TỔ HỢP TÁC TRONG NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN – MỘT PHƯƠNG THỨC MƯU SINH BỀN VỮNG CỦA NGƯỜI NÔNG DÂN

NINH VĂN HIỆP – Viện CISDOMA

Trong những năm qua, từ khi các HTX kiểu cũ tan rã, loại hình tổ hợp tác (có nơi gọi là các nhóm sở thích) trong nông nghiệp nông thôn ra đời và ngày càng phát triển mạnh mẽ, đa dạng. Tính đến giữa năm 2005, cả nước có gần 100.000 tổ hợp tác, nhóm sở thích trong nông nghiệp, nông thôn. Vậy tổ hợp tác là gì?, và tại sao nói tổ hợp tác là một phương thức mưu sinh bền vững của người nông dân?

I. Khái quát chung vế Tổ hợp tác (nhóm sở thích).

• Theo định nghĩa của FAO (1993) thì “nhóm sở thích (có nơi gọi là tổ hợp tác) trong nông nghiệp nông thôn” là tập hợp những người dân, hộ gia đình, hoặc bộ tộc sống chung trong cộng đồng địa phương, có kiến thức, tâm huyết – say mê các hoạt động về kinh tế xã hội ở cơ sở; tình nguyện tham gia thực hiện vì mục tiêu lợi nhuận và phi lợi nhuận, sẵn sàng làm nòng cốt thúc đẩy các hoạt động đó vì sự tiến bộ an sinh xã hội, hoặc vì nâng cao hiệu quả sản xuất, hoặc vì hợp tác với nhau để tìm phương pháp mưu sinh bền vững bằng cách lồng ghép các hoạt động sản xuất nông nghiệp với các dịch vụ trong nông thôn để, trước mắt đáp ứng nhu cầu thiết yếu của cộng đồng, sau đó nhằm tạo ra sự phát triển bền vững trên quê hương mình. Chúng tôi đồng ý về cơ bản với khái quát của FAO về tổ hợp tác và nhóm sở thích. Có thể nói, tổ hợp tác trong nông nghiệp nông thôn là một hình thức tự nguyện, tự phát đã chứng minh được hướng đi đúng đắn về phương pháp mưu sinh bền vững và rất có ưu thế trong việc cải thiện đời sống kinh tế nông thôn. Tuy nhiên, về một mặt nào đó, tổ hợp tác chưa được các nhà hoạch định chính sách và một số lãnh đạo địa phương thừa nhận.

• Theo số liệu của Cục Hợp tác và Phát triển Nông thôn (Bộ NN&PTNT), tính đến tháng 3 năm 2005, cả nước có 93.648 tổ hợp tác trong nông nghiệp và nông thôn. Nhiều địa phương phát triển khá mạnh như: Thanh Hoá 22.752 tổ; Hưng Yên 1.754 tổ; Quảng Bình 1.172 tổ; Nghệ An 2.000 tổ, Yên Bái 2.500 tổ; đặc biệt ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long tổ hợp tác trở thành hình thức tổ chức kinh tế tập thể chính của vùng, được coi là tổ chức có phương thức mưu sinh bền vững nhất, hiệu quả nhất, năng động nhất. Tuy nhiên, những khẳng định về tổ hợp tác trong nông nghiệp nông thôn tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, chúng ta cần phải bàn lại, nhưng phải nói loại hình tổ hợp tác trong nông nghiệp nông thôn hiện nay có nhiều ưu thế rõ rệt so với loại hình HTX kiểu cũ.

• Thực trạng phát triển của tổ hợp tác (nhóm sở thích) trong nông nghiệp nông thôn hiện tồn tại trên ba cơ sở:

– Tổ hợp tác hình thành trên cơ sở địa phương không còn HTX Nông nghiệp,

– HTX Nông nghiệp kiểu mới được hình thành từ các tổ hợp tác, và

– Các tổ hợp tác được ra đời từ các HTX Nông nghiệp kiểu mới.

Các loại hình phổ biến: Hiện tồn tại ba loại hình chủ yếu:
a. Theo nhu cầu, mục đích hợp tác của các thành viên

– Tổ hợp tác tưới tiêu.

– Tổ hợp tác tiêu thụ sản phẩm

– Tổ hợp tác vay vốn

– Tổ hợp tác khoa học kỹ thuật và chia sẻ kinh nghiệm

– Tổ hợp tác lao động

b. Phân theo hợp tác về vốn, gồm:

– Tổ hợp tác các thành viên tham gia góp vốn

– Tổ hợp tác các thành viên không tham gia góp vốn

c. Phân theo lĩnh vực:

– Tổ hợp tác trong lĩnh vực trồng trọt

– Tổ hợp tác trong lĩnh vực chăn nuôi

– Tổ hợp tác trong lĩnh vực ngành nghề nông thôn

– Tổ hợp tác quản lý và bảo vệ rừng

II. Một số nhận xét – những vấn đề đặt ra cho tổ hợp tác

1. Mặt mạnh của tổ hợp tác (nhóm liên kết):

– Là tổ chức kinh tế gọn nhẹ, phù hợp với trình độ phát triển kinh tế hộ ở vùng miền núi, nông thôn.

– Là phương thức mưu sinh bền vững cho người nông dân, ai cũng có thể tham gia và cùng tựa vào nhau tìm kế sinh nhai.

– Mang lại lợi ích trực tiếp cho tổ viên trong tổ, đặc biệt đối với các thành viên thiếu nguồn lực hoặc thiếu vốn.

– Thủ tục gọn nhẹ. Việc thành lập tổ hợp tác dễ dàng, chỉ cần các hộ thống nhất sau đó thông qua chính quyền cấp xã

– Các thành viên trong tổ hầu hết là những người chung ngành nghề, chung sở thích nên khi sát nhập với nhau sẽ tăng thêm kinh nghiệm, tăng nguồn vốn, tăng mạnh sản phẩm có chất lượng, đồng thời cũng cùng chịu trách nhiệm.

– Thuận tiện trao đổi thông tin về khoa học kỹ thuật, thị trường, giá cả

– Tổ hợp tác đóng góp vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao mức sống của người nông dân, là phương thức mưu sinh rất bền vững mà hiện nay nông dân ở nhiều vùng đang thực hiện.

2. Mặt hạn chế:

– Phát triển tự phát. Cơ chế quản lý lỏng lẻo. Rát khó khăn về giao dịch kinh tế, vay vốn ngân hàng hoặc đầu tư phát triển kinh tế ở quy mô lớn.

– Nhà nước chưa có chế tài cho việc thành lập các tổ hợp tác. Cơ sở pháp lý chưa có nên ít nhận được sự hỗ trợ từ các nguồn tài trợ

– Thành viên các tổ hợp tác chỉ hoạt động theo kinh nghiệm dân gian, hầu hết chưa được học qua các lớp đào tạo về quản lý, hoặc kỹ thuật.

3. Một số nhận xét chung

Qua thực tế sản xuất và cuộc sống, các hình thức tổ hợp tác và nhóm sở thích đã thu hút được sự chú ý của nhiều hộ nông dân, vì thấy có hiệu quả, phù hợp với yêu cầu phát triển đa dạng ngành nghề trong nông nghiệp, nông thôn, phù hợp với từng cây trồng vật nuôi, với từng ngành nghề và sản phẩm, thực sự khuyến khích cuộc chạy đua tìm phương kế sinh nhai phù hợp nhất cho người nông dân. Các tổ hợp tác, các nhóm sở thích hoạt động trên cơ sở được đảm bảo bằng tính tự nguyện, tự quyết định sự tồn tại và phát triển của mình thông qua hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Điều đáng nói ở đây là việc hình thành các tổ hợp tác, nhóm sở thích là tự nguyện, không trông chờ ỷ lại vào nguồn vốn đầu tư của nhà nước như thời bao cấp trước đây. Mặc dù họ tự đóng góp công sức và tài sản, nhưng họ chung sức tìm hướng đi tối ưu nhất, mạnh dạn đầu tư vào việc phát triển sản xuất bằng nội lực. Người dân nói chung và các thành viên trong các tổ hợp tác được trao đổi kiến thức khoa học kỹ thuật để ứng dụng vào sản xuất, thu hoạch và thu nhập kinh tế được nâng lên. Từ đó tạo nên sự liên kết chặt chẽ giữa bốn nhà: nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp và nhà nông.

Từ thực tiễn từ các địa phương, có thể rút ra được những điểm sau:

– Tổ hợp tác và các nhóm liên kết kinh doanh trong nông nghiệp, nông thôn là những hình thức phổ biến trong thành phần kinh tế tập thể. Nó phù hợp với yêu cầu của sản xuất kinh doanh, phù hợp với đường lối của Đảng về phát triển kinh tế nhiều thành phần với sự sở hữu khác nhau. Đây là sản phẩm tất yếu của nền sản xuất hàng hoá. Sản xuất hàng hoá càng phát triển, sự cạnh tranh trong kinh tế thị trường càng gay gắt thì những người lao động riêng lẻ, các hộ cá thể càng có yêu cầu phải liên kết hợp tác với nhau, nếu không khó có thể tồn tại và phát triển. Các tổ hợp tác, các nhóm liên kết, các nhóm sở thích đóng vai trò rất quan trọng vào việc giải quyết giữa sản xuất nhỏ, manh mún với sản xuất hàng hoá lớn, đáp ứng được yêu cầu của CNH-HDH; là cơ sở nền tảng để hình thành các HTX, liên hiệp HTX, các doanh nghiệp, các hiệp hội trong nông nghiệp, nông thôn. Ngay trong lòng các Hợp tác xã kiểu mới thì các tổ hợp tác cũng tồn tại và là những “ vệ tinh” quan trọng làm cho sự sinh sống của HTX ngày càng lớn mạnh (Như mô hình của Tu Vũ, Phú Thọ hoặc Định Tường, Thanh Hoá)

– Do tính chất tự nguyện, tự chủ, tự quản, tổ hợp tác, nhóm liên kết, nhóm sở thích không phụ thuộc quá nhiều vào các qui định như luật HTX, điều lệ HTX, không cần các quyết định về tư cách pháp nhân, nên hoạt đọng của các tổ hợp tác cũng rất linh hoạt và mềm dẻo theo quy ước của những người tham gia mà không trái với luật pháp nên hiệu quả rất cao. Khi có yêu cầu cần liên kết sản xuất, thì họ hợp tác với nhau, khi yêu cầu của các thành viên không còn tiếng nói chung, họ có thể tự giải tán mà không cần các quyết định của cấp trên.

– Tổ hợp tác mang tính tự nguyện, cùng đóng góp nên tính tự chủ rất cao. Họ không cần phải ra đời hệ thống ban bệ phức tạp mà vẫn đảm bảo công việc với tính công bằng, trung thực, không bị thất thoát tài sản theo kiểu “cha chung không ai khóc”, không tham nhũng, không lợi dụng chức quyền…

Tổ hợp tác, nhóm sở thích và HTX là những hình thức phổ biến của thành phần kinh tế tập thể đã phát triển rất lâu trong lòng các nước phát triển. Và ngày nay, tại các nước phát triển và đang phát triển, cùng với các loại hình HTX, tổ hợp tác đã phát triển rộng rãi và mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội rất cao, trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Tổ hợp tác với sự thông thoáng về cơ chế và tổ chức, với sự phong phú đa dạng về ngành nghề, sẽ trở thành phương thức mưu sinh bền vững nhất cho những người nông dân, không những ở vùng đồng bằng, mà còn ở cả vùng núi, vùng biển, nơi được coi là có nền kinh tế thấp và trình độ sản xuất lạc hậu nhất.

Rất tiếc là cho đến hiện nay, nhà nước chưa có một chế tài cụ thể cho các tổ hợp tác trong nông nghiệp nông thôn. Những người làm luật thực sự ở vấn đề này (cụ thể là Cục Hợp tác xã, Bộ Nông nghiệp và PTNT) chỉ dừng ở mức đề xuất kiến nghị hoặc tham mưu cho chính phủ trong việc đưa ra các điều luật cụ thể. Mặc dù, theo nghiên cứu của chúng tôi, mô hình tổ hợp tác, nhóm sở thích trong nông nghiệp nông thôn là mô hình tốt, là phương thức mưu sinh hữu hiệu nhất cho người dân hiện đang lấy nông nghiệp làm nghề mưu sinh chính./

TRÍCH DẪN TỪ:

http://www.crdhue.com.vn/modules.php?name=Pages&go=page&pid=51

Advertisements

One Response

  1. Mô hình tổ hợp tác hiệu quả như thế , sao nhà nước không hỗ trợ để nông thôn phát triển mô hình này nhỉ?

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: