố tụng Việt Nam » – Nguyễn Huy Đẩu – xuất bản năm 1962 tại Sài Gòn, tr 255, 256

[24] Xem « L‘Huissier de Justice » – Tài liệu do Hội đồng Thừa phát lại Pháp ấn hành tháng 2/1994, tr 4.

[25] Nghị quyết số 24/2008/QH 12 ngày 14/11/2008 của Quốc hội khoá XII.

[26] Xem Tờ trình số 31/TTr- CP ngày 4/4/2008 của Chính phủ về Dự án LTHADS, tr. 9; Báo cáo tổng hợp ý kiến tham gia của Bộ, ngành, địa phương đối với DTLTHADS 2008, tr. 5. Có thể nhận xét rằng dù Việt Nam đã hội nhập quốc tế nhưng sự thay đổi cơ chế trong luật pháp là vấn đề không đơn giản, con đường để một cơ chế mới đứng vững trong luật pháp có lẽ còn nhiều gập ghềnh và khúc khuỷu. Bởi vì sự thay đổi này gắn liền với sự thay đổi quan niệm trong nhận thức, thay đổi thói quen trong lề lối làm việc và thay đổi cả quyền lợi của các chủ thể trong việc thực thi quyền lực được trao. Tuy nhiên, trong một xã hội văn minh thì pháp luật phải là phương tiện để phụng sự dân chúng, đem lại cho họ những « dịch vụ công » hoàn hảo nhất mà họ xứng đáng và cần phải được hưởng.

[27] Xem Trần Quốc Vượng, Văn hoá Việt Nam – Tìm tòi và suy ngẫm, Nxb Văn học 2003, tr. 121, 901.

SOURCE : Pháp luật Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế và phát triển bền vững, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2009.

KHÔNG SỬ DỤNG BÀI VIẾT VÀO MỤC ĐÍCH THƯƠNG MẠI

ĐỌC CÁC BÀI VIẾT CÙNG TÁC GIẢ TẠI ĐÂY

Advertisements

One Response

  1. ——————————————————————————–
    Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi:
    TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
    Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
    Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
    Copyright © SUNLAW FIRM
    ——————————————————————————–

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: