LUẬT DOANH NGHIỆP CẦN QUY ĐỊNH RÕ CHẾ ĐỘ ỦY QUYỀN THAM DỰ CUỘC HỌP ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG

THS. PHẠM THỊ DUYÊN MỸ – Phòng Luật & Kiểm soát nội bộ – Công ty CP Chứng khoán Sài Gòn

Một trong những quyền cơ bản của cổ đông khi tham gia vào công ty cổ phần (CTCP) là quyền tham dự, phát biểu và biểu quyết trực tiếp tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ). Tuy nhiên, khi ĐHĐCĐ họp thì không phải mọi cổ đông đều có thể tham dự để thực hiện quyền của mình. Trong khi đó, để cuộc họp ĐHĐCĐ có giá trị về mặt pháp lý thì phải có đủ túc số dự họp lẫn biểu quyết1. Nhưng làm sao để có đủ túc số ấy khi cổ đông của công ty đại chúng ở nhiều vùng miền, và thậm chí ở nhiều quốc gia khác nhau?

Luật Doanh nghiệp 2005 đã đưa ra giải pháp cho cổ đông và cho CTCP bằng phương thức tham dự và biểu quyết tại cuộc họp ĐHĐCĐ thông qua người đại diện được ủy quyền2. Theo đó, “cổ đông là cá nhân, người đại diện theo ủy quyền của cổ đông là tổ chức trực tiếp hoặc ủy quyền bằng văn bản cho một người khác dự họp ĐHĐCĐ. Trường hợp cổ đông là tổ chức không có người đại diện theo ủy quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 96 của Luật này thì ủy quyền cho người khác dự họp ĐHĐCĐ3”.

Xác định người đại diện theo ủy quyền dự họp ĐHĐCĐ của cổ đông là tổ chức

Căn cứ theo các quy định của Luật Doanh nghiệp 2005 thì đối với cổ đông là tổ chức, cần phân biệt hai “dạng” đại diện theo ủy quyền. Theo Khoản 3 Điều 96 Luật Doanh nghiệp 2005, cổ đông là tổ chức có quyền cử một hoặc một số người đại diện theo ủy quyền thực hiện các quyền cổ đông của mình theo quy định của pháp luật, bao gồm cả quyền dự họp và biểu quyết tại cuộc họp ĐHĐCĐ; trường hợp có nhiều hơn một người đại diện theo ủy quyền được cử thì phải xác định cụ thể số cổ phần và số phiếu bầu của mỗi người đại diện. Việc cử, chấm dứt hoặc thay đổi người đại diện theo ủy quyền phải được thông báo bằng văn bản đến công ty trong thời hạn sớm nhất, bao gồm các nội dung từ điểm a đến điểm e của Khoản 3 Điều 96. Công ty phải gửi thông báo về việc cử, chấm dứt hoặc thay đổi người đại diện theo ủy quyền đến cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của cổ đông là tổ chức. Đây là một dạng ủy quyền thường xuyên, và thường được thấy trong các CTCP hóa từ doanh nghiệp nhà nước. Cũng không ít công ty đã nhầm lẫn khi ghi tên những người đại diện theo ủy quyền này vào danh sách cổ đông và xem họ mặc nhiên như là một cổ đông thực sự tương ứng với số cổ phần mà họ đại diện. Việc một tổ chức cử nhiều người đại diện phần vốn của mình tại một công ty nhằm hạn chế được tình trạng “lạm quyền” và hạn chế rủi ro nếu người được ủy quyền thực hiện các công việc không vì lợi ích của tổ chức ủy quyền. Tuy nhiên, nếu những người đại diện theo ủy quyền này không tham dự cuộc họp ĐHĐCĐ thì họ vẫn có thể ủy quyền cho người khác tham dự và biểu quyết tại cuộc họp ĐHĐCĐ, và việc ủy quyền cho “người khác” này có thể hiểu là một dạng ủy quyền “adhoc”, ủy quyền theo vụ việc.

Số lượng người được ủy quyền dự họp ĐHĐCĐ

Một vấn đề được đặt ra là một cổ đông được ủy quyền cho bao nhiêu người dự họp và biểu quyết tại ĐHĐCĐ? Khoản 1 Điều 101 Luật Doanh nghiệp quy định cổ đông là cá nhân, người đại diện theo ủy quyền của cổ đông là tổ chức ủy quyền cho “một người khác” dự họp ĐHĐCĐ. Như vậy, căn cứ theo quy định này thì cổ đông là cá nhân chỉ có thể ủy quyền tối đa cho một người tham dự họp ĐHĐCĐ, còn cổ đông là tổ chức có thể ủy quyền cho số người tham dự họp ĐHĐCĐ tối đa bằng với số người đại diện theo ủy quyền đã được thông báo với công ty theo Khoản 3 Điều 96. Số lượng này có thể là 3, là 5, 7 hoặc nhiều hơn. Tuy nhiên, Nghị định 102/2010/NĐ-CP ngày 01/10/2010 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp có vẻ đã can thiệp sâu hơn vào quyền của cổ đông là tổ chức khi quy định: “Tổ chức là cổ đông CTCP có sở hữu ít nhất 10% tổng số cổ phần phổ thông có quyền ủy quyền tối đa ba người tham dự họp ĐHĐCĐ4”. Trước đây, Nghị định 139/2007/NĐ-CP ngày 05/9/2007 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp cũng quy định tương tự nhưng có phần thông thoáng hơn khi cho Công ty tự quy định trong Điều lệ về quyền ủy quyền tham dự họp ĐHĐCĐ của cổ đông là tổ chức: “Nếu Điều lệ công ty không quy định khác thì tổ chức là cổ đông CTCP có sở hữu ít nhất 10% tổng số cổ phần phổ thông có quyền ủy quyền tối đa ba người tham dự họp ĐHĐCĐ5”. Quy định này của Nghị định 102 cũng không được rõ ràng khi không thấy quy định về số lượng người đại diện trong trường hợp cổ đông là tổ chức sở hữu ít hơn 10% tổng số cổ phần phổ thông của công ty. Điều lệ mẫu áp dụng cho các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán/Trung tâm Giao dịch Chứng khoán (ban hành kèm theo Quyết định số 15/2007/QĐ-BTC ngày 19/3/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính – sau đây gọi là Điều lệ mẫu) khi quy định vấn đề này cũng không phân định rõ ràng giữa cổ đông là cá nhân và cá đông là tổ chức: “các cổ đông có quyền tham dự ĐHĐCĐ theo luật pháp có thể trực tiếp tham dự hoặc ủy quyền cho đại diện của mình tham dự. Trường hợp có nhiều hơn một người đại diện theo ủy quyền được cử thì phải xác định cụ thể số cổ phần và số phiếu bầu của mỗi người đại diện6”. Việc quy định cổ đông là cá nhân chỉ được ủy quyền cho một người tham dự có thể hiểu xuất phát từ quan điểm “một người không thể mâu thuẫn với chính mình khi thực hiện các giao dịch”, tuy nhiên, bản chất của CTCP là một công ty đối vốn, quyền biểu quyết của các cổ đông cũng dựa trên số lượng cổ phần mà họ sở hữu. Nếu cổ đông là tổ chức có thể hạn chế rủi ro của sự “lạm quyền” bằng cách ủy quyền cho nhiều người khác nhau, thì tại sao lại không cho cổ đông là cá nhân thực hiện quyền tương tự như vậy?

Hình thức ủy quyền

Luật Doanh nghiệp 2005 bắt buộc việc ủy quyền dự họp ĐHĐCĐ phải được lập thành văn bản theo mẫu của công ty và phải có chữ ký của cổ đông là cá nhân và người được ủy quyền (trường hợp người ủy quyền là cổ đông cá nhân), hoặc chữ ký của người đại diện theo ủy quyền của cổ đông là tổ chức, người đại diện theo pháp luật của cổ đông và người được ủy quyền dự họp (trường hợp người ủy quyền là người đại diện theo ủy quyền của cổ đông là tổ chức), hoặc chữ ký của người đại diện theo pháp luật của cổ đông và người được ủy quyền dự họp.

Nội dung ủy quyền

Một vấn đề quan trọng khi ủy quyền là nội dung ủy quyền. Theo đó, người được ủy quyền chỉ được hành động trong phạm vi được ủy quyền. Cổ đông có thể ủy quyền toàn bộ cho người đại diện được quyền quyết định tất cả những vấn đề cần sự biểu quyết của cổ đông, hoặc chỉ thị cho người đại diện phải biểu quyết theo ý mình dựa trên các tài liệu đã được nhận trước khi cuộc họp ĐHĐCĐ khai mạc. Tuy nhiên, văn bản ủy quyền lại phải làm theo mẫu của công ty, trong khi đó hầu như mẫu chung trong Giấy ủy quyền của tất cả các công ty chỉ ghi ngắn gọn nội dung ủy quyền như sau: “Thay mặt cho tôi tham dự và biểu quyết tại ĐHĐCĐ thường niên năm… của CTCP… với tư cách là đại diện cho tất cả số cổ phần mà tôi đang sở hữu”7. Như vậy, mặc nhiên các công ty đã bắt buộc cổ đông phải ủy quyền toàn bộ cho người đại diện và cho người đại diện được quyết định mà không có một chỉ thị cụ thể nào. Giả sử người ủy quyền muốn chỉ thị cho người được ủy quyền biểu quyết một cách cụ thể đối với các vấn đề bằng một văn bản khác thì có thể sẽ bị từ chối vì không được lập theo mẫu của CTCP. Nếu phát sinh tranh chấp giữa người ủy quyền và người được ủy quyền, thì các mẫu giấy ủy quyền này sẽ thể chứng minh người được ủy quyền đã hành động đúng hay không đúng như ý chí của người ủy quyền, nhất là quy định pháp luật Việt Nam hiện nay không bắt buộc người được ủy quyền phải công khai nội dung được ủy quyền biểu quyết, trừ trường hợp tổ chức lưu ký được cổ đông của các công ty niêm yết ủy quyền làm đại diện8.

Người nhận ủy quyền và vấn đề ủy quyền đương nhiên

Một vấn đề nữa cũng được đặt ra là người được ủy quyền có thể là tổ chức hay không? Luật Doanh nghiệp 2005 và Điều lệ mẫu chỉ nói là “người khác” mà không quy định rõ là cá nhân hay tổ chức. Nhưng dựa vào yêu cầu về chữ ký của người ủy quyền và người được ủy quyền trên văn bản ủy quyền, có thể hiểu được rằng người được ủy quyền dự họp ĐHĐCĐ chỉ có thể là cá nhân. Tuy nhiên, Quy chế quản trị công ty áp dụng cho các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán/Trung tâm Giao dịch Chứng khoán (ban hành kèm theo Quyết định số 12/2007/QĐ-BTC ngày 13/3/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính – sau đây gọi là Quy chế quản trị công ty niêm yết) đã đi xa hơn một bước khi quy định: “Cổ đông có thể ủy quyền cho Hội đồng quản trị hoặc các tổ chức lưu ký làm đại diện cho mình tại ĐHĐCĐ9”. Theo quy định này thì cổ đông có thể ủy quyền cho một tổ chức đại diện cho mình tham dự và biểu quyết tại cuộc họp ĐHĐCĐ. Trên thực tế cũng có nhiều ý kiến ủng hộ việc ủy quyền cho Trung tâm lưu ký chứng khoán (TTLKCK) thực hiện các quyền của cổ đông tại cuộc họp ĐHĐCĐ10. Nhưng nếu TTLKCK đảm nhận vai trò “được ủy quyền” thì phải xem lại một số vấn đề về mặt lý thuyết như: bên nhận ủy quyền là pháp nhân, trách nhiệm của pháp nhân khi nhận ủy quyền, trách nhiệm của cá nhân trong pháp nhân khi thực hiện hành vi được ủy quyền của pháp nhân, tính độc lập của TTLKCK…

Gần đây, có nhiều ý kiến phản đối về ý tưởng “ủy quyền đương nhiên” cho Hội đồng quản trị khi tổ chức họp ĐHĐCĐ của CTCP, được đưa ra trong Dự thảo Nghị định sửa đổi Nghị định 139/2007/NĐ-CP. Trong Dự thảo lần 3, cơ quan soạn thảo đã đưa ra giải pháp đối với một số vấn đề liên quan đến ĐHĐCĐ:“Nếu Điều lệ công ty không quy định khác hoặc cổ đông có liên quan không có ý kiến khác bằng văn bản, các thành viên độc lập của Hội đồng quản trị đương nhiên là người đại diện theo ủy quyền của tất cả các cổ đông không tham dự họp Đại hội đồng cổ đông”11. Quy định này được đưa ra nhằm gỡ vướng cho các công ty đại chúng trong bối cảnh ngày càng có nhiều công ty đại chúng không tổ chức thành công cuộc họp ĐHĐCĐ trong lần đầu tiên. Tuy nhiên, các ý kiến phản đối cho rằng, quy định như vậy là vi phạm quyền của cổ đông và Bộ luật Dân sự về việc đại diện theo ủy quyền. Việc không tham dự cuộc họp khác hoàn toàn với việc tự nhiên có người đại diện theo ủy quyền. Cổ đông không tham dự họp đại hội cổ đông là từ bỏ quyền thể hiện ý chí của mình về mọi vấn đề cuộc họp nêu ra và phải chấp nhận kết quả quyết định của đại hội cổ đông. Còn có người đại diện không mong muốn thì có thể làm thay đổi kết quả đó. Ngoài ra, việc quy định như dự thảo Nghị định đưa ra còn mâu thuẫn với quy định tại khoản 2, Điều 101 Luật Doanh nghiệp: “Việc uỷ quyền cho người đại diện dự họp ĐHĐCĐ phải lập thành văn bản và phải có chữ ký của cổ đông ủy quyền và người được ủy quyền dự họp”. Quy định này sẽ cho ra một đáp số đồng dạng là, dù cho tỷ lệ tham dự cuộc họp trên thực tế chỉ là một vài phần trăm, nhưng kết quả vẫn luôn đạt con số sát 100%. Như vậy thì quan điểm không chịu hạ xuống 51% mà cứ giữ nguyên tỷ lệ 65% để bảo vệ quyền lợi của các cổ đông nhỏ sẽ trở thành ý tưởng hoàn toàn vô nghĩa12. Chính vì những ý kiến phản đối mạnh mẽ đó mà khi Nghị định 102 chính thức được ban hành thì nội dung về việc ủy quyền đương nhiên dự họp ĐHĐCĐ đã không được đưa vào. Tuy nhiên, các nhà làm luật vẫn không từ bỏ ý định của mình, khi trong Dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Quy chế quản trị công ty niêm yết và Điều lệ mẫu lấy ý kiến các thành viên thị trường vào đầu tháng 12/2010, ý tưởng về việc ủy quyền đương nhiên lại một lần nữa được đặt ra: “Trường hợp các công ty niêm yết đã tuân thủ đầy đủ trình tự, thủ tục về triệu tập ĐHĐCĐ theo quy định của pháp luật, cổ đông không tham dự nhưng không có ủy quyền hoặc không đăng ký tham dự và thực hiện bỏ phiếu từ xa thì Hội đồng quản trị có quyền mời tổ chức lưu ký chứng khoán đại diện cho các cổ đông tham dự và bỏ phiếu thay các cổ đông nêu trên”.13 Cũng như Dự thảo thay thế Nghị định 139, Dự thảo Thông tư lần này cũng không nhận được ý kiến đồng tình từ phía những người tiếp nhận vì nội dung trái quy định của Luật Doanh nghiệp và thiếu tính khả thi trong thực tế14.

Kiến nghị

So sánh với pháp luật của các nước có truyền thống luật công ty phát triển, rõ ràng Việt Nam vẫn còn thiếu rất nhiều quy định liên quan đến chế độ ủy quyền tham dự và biểu quyết tại cuộc họp ĐHĐCĐ. Ở Mỹ, hơn 98% số cổ phần được bỏ phiếu bằng việc ủy quyền trước cuộc họp15. Do đó, chế định ủy quyền được quy định rất cụ thể và chặt chẽ trong đạo luật của liên bang (Securities Exchange Act of 1934) nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các cổ đông trong việc thực thi quyền biểu quyết của mình. Ở Mỹ, cơ quan giám sát việc thu thập ủy quyền là Ủy ban Giao dịch Chứng khoán (U.S. Securities and Exchange Commission). Cơ quan này ra luật để kiểm soát cơ chế ủy quyền, bảo đảm cho người ủy quyền nhận được đầy đủ thông tin trước khi ký16.

Luật Doanh nghiệp Việt Nam nên quy định thêm những cơ chế để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các cổ đông tham dự và biểu quyết thông qua người đại diện. Để làm được việc đó, có thể cho phép áp dụng cả phương thức giao dịch điện tử giữa cổ đông và người đại diện và giữa người đại diện với công ty. Bản thân người đại diện cũng cần được thực hiện việc tham dự và biểu quyết thông qua phương tiện điện tử. Đồng thời với các biện pháp này, luật cũng cần điều chỉnh cụ thể mối quan hệ giữa cổ đông và người đại diện (là điều hiện nay mà luật hoàn toàn bỏ ngỏ) để đảm bảo việc người đại diện lạm dụng ủy quyền đại diện vì lợi ích của chính mình thông qua việc quy định các nội dung bắt buộc cần phải có trong mẫu giấy ủy quyền dự họp và biểu quyết tại cuộc họp ĐHĐCĐ. Ngoài ra, luật cũng cần làm rõ số lượng người được nhận ủy quyền là bao nhiêu, chỉ là cá nhân hay có thể bao gồm tổ chức được nhận ủy quyền. Trong trường hợp luật cho phép ủy quyền cho tổ chức tham dự và biểu quyết tại cuộc họp ĐHĐCĐ thì còn phải xem xét đến trách nhiệm của tổ chức khi nhận ủy quyền, trách nhiệm của cá nhân trong tổ chức khi thực hiện hành vi được ủy quyền của pháp nhân.

Chú thích:

(1) Theo Khoản 1 Điều 102 Luật Doanh nghiệp 2005 thì cuộc họp ĐHĐCĐ lần thứ nhất chỉ được tiến hành khi có số cổ đông dự họp đại diện ít nhất bằng 65% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết và theo Khoản 3 Điều 104 thì quyết định của ĐHĐCĐ được thông qua tại cuộc họp khi được số cổ đông đại diện ít nhất 65% hoặc 75% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp chấp thuận.

(2) Khoản 1 Điều 79 Luật Doanh nghiệp 2005.

(3) Khoản 1 Điều 101 Luật Doanh nghiệp 2005.

(4) Điểm b Khoản 1 Điều 22 Nghị định 102/2010/NĐ-CP.

(5) Điểm b Điều 14 Nghị định 139/2007/NĐ-CP.

(6) Khoản 1 Điều 15 Điều lệ mẫu.

(7) Tham khảo mẫu giấy ủy quyền của một số công ty: Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất dầu khí – CTCP (Đạm Phú Mỹ): http://dpm.vn/Portals/0/Mau_giay_uy_quyen_du_DH_2010.doc, Tập đoàn Bảo Việt: http://www.baoviet. com. vn/images_upload/assets/GiauyquyenthamduDHDCD2010.pdf; Tổng Công ty CP Bảo Minh: http://www.baominh.com .vn/data/news/2010/4/2925/GIAY%20UY%20QUYEN_GIAY%20DANG%20KY%20THAM%20DU%20-BMI-2010.doc .

(8) Khoản 3 Điều 6 Quy chế quản trị công ty niêm yết.

(9) Khoản 3 Điều 6 Quy chế quản trị công ty niêm yết.

(10) Trần Huỳnh Thanh Nghị (2010), Những vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần theo quy định tại Luật Doanh nghiệp 2005, Kỷ yếu Hội thảo “Bảo vệ cổ đông: Những vấn đề lý luận và thực tiễn trong pháp luật doanh nghiệp Việt Nam”, Khoa Luật Thương mại – Trường ĐH Luật TP. HCM.

(11) Khoản 1 Điều 28 Dự thảo (lần 3) Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định 139/2007/NĐ-CP.

(12) Xem các góp ý cho Dự thảo Nghị định tại http://vibonline.com.vn/vi-VN/Forum/Topic.aspx?ForumID=256.

(13) Xem dự thảo tại: http://www.ssc.gov.vn/portal/page/portal/ubck/1096905?ppage_id=1096905&persid=1095341 & folder id=&item_id=26253547&p_details=1.

(14) Tham khảo: Công văn số 972/2010/CV-SSIHO ngày 10/12/2010 của Công ty CP Chứng khoán Sài Gòn góp ý dự thảo sửa đổi Quy chế quản trị công ty niêm yết và sửa đổi Điều lệ mẫu áp dụng cho công ty niêm yết; Bài viết trên báo Đầu tư Chứng khoán điện tử: http://tinnhanhchungkhoan.vn/RC/N/CFIJEJ/vsd-bo-phieu-thay-co-dong:-co-trai-luat-doanh-nghiep.html; Bản tin cập nhật pháp luật tháng 12/2010 của Công ty luật Allens Arthur Robinson: http://www.vietnamlaws.com/vlu/dec_2010.pdf.

(15) R. Franklin Balotti, Jesse A. Finkelstein and Gregory P. Williams (2008), Meetings of Stockholders, Aspen Publishers, Inc. (download from http://westlaw.com), Chapter 7, section 7.1.

(16) Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Đình Cung (2009), Công ty: Vốn, quản lý và tranh chấp theo Luật Doanh nghiệp 2005, NXB Tri thức, tr. 333.

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ

Trích dẫn từ: http://www.nclp.org.vn/thuc_tien_phap_luat/luat-doanh-nghiep-can-quy-111inh-ro-che-111o-uy-quyen-tham-du-cuoc-hop-111ai-hoi-111ong-co-111ong

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: