VỊ THẾ GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG LỊCH SỬ

THẠCH VĂN

Luật lệ về hôn thú; hứa hôn và ly dị và các nghi lễ, tình trạng đa thê, các vấn đề xã hội nghề nghiệp, sự giáo dục và những nét đặc biệt của vẻ đẹp người phụ nữ Việt Nam trong lịch sử đã góp phần làm nên bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc.

Những điều luật về hôn nhân sớm nhất của Việt Nam thời phong kiến có thể sớm hơn Bộ Luật Dân sự của nước Pháp đã có những điều rất tiến bộ đối với phụ nữ như: người phụ nữ bình đẳng với người chồng: (Thê – Phu tề gia ). Khi lập gia đình, họ không nhất thiết phải dùng tên của người chồng, mà có thể giữ tên riêng của mình.

Ở Việt Nam xưa, hôn thú xảy ra ở tuổi rất sớm, con trai là mười sáu, con gái là mười bốn và được xem là một vấn đề rất hệ trọng nên không thể phó mặc cho sự may rủi hoặc sở thích trong tình yêu. Nó là công việc mà cha mẹ thường phải sắp xếp, giải quyết và được tham khảo ý kiến của những người có quan hệ gần gũi trong họ tộc. Cũng chính vì vậy mà sự cố vấn là cần thiết cho lứa tuổi còn quá trẻ. Cũng do vậy, thời kỳ hứa hôn được chấp nhận kéo dài. Sự hứa hôn cấu thành khế ước pháp lý đầu tiên và sẽ kết thúc khi vị hôn thê chấp nhận các lễ vật. Nếu người con trai phá bỏ sự hứa hôn, anh ta sẽ mất lễ vật đã trao cho người hôn thê. Nếu người con gái là kẻ hối hôn, cô ta có thể bị người hôn phu đầu tiên khiếu nại cho dù sau này anh ta sẽ lấy một người  khác.

Các cuộc hôn nhân với người cận huyết thống sẽ bị trừng phạt rất nặng nề. Thí dụ, một người đàn ông lấy bà cô của mình sẽ tức thời bị chém đầu. Người đàn ông có thể được phép lựa chọn người làm vợ trong số các chị em của người vợ cả bị chết nhưng lại có thể bị treo cổ nếu cưới vợ góa của anh em trai. Việc kết hôn hỗn tạp cũng bị ngăn cấm bởi vì nó có thể làm đảo lộn căn bản hệ cấp của gia đình.

Nghi lễ và giáo lý Phật Giáo của người Việt biểu lộ một sự tôn kính sâu xa liên quan đến tục thờ cúng tổ tiên. Từ đó, vị thế truyền thống của người cha cấu thành các nguyên tắc nền tảng của gia đình. Nhà nào cũng đều có một bàn thờ nhưng chỉ người đàn ông mới được cử hành lễ. Đây lại chính là nguồn gốc của một sự bất bình đẳng xã hội. Điều dễ nhận thấy là người đàn ông luôn tìm cách vận dụng tôn giáo để gia tăng quyền lực của mình.

Sự ra đời của một đứa con trai được coi là lộc trời ban cho một con người; đồng thời nó cũng áp đặt trên người đó một bổn phận nghiêm khắc và linh thiêng. Nếu một người nào đó mà hôn nhân không cho họ một đứa con trai, luật pháp phong kiến sẽ có các phương cách để trợ giúp. Đó là sự thừa nhận tình trạng đa hôn và chấp nhận con ngoài giá thú, về sau thành người thừa tự.  Người vợ không sinh con có thể bị trả về với cha mẹ của mình, bị coi là bất hiếu “tam sự bất hiếu, vô hậu vi đại”. Nếu người  vợ chỉ sinh toàn con gái có thể có nguy cơ bị thế chỗ bởi một bà vợ khác.

Thực tế thường xảy ra đối với người đàn ông chỉ có một con gái là nhận người con rể, nhưng con rể không thể bị buộc gánh vác trách nhiệm về việc thờ cúng tổ tiên, nên cần phải tìm nhận một đứa con trai khác đứng vai trò làm trưởng gia đình. Thường là trong số các cháu trai bên nội và anh em họ của chúng (tương tự như ở Hy Lạp và Ấn Độ).

Trong vấn đề thừa kế, “phần hương hỏa” bao giờ cũng được tính toán rất cẩn trọng nên nó tạo ra thói quen phân chia tài sản nhiều hơn cho người con trai cả hay đứa con trai nuôi. Tuy nhiên, người góa phụ  vẫn thừa kế tài sản của chồng, các con gái dễ bị loại ra khỏi sự thừa kế.

Theo “Dịch Kinh” hôn nhân thì không thể bị tan vỡ. Nhưng lại có nhiều điều luật tiến bộ hơn hạn chế sự ly hôn. Các lý do ly hôn là: không có con, dâm loạn, trộm cắp, ghen tuông, lắm lời, bất kính đối với cha mẹ chồng, và mắc các chứng ác tật không thể chữa trị được như cùi hủi và động kinh phong.  Cũng có những trường hợp chứng tỏ sự khôn ngoan và nhân đạo của luật. Chẳng hạn, người đàn ông không thể ly dị vợ khi khởi sự đời sống vợ chồng trong sự nghèo khổ, về sau này trở nên giàu có; ông ta cũng không thể bỏ vợ khi tình cảm đã phai nhạt với người đàn bà đầu tiên mà ông ta từng yêu hoặc do gia đình “đầu đội trầu, tay bưng lễ” đi cưới hỏi về cho ông.

Không lý do nào có thể biện minh cho sự ngoại tình; với tình trạng phạm pháp quả tang được chứng minh, người chồng được phép giết chết đôi kẻ phạm tội. Thời xưa người vợ phạm tội bị mang ra chốn công cộng để cho voi dày. Sau này tội được giảm xuống là bị đánh chín mươi trượng. Lúc đó người đàn ông có quyền đem bán hay giữ người vợ lại. Về sau việc trả thù man rợ ngày càng ít hơn. Thảng hoặc cũng vẫn có một cặp gian dâm có thể bị buộc bè cho trôi sông  hoặc bị trói chặt vào nhau và bị nhét vào miệng các thứ rác rưởi.

Người vợ Việt Nam được cưới hỏi theo luật thì được hưởng lợi chung về tài sản. Khi người chồng mua hay bán đất đai không bao giờ thiếu việc ghi tên người vợ. Các hương chức ở thôn xã ghi chép đủ các quyền của người vợ trong sổ sách và người mua bán khôn ngoan cũng không quên người vợ trong các giao dịch tài sản quan trọng.

Sách Lễ Ký ghi nhớ về các lễ nghi: “Hôn lễ hoàn thành sự hợp nhất giữa hai người có tên khác nhau, trong một cung cách khiến cho họ có thể thờ phụng tổ tiên nơi điện thờ của họ và huấn luyện các thế hệ tương lai đi theo các truyền thống của họ.” Người ta nhận thấy văn minh Việt Nam, sau khi giao thoa với văn minh Trung Hoa đã có khuynh hướng đi theo một bản sắc riêng.

Hôn nhân Việt Nam là một khế ước tự do giữa những người mong muốn và là sự thỏa thuận giữa hai gia đình. Chính quyền ít khi  can thiệp. Người mai mối không phải là quan chức, nhưng lại bị ràng buộc trách nhiệm pháp lý. Họ thường là bạn của cả hai bên gia đình. Tại các phố phường người làm mối là người hành nghề chuyên nghiệp, quen biết nhiều và thông thạo lễ nghi. Các bước tiến tới hôn nhân như sau: Nhà trai trước hết nhờ người mai mối đến nhà gái ngỏ lời cầu hôn và nếu được trả lời thuận ý, gia đình người con trai sẽ cho biết họ tên, tuổi, ngày sinh của chàng trai trong một tấm thiệp đỏ. Người đại diện cũng nhận được cùng thông tin như thế từ phía nhà cô gái. Khi đó các thày bói sẽ xem hai gia đình và tuổi của hai người có hợp không. Người mai mối ấn định ngày cưới, còn cha mẹ thì lo sắm lễ vật và cầu nguyện với tổ tiên. Khi đó các nghĩa vụ của người thanh niên bắt đầu. Chàng trai sẽ tự đến trình diện theo các nghi thức bên nhà gái và dâng lễ vật như trầu cau và nhiều thứ khác… Nếu lễ vật được chấp nhận, kể từ lúc đó người con trai đó được xem là con rể. Ở các nhà nghèo, sau cầu hôn, anh ta sống cùng nhà với vị hôn thê. Nhà giàu có hơn, người con trai sẽ về nhà riêng của mình, và sẽ không quay lại thăm viếng người hôn thê cho đến ngày được ấn định là ngày hứa hôn.

Ngày hứa hôn (ăn hỏi), một lần nữa anh ta lại dâng trầu cau, bánh trái cùng nhẫn xuyến đeo tay, đeo tai và lụa màu, hai cây nến đỏ, hai chén rượu nhỏ, và một con lợn quay nhỏ. Đám ăn hỏi rất vui vẻ và ngoạn mục. Mọi người đều mặc trang phục đẹp nhất, nhiều người mang theo lọng, có người đi theo thổi sáo. Khi đến nhà vị hôn thê, lễ vật được đặt lên trên bàn thờ, các ngọn nến đỏ được thắp lên, rượu được rót ra chén. Hai người cha cùng đứng lên và bái lạy trước bàn thờ, kế tiếp là hai bà mẹ. Một bữa tiệc, thịnh soạn, chi tiết theo nghi thức nghiêm ngặt.

Ngày cưới thì long trọng hơn. Cha của chàng rể cùng thân nhân của gia đình đứng trước bàn thờ trình diện trước tổ tiên đứa con sắp đi lập gia đình.  Sau đó, chàng trai sẽ đến nhà vị hôn thê. Anh ta đi cùng các gia nhân bưng quà cưới và đám đông bè bạn, người thân.  Sau màn chào hỏi ngoài trời, mọi người vào trong nhà và quây quần quanh bàn thờ. Hôn phu tự bái lạy trước bàn thờ rồi tiến đến bố mẹ vợ để dâng rượu và trầu cau. Trong khi đó bố của chú rể đọc liệt kê các quà dẫn cưới.

Đôi trẻ được dẫn tới một buồng riêng và đứng trước bàn thờ phụng thờ các vị thần của hôn nhân, trên đó nến được thắp, hương được đốt. Hai bên cha mẹ sẽ chúc đôi trẻ có đông con cháu và khuyên bảo họ gìn giữ hôn nhân cho đến mãn đời. Đây là nghi thức long trọng nhất trong buổi lễ. Khi đó người vợ trẻ vén khăn, hoặc nón che mặt lên và người chồng làm như mới thấy mặt nàng lần đầu tiên.  Người vợ giờ đây sẽ bái lạy bốn lễ trước người chồng, người chồng đáp lại người vợ một lễ.  Họ đổi chén rượu cho nhau, cuộc lễ hoàn tất. Một bữa tiệc sau đó được tổ chức long trọng có đôi tân hôn tham dự.

Hôn nhân giữa những người nghèo ít phức tạp hơn và nhất là hôn lễ với người vợ lẽ, thủ tục rất đơn giản.

Tập tục đa thê của người Việt xưa rất khác biệt. Vua thì có số lượng lớn các bà vợ, nhưng quan chức cao cấp lại hiếm khi có tới bốn năm vợ.  Người nghèo thì chỉ cần có một người vợ vì do các bà vợ hay bị chi phối bởi của cải vật chất.  Một thương nhân hay quan chức xê dịch nhiều, thường có một gia đình tại mỗi trung tâm hoạt động chính của họ, người vợ đóng vai đại lý thương mại hay quản lý.

Người vợ pháp định được gọi là người vợ cả, “vợ chính”. Bà ta giữ một vị thế quan trọng trong gia đình. Bà là vị hoàng hậu của tổ ấm. Tất cả các bà vợ lẽ, gia nhân, v.v.. đều phải vâng lời; mọi đứa con đều kính trọng và tôn phục bà. Thời gian cư tang khi bà vợ cả chết là ba năm, trong khi với bất kỳ bà vợ nào khác, chỉ phải cư tang một năm, sau đó là do các đứa con riêng của người đó lo liệu. Lúc người cha từ trần, mọi đứa con của các bà vợ khác nhau đều nhận được cùng số tài sản thừa kế.  Bà vợ cả giữ quyền lợi suốt đời trên tài sản của người chồng.  Phần sở hữu của những người mẹ khác sẽ được đem chia cho các con riêng người đó.

Điều có thể nhận thấy rằng nhân quyền của người đàn bà Việt Nam xưa đã đặt ở vị thế khá cao mà nhiều nền văn minh Tây Phương đã không đạt được mức cao hơn thế.

Các tính chất tổng quát của vẻ đẹp đặc thù xưa được cho là: “phẩm chất tinh thần và đức hạnh thì quan trọng hơn nhiều so với vẻ đẹp bên ngoài khi vấn đề lựa chọn một người vợ được đặt ra”, “tốt gỗ hơn tốt nước sơn”. Tiêu chí về vẻ đẹp hình thể thì kích thước của eo không được quá lớn. Tóc dài và đen là đẹp nhất. Khuôn mặt phải có hình trái xoan, và phải có nét cân đối toàn diện. Mắt của người đáng yêu thì sáng rực như đôi mắt phụng, lông mày có những đường cong thanh tú vút ra như mày của con tằm.  Gót chân thì đỏ như son. Câu này đã trở thành một câu tục ngữ phổ thông: “Mắt phụng”, “Mày tằm”, “Gót son”. Chúng ta nhận thấy ở người phụ nữ Việt, sự kính trọng và lòng hiếu thảo được bảo đảm tại ngôi nhà của mình và luật pháp thừa nhận cho bà các quyền hạn thực sự rộng rãi.

Gia đình Việt Nam, được quản lý bởi các nguyên tắc như thế, hẳn nhiên phải có một tương lai thịnh vượng. Nếu tục thờ cúng tổ tiên đã đóng góp vào sự vững chắc của cuộc sống gia đình và cho sự vĩ đại của dân tộc, nó cũng có khuynh hướng khiến họ phóng đại truyền thống. Truyền thống tốt đẹp này không chống lại sự tiến bộ. Nếu chúng ta muốn biết về phụ nữ và gia đình Việt Nam và muốn nhận thức giá trị đạo đức của nó, chúng ta chỉ cần nhìn vào đời sống gia đình và sự đối xử kính trọng đối với phụ nữ./.

SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN ĐIỆN TỬ

Trích dẫn từ: http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi/2011/13285/Vi-the-gia-dinh-va-xa-hoi-cua-phu-nu-Viet-Nam.aspx

Advertisements

Một phản hồi

  1. Thế mới thấy rằng pháp luật nước ta từ xưa đã có sự công bằng đối với phụ nữ. Giấy tờ đất đai, nhà cửa đều có ghi đầy đủ tên vợ chồng nhờ đó quyền lợi về tài sản của người vợ được đảm bảo.

    Like

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: