Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

BÁO CÁO TỔNG KẾT THI HÀNH LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000

TÀI LIỆU (DỰ THẢO) CHÍNH THỨC TẠI HỘI NGHỊ TOÀN QUỐC TỔNG KẾT THI HÀNH LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000 – 16/4/2013

BỘ TƯ PHÁP

Qua các thông tin, số liệu, đánh giá, nhận định được thể hiện trong Báo cáo tổng kết của 55 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương,[1]-[2] Báo cáo tổng kết của 7 Bộ, ngành và tổ chức có liên quan;[3] ý kiến bằng văn bản của 106 các cơ quan, tổ chức; Báo cáo kết quả của các tọa đàm, hội thảo khoa học, Bộ Tư pháp xây dựng Báo cáo này để tổng kết những kết quả đạt được và những bất cập, hạn chế của Luật hôn nhân và gia đình (Luật HN-GĐ) qua thực tiễn 12 năm thi hành như sau [4]:

I. NHỮNG KẾT QUẢ ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC TRONG QUÁ TRÌNH THỰC THI LUẬT HN-GĐ NĂM 2000

1. Trong công tác xây dựng văn bản hướng dẫn thi hành Luật

Trong 12 năm qua, công tác xây dựng văn bản hướng dẫn thi hành Luật HN- GĐ đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Cụ thể là, bảo đảm Luật HN-GĐ thực sự đi vào cuộc sống, ngày 9/6/2000, Quốc hội khóa X đã ban hành Nghị quyết số 35/2000/QH10 về thi hành Luật này (Nghị quyết số 35/2000/QH10) trong đó đã quy định rõ trách nhiệm của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, tự mình hoặc phối hợp tổ chức việc rà soát các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình hiện hành để huỷ bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới, đề nghị Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội huỷ bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới cho phù hợp với quy định của Luật này, bảo đảm hiệu lực của Luật từ ngày 01 tháng 01 năm 2001; nguyên tắc áp dụng pháp luật đối với những trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước thời điểm Luật HN-GĐ năm 2000 có hiệu lực.

Thực thi Luật HN-GĐ và Nghị quyết số 35/2000/QH10, Chính phủ đã ban hành nhiều Nghị định để hướng dẫn chi tiết, như: Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 quy định chi tiết thi hành Luật HN-GĐ năm 2000; Nghị định số 77/2001/NĐ-CP ngày 22/10/2001 quy định chi tiết về đăng ký kết hôn theo Nghị quyết số 35/2000/QH10; Nghị định số 32/2002/NĐ-CP ngày 27/3/2002 quy định việc áp dụng Luật HN-GĐ đối với các dân tộc thiểu số; Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật HN-GĐ về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; Nghị định số 69/2006/NĐ-CP ngày 21/7/2006 quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; Nghị định số 24/2013/NĐ-CP ngày 28/3/2013 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật HN-GĐ về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài … Bộ Tư pháp, Bộ Y tế, Bộ Ngoại giao cùng một số Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ ban hành nhiều thông tư, thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành các Nghị định của Chính phủ về thi hành Luật HN-GĐ.

Trong công tác tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao đã phối hợp với Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2000 hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 35/2000/QH10 và nhiều văn bản liên tịch khác trong hướng dẫn một số quy định của Luật HN-GĐ để áp dụng thống nhất trong giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình. Đồng thời, Tòa án nhân dân tối cao cũng đã ban hành nhiều văn bản của ngành để hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất pháp luật trong giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình, như: Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số qui định của Luật HN-GĐ năm 2000; Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003, Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình…

Những văn bản trên đã đóng vai trò tích cực, bảo đảm tính cụ thể và khả thi của các quy định của Luật HN-GĐ năm 2000 trong cuộc sống, bảo đảm sự thống nhất trong áp dụng pháp luật, từ đó quyền, nghĩa vụ của người dân về hôn nhân và gia đình được thực hiện, bảo vệ tốt hơn.[5]

2. Trong công tác tổ chức thi hành Luật HN-GĐ năm 2000

a) Trong công tác quản lý nhà nước về gia đình[6]

Công tác quản lý nhà nước về gia đình đã được Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm. Trước tháng 8/2007, công tác này được giao cho Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em thực hiện và từ tháng 8/2007 đến nay, nhiệm vụ này được Chính phủ giao cho Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Ngày 16/5/2005, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 106/2005/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chiến lược xây dựng gia đình Việt Nam giai đoạn 2005 – 2010 với những mục tiêu chung “từng bước ổn định, củng cố và xây dựng gia đình ít con (mỗi cặp vợ chồng có một hoặc hai con), no ấm, tiến bộ, bình đẳng, hạnh phúc”. Phát huy những thành tựu của việc thực hiện Chiến lược xây dựng gia đình Việt Nam giai đoạn 2005-2010, công tác gia đình đang tiếp tục thực hiện với Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030. Đề án “Tuyên truyền giáo dục đạo đức lối sống trong gia đình” với các nhóm nội dung liên quan đến hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; xóa bỏ phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình, phát huy truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc; xây dựng quan hệ hôn nhân và gia đình tiến bộ đang được triển khai tới cấp cơ sở và bước đầu đem lại nhiều kết quả rất tích cực.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã xây dựng mô hình can thiệp, giảm tiêu cực trong kết hôn của phụ nữ Việt Nam với người nước ngoài tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và một số địa bàn trọng điểm phía Bắc như Hải Dương, Hải Phòng. Thông qua hình thức sinh hoạt các loại hình Câu lạc bộ, đặc biệt là Câu lạc bộ Gia đình, công tác tuyên truyền đem lại hiệu quả và là hình thức truyền thông trực tiếp được các địa phương áp dụng nhiều nhất để đưa Luật HN- vào cuộc sống. Ngoài ra, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành văn bản số 1481/BVHTTDL-GĐ ngày 13/5/2009 về thu thập số liệu quản lý về gia đình trong đó có số liệu về tảo hôn.[7]

b) Trong công tác hộ tịch[8]

Công tác hộ tịch trong 12 năm thi hành Luật HN-GĐ năm 2000 đã đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần quan trọng trong bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ về hôn nhân và gia đình của cá nhân thông qua xác nhận các sự kiện hộ tịch về: khai sinh, khai tử; kết hôn; nhận cha, mẹ, con; giám hộ …[9]

Thực thi Mục 3, Nghị quyết số 35/2000/QH10 về việc áp dụng pháp luật đối với các trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày Luật HN-GĐ năm 2000 có hiệu lực, ngày 22/10/2001 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 77/2001/NĐ-CP quy định chi tiết về đăng ký kết hôn theo Nghị quyết số 35/2000/QH10 theo tinh thần đơn giản, thuận tiện để khuyến khích và tạo điều kiện cho các trường hợp này đăng ký kết hôn. Tiếp đó, ngày 10 tháng 12 năm 2001, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 07/2001/TT-BTP hướng dẫn cách thức, biện pháp tổ chức đăng ký kết hôn cho những trường hợp nói trên. Trong Chỉ thị số 01/2002/CT-BTP ngày 2/1/2002 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về những nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp năm 2002, tại Mục 6 cũng đã nhấn mạnh việc "Hoàn thành về cơ bản đăng ký kết hôn theo Nghị quyết số 35/2000/QH10 …"

Kết quả trong năm 2002, hầu hết 61/61 tỉnh, thành phố trong toàn quốc đã tổ chức rà soát, lập danh sách những trường hợp hôn nhân thực tế tại địa phương, phân loại theo hai đối tượng trước và sau ngày 3/1/1987 như Nghị quyết số 35/2000/QH10 và Nghị định số 77/2001/NĐ-CP đã quy định. Theo báo cáo của 56/61 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, tính đến ngày 31/12/2002, các địa phương đã lập danh sách tổng cộng 925.753 trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ sau 3/1/1987 đến trước ngày 1/1/2001 (các đối tượng có nghĩa vụ đăng ký kết hôn theo Điểm b, Mục 3 của Nghị quyết số 35/2000/QH10); trong đó các địa phương đã cấp đăng ký kết hôn được 623.489 trường hợp (đạt 68%), còn lại 302.264 trường hợp chưa đăng ký (chiếm 32%).

Kết quả trên cho thấy việc thực hiện Mục 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 và Nghị định số 77/2001/NĐ-CP về đăng ký hôn nhân thực tế cho thấy chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với vấn đề hôn nhân thực tế được quy định trong các văn bản pháp luật nói trên là phù hợp với thực tế, đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân, được các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể và nhân dân nhiệt liệt hưởng ứng, tham gia thực hiện. Việc đăng ký hôn nhân thực tế cũng đã góp phần tăng cường quản lý nhà nước về công tác hộ tịch, hộ khẩu và các hoạt động quản lý khác của Nhà nước, bảo hộ các quyền về dân sự và hôn nhân, gia đình của người dân. Mặt khác, qua hoạt động đăng ký hôn nhân thực tế, ý thức pháp luật, đặc biệt là ý thức pháp luật về hôn nhân và gia đình của người dân được nâng lên một bước đáng kể.

Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đã kịp thời tăng cường thể chế hóa, cải cách thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để công tác hộ tịch đáp ứng ngày càng tốt hơn trong việc thực thi các quyền nhân thân nói chung, quyền về hôn nhân và gia đình nói riêng của cá nhân. Công tác hộ tịch đã ngày càng đi vào nề nếp, đặc biệt trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây (kể từ khi Nghị định số 83/1998/NĐ-CP có hiệu lực thi hành và tiếp đó là Nghị định số 158/2005/NĐ-CP). Với sự quan tâm, đầu tư của các cấp, ngành từ trung ương đến cơ sở, công tác hộ tịch đã có những bước tiến cơ bản và đạt những thành tựu quan trọng. Hệ thống cơ quan quản lý, đăng ký hộ tịch được củng cố, đội ngũ công chức làm công tác hộ tịch được tăng cường; hệ thống sổ sách, dữ liệu hộ tịch được lưu trữ và sử dụng lâu dài; đáp ứng yêu cầu cải cách thủ tục hành chính trong đăng ký hộ tịch; khẳng định vai trò trong quản lý nhà nước và bảo đảm quyền nhân thân của cá nhân nói chung và quyền về hôn nhân và gia đình nói riêng.

Tỷ lệ đăng ký khai sinh, khai tử, kết hôn, nhận cha, mẹ, con đã tăng lên khá cao, đặc biệt ở các khu vực miền núi, vùng sâu, xa, nơi điều kiện kinh tế còn khó khăn. Ví dụ, tại tỉnh Cao Bằng, năm 2000 chỉ có 685 trường hợp đăng ký khai sinh nhưng năm 2011 đã tăng lên 7.736 trường hợp, khai tử năm 2000 là 510 trường hợp thì năm 2011 đã tăng lên 927 trường hợp; Tại tỉnh Lào Cai, tính riêng đăng ký hộ tịch trong nước, năm 2000 số lượng khai sinh là 4.759 trường hợp, năm 2011 đã tăng lên 23.700 trường hợp, số lượng đăng ký kết hôn năm 2000 là 1.531 trường hợp thì đến năm 2011 đã tăng lên 5.329 trường hợp. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong đăng ký và quản lý hộ tịch đã đạt những thành tựu bước đầu. Công tác đăng ký hộ tịch trong hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài đã có những chuyển biến tích cực, cơ bản đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nhà nước cũng như đăng ký các việc hộ tịch về hôn nhân và gia đình phát sinh giữ công dân Việt Nam với người nước ngoài…

c) Trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Trong 12 năm thi hành Luật HN-GĐ, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật Luật HN-GĐ nói riêng, pháp luật HN-GĐ nói chung giữ vị trí quan trọng trong nâng cao sự hiểu biết, ý thức chấp hành pháp luật HN-GĐ của các cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền và nhân dân. Bộ Tư pháp với vai trò là cơ quan giúp Chính phủ quản lý nhà nước trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật đã tiến hành nhiều hoạt động thực hiện công tác này, như:

– Chủ trì xây dựng, trình Chính phủ ban hành chương trình, đề án, kế hoạch dài hạn, trung hạn về phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung, trong đó có Luật HN-GĐ;

– Phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan để tổ chức các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung, pháp luật về HN-GĐ nói riêng. Ví dụ: Bộ Tư pháp đã ký kết Chương trình hợp tác số 14 ngày 2/10/2002 với Trung ương Hội phụ nữ Việt Nam về phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý cho phụ nữ, một trong các trọng tâm của chương trình này là phổ biến pháp luật, trợ giúp pháp lý về hôn nhân và gia đình;

– Tổ chức xây dựng Đề cương Luật HN-GĐ gửi các Bộ, ngành, địa phương, tổ chức có liên quan;

– Biên soạn, phát hành tài liệu như tờ rơi, tờ gấp, sổ tay pháp luật về hôn nhân và gia đình cho cán bộ, công chức, viên chức, nhân dân, chú trọng giới thiệu Luật HN-GĐ năm 2000 và những văn bản hướng dẫn mới ban hành; [10]

– Mở các lớp tập huấn, đào tạo cho các tuyên truyền viên, báo cáo viên ở trung ương và địa phương về công tác tuyên truyền, phổ biến các nội dung liên quan đến pháp luật hôn nhân và gia đình.

Cùng với các hoạt động của Bộ Tư pháp, các Bộ, ngành, địa phương, tổ chức có liên quan trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình cũng đã chủ động tiến hành các hoạt động để thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hôn nhân và gia đình như tổ chức tập huấn cho cán bộ, công chức ở các cấp, tổ chức thi tìm hiểu Luật HN-GĐ.

Tại các địa phương trên phạm vi toàn quốc, nhiều nơi đã thành lập các mô hình sinh hoạt cộng đồng như: Câu lạc bộ tiền hôn nhân, Câu lạc bộ không sinh con thứ ba, Câu lạc bộ phụ nữ với pháp luật, Câu lạc bộ thanh niên với pháp luật mà một trong các hoạt động chính là tuyên truyền, phổ biến Luật HN-GĐ và các văn bản hướng dẫn. [11]

Dưới góc độ quản lý nhà nước về gia đình, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 32/2002/NĐ-CP ngày 27/3/2002 quy định việc áp dụng Luật HN-GĐ đối với các dân tộc thiểu số đã quy định cụ thể trách nhiệm của Chính phủ và các Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý cho người dân thuộc các dân tộc ít người. Ngày 03/1/2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 02/2013/NĐ-CP về công tác gia đình đã quy định cụ thể trách nhiệm của Chính phủ, trong đó Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về công tác gia đình trong phạm vi toàn quốc mà trọng tâm là xây dựng, tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về gia đình; hướng dẫn và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác gia đình… Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp cùng các bộ, ngành khác phối hợp với Bộ Văn Hóa, Thể thao và Du lịch trong việc xây dựng chính sách pháp luật về công tác gia đình trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao.

d) Trong công tác xét xử của ngành Tòa án nhân dân [12]

Ngành Tòa án nhân dân có vai trò quan trọng trong việc tuân thủ, chấp hành các quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình trong thực hiện, bảo về các quyền về hôn nhân và gia đình của người dân. Ngành Tòa án đã tích cực thực hiện công tác triển khai thi hành Luật HN-GĐ. Bên cạnh việc tham gia ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật HN-GĐ, Tòa án nhân dân tối cao đã tiến hành nhiều hoạt động tập huấn nâng cao nghiệp vụ giải quyết các vụ việc dân sự nói chung, vụ việc về hôn nhân và gia đình nói riêng để hạn chế ban hành những bản án, quyết định thiếu rõ ràng, có sai sót hoặc khó thi hành…

Ngoài ra, công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cũng được ngành Tòa án nhân dân chú trọng. Trong những năm qua, Tòa án nhân dân tối cao đã tích cực phối hợp với các bộ, ngành hữu quan thực hiện nhiều đề án tuyên truyền phổ biến pháp luật khác nhau, trong đó có nội dung tuyên tuyền phổ biến pháp luật về hôn nhân và gia đình; đăng tin, bài trên Tạp chí Tòa án nhân dân, Báo Công lý…

Với công tác triển khai thi hành Luật tích cực, hiệu quả, ngành Tòa án đã thực hiện tốt các quy định của Luật HN-GĐ và đạt nhiều kết quả quan trọng trong giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình, góp phần làm ổn định các quan hệ gia đình, thực hiện và bảo vệ tốt quyền của các thành viên trong hôn nhân và gia đình, của những người có quyền, lợi ích liên quan, qua đó góp phần làm ổn định các quan hệ kinh tế – xã hội của đất nước. Theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao, từ ngày 30/9/2000 đến ngày 30/9/2011 Tòa án nhân dân các cấp đã thụ lý 3.143.746 vụ việc dân sự, kinh doanh thương mại, lao động, hành chính, hôn nhân gia đình. Trong đó, số vụ việc về hôn nhân và gia đình là 875.282 (chiếm khoảng 30% tổng số vụ việc dân sự đã thụ lý). Cụ thể như sau:

Về công tác xét xử ở cấp sơ thẩm

 

Năm 2001

Năm 2002

Năm 2003

Năm 2004

Năm 2005

Năm 2006

Năm 2007

Năm 2008

Năm 2009

Năm 2010

Năm 2011

Tổng cộng

Tổng số vụ việc đã thụ lý

55082

60265

57138

63151

65238

68833

74484

77624

94710

103332

121848

841.705

Số vụ việc đã giải quyết

48878

(88%)

51461

(85%)

51618

(90%)

57272

(90%)

59791

(91%)

64058

(93%)

70204

(94%)

66347

(85%)

89609

(94%)

97627

(94%)

115331

(94%)

772.201 (92%)

Việc giải quyết các vụ việc HN-GĐ ở cấp sơ thẩm ngành Tòa án luôn đạt tỷ lệ cao (từ 88% – đến 94%), đặc biệt là 3 năm gần đây (năm 2009, 2010, 2011) đều giữ được tỷ lệ là 94%, và đạt trung bình trong 11 năm qua (từ năm 2001-2011) là 92%. Tỷ lệ các vụ việc HN-GĐ bị kháng cáo, kháng nghị chiếm khoảng 9% số vụ việc đã giải quyết. Điều này cho thấy, công tác giải quyết các vụ việc về HN-GĐ có chất lượng khá cao so với các lĩnh vực khác.

– Về công tác xét xử ở cấp phúc thẩm

 

Năm 2001

Năm 2002

Năm 2003

Năm 2004

Năm 2005

Năm 2006

Năm 2007

Năm 2008

Năm 2009

Năm 2010

Năm 2011

Tổng cộng

Tổng số vụ việc đã thụ lý

2698

2702

3781

2968

2969

2951

2936

2857

2782

2590

2781

32.012

Số vụ việc đã giải quyết

2576

(95%)

2443

(90%)

3714

(98%)

2805

(94%)

2833

(95%)

2826

(95%)

2840

(96%)

2503

(87%)

2704

(97%)

2516

(97%)

2666

(95%)

30.426 (95%)

Công tác xét xử các vụ việc HN-GĐ ở cấp phúc thẩm không ngừng được nâng cao và đạt kết quả cao (từ 87% – đến 98%), đặc biệt là 3 năm gần đây (năm 2009, 2010, 2011) đều giữ được tỷ lệ cao từ 95- 97%, và đạt trung bình trong 11 năm qua (từ năm 2001-2011) là 95%. Tỷ lệ kháng cáo, kháng nghị chiếm khoảng 5% số vụ việc đã giải quyết.

– Về công tác giải quyết các vụ việc HN-GĐ theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm

 

Năm 2001

Năm 2002

Năm 2003

Năm 2004

Năm 2005

Năm 2006

Năm 2007

Năm 2008

Năm 2009

Năm 2010

Năm 2011

Tổng cộng

Tổng số vụ việc đã thụ lý

129

138

71

131

326

81

141

107

128

149

161

1.562

Số vụ việc đã giải quyết

124

(96%)

98

(71%)

67

(94%)

124

(94%)

325

(99%)

79

(97%)

130

(92%)

94

(87%)

119

(92%)

136

(91%)

144

(89%)

1.440 (92%)

Việc giải quyết các vụ việc HN-GĐ theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm hàng năm không ngừng được quan tâm, chú trọng nâng cao (từ 71% – đến 99%), đặc biệt là 3 năm gần đây (năm 2009, 2010, 2011) đều giữ được tỷ lệ cao từ 89- 92%, và đạt trung bình trong 11 năm qua (từ năm 2001-2011) là 92%. Bên cạnh đó qua công tác giám đốc kiểm tra các hồ sơ vụ việc HN-GĐ đã giải quyết có hiệu lực pháp luật, thi hành, phát hiện những sai sót cũng được chú ý, góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giải quyết các vụ việc HN-GĐ nói riêng và công tác xét xử nói chung của ngành Tòa án.

– Về số vụ việc HN-GĐ bị hủy, sửa

 

Năm

2001

Năm

2002

Năm

2003

Năm

2004

Năm

2005

Năm

2006

Năm

2007

Năm

2008

Năm

2009

Năm

2010

Năm

2011

Tổng cộng

Tổng số

vụ việc

đã giải quyết

51578

54002

55399

60206

62949

66963

73174

68944

92432

100279

118141

804.067

Số vụ việc bị

hủy, sửa

1571

(3%)

1315

(2%)

1896

(3%)

1481

(2%)

1619

(2%)

1381

(2%)

1467

(2%)

1406

(2%)

1344

(1%)

1305

(1%)

1315

(1%)

16.100 (2%)

Tỷ lệ án bị hủy, sửa so với tổng số vụ việc đã giải quyết trong 11 năm qua (từ năm 2001-2011) chiếm tỷ lệ trung bình là 2%. Cùng với sự nỗ lực phấn đấu của toàn bộ cán bộ ngành Tòa án thực hiện công tác xét xử ở các cấp, cũng như sự quan tâm giúp đỡ của các cấp lãnh đạo ngành Tòa án, cấp ủy, chính quyền địa phương, chất lượng xét xử các vụ việc HN-GĐ ngày một nâng lên, tỷ lệ án bị hủy, sửa đã giảm đáng kể, đặc biệt là 3 năm gần đây (năm 2009, 2010, 2011) tỷ lệ án bị hủy, sửa đã giảm đáng kể và ở mức 1%.

đ) Trong công tác kiểm sát hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố của ngành Kiểm sát nhân dân[13]

Trong thời gian qua, ngành Kiểm sát nhân dân đã đóng vai trò tích cực trong việc  kiểm sát việc tuân theo pháp luật hôn nhân và gia đình trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình kịp thời, đúng pháp luật. Đồng thời, ngành Kiểm sát thông qua công tác kiểm sát điều tra và thực hành quyền công tố đã góp phần quan trọng trong việc xử lý kịp thời các hành vi xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa, quyền, lợi ích chính đáng của người dân được tôn trọng và bảo vệ.

Để thực hiện tốt chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, Viện Kiểm sát nhân dân tối cáo đã tổ chức nhiều đợt tập huấn cho Viện Kiểm sát nhân dân các cấp những nội dung cơ bản, những điểm mới của Luật HN-GĐ và Nghị quyết số 35/2000/QH10 và các thông tư, nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật HN-GĐ; đảm bảo cho đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên nắm vững những quy định của pháp luât trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình để áp dụng cho phù hợp trong quá trình thực hiện chức năng kiểm sát. Ngoài ra, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao còn chú trọng tập hợp các vướng mắc trong quá trình thực hiện Luật HN-GĐ, xây dựng các thông báo rút kinh nghiệm trong nhận thức, áp dụng pháp luật cho Viện Kiểm sát địa phương. Sự chỉ đạo hướng dẫn tập trung, đồng bộ của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao cùng với sự tích cực nghiên cứu, tìm hiểu để vận dụng của cán bộ toàn ngành góp phần làm cho ngành Kiểm sát hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ của Viện Kiểm sát nhân dân các tỉnh, thành phố thì tình hình Tòa án đã thụ lý và giải quyết các vụ việc tranh chấp hôn nhân và gia đình ở cấp sơ thẩm, phúc thẩm từ năm 2001 đến năm 2012 như sau: Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý 588.309 vụ việc, đã giải quyết được 507.387 vụ việc; Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý 24.336 vụ việc, đã giải quyết được 21.460 vụ việc. Qua số liệu thống kê cho thấy, các vụ việc về hôn nhân và gia đình do Tòa án thụ lý ở cấp sơ thẩm có xu hướng ngày càng tăng, năm 2005 có 55.664 vụ án ly hôn, chia tài sản chung của vợ chồng và 7.612 việc HN-GĐ thì năm 2012 có tới 13.8057 vụ ly hôn, chia tài sản và 10.963 việc HN-GĐ.

Đối với công tác kiểm sát điều tra và thực hành quyền công tố các tội vi phạm chế độ hôn nhân và gia đình thì từ năm 2001 đến năm 2012, toàn ngành Kiểm sát đã kiểm sát việc khởi tố 274 vụ án và 337 bị can xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình, đã truy tố 238 vụ án và 288 bị can; đã đưa 230 vụ án và 276 bị can ra xét xử sơ thẩm. Số liệu thống kê hàng năm cho thấy, các vụ khởi tố, truy tố bị can về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình ngày càng giảm: nếu năm 2001 có 68 vụ án và 86 bị can bị khởi tố về tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình thì đến năm 2011 chỉ có 16 vụ án và 19 bị can bị khởi tố về tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình. Các trường hợp khởi tố vụ án và khởi tố bị can từ năm 2001 đến nay chủ yếu liên quan đến các tội: vi phạm chế độ một vợ một chồng (85 vụ án và 131 bị can), tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình (166 vụ án và 179 bị can), tội loạn luân (20 vụ án và 23 bị can).

II. BẤT CẬP, HẠN CHẾ TRONG THỰC TIỄN THI HÀNH LUẬT HN-GĐ NĂM 2000 VÀ NGUYÊN NHÂN

1. Bất cập, hạn chế trong công tác triển khai thi hành Luật

1.1. Bất cập, hạn chế trong công tác xây dựng văn bản hướng dẫn thi hành Luật

Về cơ bản, hệ thống văn bản pháp quy hướng dẫn thi hành Luật HN-GĐ năm 2000 đã bảo đảm cho Luật HN-GĐ đi vào cuộc sống, thống nhất trong áp dụng pháp luật, quyền, lợi ích hợp pháp của người dân về hôn nhân và gia đình được thực hiện và bảo vệ. Tuy nhiên, một số quy định của Luật HN-GĐ còn chậm được hướng dẫn thi hành hoặc các văn bản hướng dẫn thi hành vẫn còn chung chung, chưa cụ thể, dẫn tới có nhiều cách hiểu khác nhau trong thực tiễn áp dụng. Do đó, hiệu qủa áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình chưa cao. Ví dụ: công tác hướng dẫn thi hành các quy định về áp dụng tập quán; kết hôn của người mắc bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác không nhận thức được năng lực hành vi; việc đăng ký sở hữu tài sản chung của vợ chồng đối với tài sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký sở hữu; quy định liên quan đến “tài sản chung có giá trị lớn”, “nguồn sống duy nhất”, “ảnh hưởng nghiêm trọng”; quan hệ giữa các thành viên trong gia đình…

1.2. Bất cập, hạn chế trong công tác tổ chức thi hành Luật

– Quản lý nhà nước về công tác gia đình trong thời gian thi hành Luật HN-GĐ năm 2000 có nhiều biến động làm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả thi hành Luật HN-GĐ trong công tác gia đình; [14]

– Một số cơ quan, chính quyền địa phương chưa có sự phối hợp chặt chẽ, chưa quan tâm đúng mức đến công tác giải quyết các vụ việc về HN-GĐ của ngành Tòa án nhân dân, nhất là trong việc cung cấp tài liệu, chứng cứ, công chứng, giám định; việc thẩm định, đo đạc đất đai của cơ quan chuyên môn không chính xác làm ảnh hưởng xấu tới chất lượng bản án, quyết định của Tòa án;[15]

– Sau khi Bộ luật Tố tụng dân sự (Luật TTDS) năm 2004 có hiệu lực thi hành, nhiệm vụ và quyền hạn kiểm sát lập hồ sơ và tham gia các phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm đối với các vụ án tranh chấp liên quan đến hôn nhân và gia đình của ngành Kiểm sát nhân dân đã thu hẹp lại: hầu hết các phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm trong lĩnh vực này, Luật không quy định Viện Kiểm sát tham gia. Điều này làm thay đổi phương thức thực hiện công tác kiểm sát từ chỗ Viện Kiểm sát trực tiếp nghiên cứu hồ sơ vụ án và tham gia tố tụng tại phiên tòa chuyển sang gián tiếp kiểm sát hoạt động xét xử của Tòa án thông qua việc kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án sau khi xét xử. Thực tiễn cho thấy, việc hạn chế thẩm quyền tham gia phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm của Viện Kiểm sát đã ảnh hưởng tiêu cực tới chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát việc giải quyết các tranh chấp về HN-GĐ của Viện kiểm sát;

– Việc thực hiện quy định của Luật HN-GĐ về thẩm quyền yêu cầu tòa án giải quyết các vụ việc về HN-GĐ của các cơ quan, tổ chức còn nhiều khó khăn, do thay đổi về thẩm quyền (Viện Kiểm sát nhân dân không còn thẩm quyền thực hành công tố trong giải quyết các vụ việc về HN-GĐ), do bị giải thể (Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em) hoặc vì nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan mà cơ quan, tổ chức khác không thực hiện hiệu quả thẩm quyền của mình;[16]

– Công tác tuyên truyền, phổ biến, giao dục, bồi dưỡng chuyên sâu về Luật HN-GĐ năm 2000 cho lực lượng cán bộ, công chức công tác tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền như Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát… ở một số địa phương còn chưa được thực hiện đầy đủ.[17]

2. Bất cập, hạn chế trong các quy định của Luật

2.1. Về áp dụng tập quán trong hôn nhân và gia đình

– Khoản 1 Điều 3 Luật HN-GĐ quy định trách nhiệm của Nhà nước và xã hội: “Vận động nhân dân xóa bỏ phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình, phát huy truyền thống, phong tục tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc; xây dựng quan hệ hôn nhân và gia đình tiến bộ”, và Điều 6 của Luật quy định nguyên tắc: “Trong quan hệ hôn nhân và gia đình, những phong tục, tập quán thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc mà không trái với những nguyên tắc quy định tại Luật thì được tôn trọng và phát huy”. Tuy nhiên, qua tổng kết thi hành Luật HN-GĐ cho thấy những quy định này còn có tính khả thi còn thấp, vì chỉ mới thể hiện được thái độ tôn trọng của nhà nước đối với phong tục, tập quán mà chưa thực sự tạo căn cứ pháp lý rõ ràng và đầy đủ để các cơ quan có liên quan áp dụng tập quán trong giải quyết các vụ việc về HN-GĐ.

– Về điều kiện để áp dụng tập quán: quy định về điều kiện áp dụng tập quán trong Luật hiện hành là không cụ thể, rất khó có sự thống nhất trong áp dụng. Điều kiện chung là những tập quán tốt đẹp thì được kế thừa, phát huy, nhưng “tính chất tốt đẹp” lại là một giá trị trừu tượng, có thể được hiểu ở nhiều góc độ khác nhau. Nội dung của giá trị này có thể thay đổi theo từng giai đoạn phát triển của kinh tế – xã hội, phụ thuộc vào quan niệm của từng cá nhân, gia đình, cộng đồng, tầng lớp xã hội. Vì vậy, trong thực tế, rất khó xác định tập quán nào là tốt đẹp cần được kế thừa và phát huy; tập quán nào không tốt đẹp cần được xóa bỏ. Do đó, việc đưa Luật HN-GĐ đi vào đời sống xã hội còn gặp nhiều khó khăn, nhất là ở các địa bàn ở vùng sâu, vùng xa, vùng đông bào dân tộc ít người.[18]

Ví dụ: nhiều trường hợp nam, nữ chung sống như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn, nhưng lại được cộng đồng dân cư nơi họ cư trú công nhận, bảo vệ. Khi xảy ra tranh chấp, Tòa án căn cứ vào quy định của Luật HN-GĐ để tuyên bố không công nhận hôn nhân của các đương sự. Tuy nhiên, đương sự, gia đình và dòng họ hai bên lại không đồng tình với quyết định của Tòa án. Cũng có trường hợp nam nữ khi kết hôn không vi phạm quy định của Luật về cấm kết hôn giữa những người có họ trong phạm ba đời, nhưng theo tập quán, họ vẫn thuộc phạm vi quan hệ họ hàng không được kết hôn, do vậy, họ đã bị gia đình, cộng đồng không cho kết hôn hoặc không thừa nhận hôn nhân… Ngoài hai trường hợp trên, việc tranh chấp về các lễ vật, sính lễ trong ngày cưới, kết hôn cũng đang tiếp tục xảy ra và được giải quyết một cách không thống nhất do thiếu quy định cụ thể áp dụng tập quán…[19][20]

2. 2. Về kết hôn
2.2.1. Tuổi kết hôn

Quy định về tuổi kết hôn hiện hành bên cạnh việc đã đạt được những kết quả quan trọng trong xây dựng chế độ hôn nhân lành mạnh, hạnh phúc và bền vững; góp phần hạn chế tảo hôn, bảo đảm về thể chất, trí tuệ, kinh nghiệm xã hội để các bên trong kết hôn thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ HN-GĐ thì cũng đã đã phát sinh một số bất cập, hạn chế:

– Về năng lực chủ thể, quy định về tuổi kết hôn chưa đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất với quy định về người đã thành niên trong Bộ luật dân sự (BLDS). Theo Điều 19 BLDS, người đã thành niên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự là người từ đủ 18 tuổi trở lên không bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì được tham gia tất cả các quan hệ dân sự. Trong khi đó, Luật HN-GĐ lại quy định nam từ 20 tuổi trở lên mới có quyền kết hôn đã hạn chế nhiều quyền dân sự đối với họ.[21] Nhiều trường hợp nam công dân kết hôn ở độ tuổi 18 – 20 bị coi là trái luật, trong khi về mặt pháp lý họ là người đã thành niên. Đối với nữ, việc kết hôn của nữ bước sang tuổi 18 được coi là hợp pháp, nhưng pháp luật chưa có quy định cụ thể về quyền của họ trong tham gia các giao dịch. Theo pháp luật hiện hành, nhiều giao dịch (về bất động sản, tín dụng…) đòi hỏi chủ thể của giao dịch phải là người từ đủ 18 tuổi trở lên;

– Về tư cách tố tụng, khoản 3 Điều 57 Bộ luật TTDS quy định một cá nhân chỉ có thể tự mình tham gia quan hệ tố tụng khi đã đủ 18 tuổi trở lên. Trong khi đó, Điều 9 Luật HN-GĐ quy định, nữ bước sang tuổi 18 mà kết hôn được coi là hợp pháp và họ được quyền tự do ly hôn. Tuy nhiên, quyền tự do ly hôn của họ không thể thực hiện được nếu sau khi kết hôn và đến thời điểm có yêu cầu ly hôn họ chưa đủ 18 tuổi;

– Về sự phù hợp với pháp luật chuyên ngành: Trong khi Điều 9 Luật HN-GĐ quy định độ tuổi kết hôn của nam là từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên thì trong thực tiễn, khi thực hiện Luật Phòng, chống bạo lực gia đình và các văn bản liên quan, đặc biệt là Nghị định số 110/2009/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình, việc xác định hành vi vi phạm bạo lực gia đình, đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người vợ là khó khăn vì nếu vi phạm ngay sau khi kết hôn thì người vi phạm chưa đủ 18 tuổi (chưa thành niên).

– Về tính phù hợp với thực tiễn, tuổi kết hôn theo Luật hiện hành chưa gắn với đặc thù về tuổi kết hôn trong tập quán ở một số cộng đồng các dân tộc ít người thuộc khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa. Trên thực tế, tình trạng tảo hôn vẫn còn tồn tại ở các nhóm cộng đồng này. Báo cáo tổng kết của một số địa phương cho thấy, tỷ lệ kết hôn trước tuổi luật định ở vùng cao, nơi đồng bào dân tộc ít người sinh sống còn khá cao. Khi được tuyên truyền Luật HN-GĐ, bà con hiểu quy định của pháp luật về tuổi kết hôn, nhưng do phong tục, tập quán đã đi vào cuộc sống của người dân từ rất lâu đời, các gia đình thường dựng vợ gả chồng cho con từ rất sớm (15 – 16 tuổi thậm chí từ 14 tuổi). Vì chưa đủ tuổi theo luật định, nên việc kết hôn không được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhưng hai bên gia đình vẫn tổ chức đám cưới theo phong tục; họ hàng hai bên, cộng đồng dân cư của cả bản vẫn mặc nhiên công nhận đó là một cặp vợ chồng. Trong cuộc sống, nhiều cặp vợ chồng này đã duy trì cuộc sống chung ổn định, góp phần tích cực vào đời sống cộng đồng.[22][23]

2.2.2. Về các trường hợp cấm kết hôn, hủy kết hôn trái pháp luật

– Theo Luật HN-GĐ năm 2000, các trường hợp cấm kết hôn được quy định tại Điều 10 về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu xây dựng chế độ hôn nhân và gia đình tiến bộ, phù hợp với thực tiễn xã hội, kế thừa, phát huy các giá trị truyền thống đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam, hạn chế các hủ tục, tập tục lạc hậu trong kết hôn, cũng như những ảnh hưởng tiêu cực của sự đề cao tự do cá nhân và của nền kinh tế thị trường… Luật này cũng tạo cơ sở pháp lý cho việc thực thi quyền kết hôn của cá nhân, áp dụng trách nhiệm dân sự, hành chính hoặc hình sự đối với cá nhân, tổ chức vi phạm điều kiện kết hôn, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa về hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, các quy định của Luật này khi áp dụng trong thực tế cũng đã bộc lộ một số bất cập, hạn chế như:

+ Khoản 2 Điều 10, Luật HN-GĐ chưa quy định rõ ràng, cụ thể về việc cấm kết hôn đối với người mất năng lực hành vi dân sự. Trên thực tế, một người chỉ bị tuyên mất năng lực hành vi dân sự khi có quyết định của Tòa án tuyên người đó mất năng lực hành vi dân sự (Điều 22 BLDS). Do đó, trường hợp một người tuy mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác khác dẫn tới không nhận thức, điều khiển được hành vi nhưng do không có/chưa có quyết định của Tòa án thì vẫn được xác định là có năng lực hành vi dân sự và không thuộc trường hợp bị cấm kết hôn theo khoản 2 Điều 10 Luật HN-GĐ. Nhiều vụ việc Tòa án thụ lý giải quyết theo yêu cầu cơ quan có thẩm quyền về hủy việc kết hôn trái pháp luật do vi phạm khoản 2 Điều 10, nhưng bản thân đương sự, gia đình đương sự đã phản đối và UBND nơi cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn cũng đã không đồng tình với quyết định của Tòa án vì cho rằng, việc đăng ký kết hôn trong trường hợp này là đúng luật.

+ Khoản 3 Điều 10, Luật HN-GĐ quy định về cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ, giữa những người có họ trong phạm vi ba đời không có tính khả thi khi áp dụng tại các vùng dân tộc thiểu số. Thực tế ở một số địa phương cho thấy, tình trạng kết hôn vi phạm điều cấm này vẫn còn diễn ra vì theo tập quán của địa phương, những người cùng một “họ” là anh, em (bao nhiêu đời cũng không lấy nhau được), còn những người khác “họ” (mặc dù vẫn trong phạm vi ba đời) thì vẫn được lấy nhau.[24]

Thực tế, một số Tòa án địa phương đã có có quyết định hủy kết hôn trái pháp luật đối với các trường hợp tảo hôn, kết hôn cận huyết thống… nhưng thường khó được thi hành do cơ chế cưỡng chế thi hành các loại án này chưa cụ thể. Ngoài ra, do tảo hôn và kết hôn cận huyến thống không thể được đăng kết hôn tại UBND cơ sở, nên những trường hợp này thường là những cặp nam nữ sống chung như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn. Cán bộ tư pháp do đảm nhiệm nhiều công việc ngoài nhiệm vụ đăng ký và quản lý hộ tịch tại địa phương nên không thể nắm bắt được một cách chính xác về số lượng và tình hình tảo hôn cũng như kết hôn cận huyết thống tại địa phương.

Có nhiều lý do cho thực trạng kết hôn cận huyết ở một số địa phương, trong đó: (1) Nam, nữ thanh niên dân tộc thiểu số không có điều kiện học tập nâng cao tri thức do kinh tế khó khăn; (2) do ảnh hưởng của tập tục (bị thúc ép lấy vợ, chồng sớm để có người lao động, có người nối dõi); (3) do mê tín, dị đoan, nhiều gia đình tổ chức lễ cưới hỏi cho con cái do đi xem lá số; (3) cán bộ hộ tịch khó có thể phát hiện được hai bên nam nữ đến đăng ký kết hôn có quan hệ họ hàng với nhau hay không do Luật chưa quy định cụ thể về những người có cùng dòng máu trực hệ, những người có quan hệ họ hàng thân thuộc. Ngoài ra, trên thực tế, có nhiều trường hợp kết hôn ở đời thứ 4, đời thứ 5 nhưng theo tập quán thì họ vẫn có mối quan hệ họ hàng nên không được kết hôn và bị gia đình, cộng đồng không cho kết hôn hoặc không thừa nhận hôn nhân, từ đó dẫn đến các tranh chấp trong các mối quan hệ hôn nhân rất phức tạp.[25]

– Về yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật: Điều 15 Luật HN-GĐ quy định bên bị cưỡng ép, bị lừa dối kết hôn theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền tự mình yêu cầu tòa án hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật này. Như vậy, Luật HN-GĐ mới chỉ quy định việc kết hôn không tuân thủ điều kiện kết hôn là trái pháp luật và có thể bị tòa án xem xét, quyết định hủy việc kết hôn đó. Tuy nhiên, Luật chưa quy định cụ thể các trường hợp kết hôn trái pháp luật cần thiết phải xử hủy và những trường hợp kết hôn trái pháp luật không cần thiết phải xử hủy mà cần công nhận hôn nhân cho các bên đương sự.

Hiện nay, khi giải quyết hủy việc kết hôn trái pháp luật, Tòa án đã áp dụng điểm d, mục 2, Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP (23/12/2000) của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật HN-GĐ năm 2000 quy định từng trường hợp cụ thể để xem xét, quyết định hủy kết hôn trái pháp luật hay công nhận hôn nhân của các đương sự. Đây là quy định phù hợp với thực tiễn, bảo vệ được các quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Tuy nhiên, điều này lại không được cụ thể hóa trong luật nên gây lúng túng cho cơ quan có thẩm quyền khi giải quyết. Qua thực tiễn thi hành cho thấy, quy định của Luật HN-GĐ năm 2000 về vấn đề hủy kết hôn trái pháp luật còn mang tính cứng nhắc. Trên thực tế, việc kết hôn trái pháp luật do nhiều nguyên nhân khác nhau như bị cưỡng ép, một bên vợ hoặc chồng mất năng lực hành vi dân sự nhưng trong nhiều trường hợp, trong quá trình chung sống, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc và bản thân người vợ hoặc chồng không có yêu cầu hủy việc kết hôn thì không nhất thiết phải hủy quan hệ hôn nhân đó.[26]

2.2.3. Về cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính

Vấn đề kết hôn của những người đồng tính và việc thực hiện, bảo vệ các quyền con người của họ đã và đang là vấn đề thực tiễn ở Việt Nam. Trong thời gian qua, nhiều người đồng tính đã ở tình trạng bị kỳ thị, phân biệt đối xử hoặc bạo lực gia đình[27]. Trong khi đó pháp luật Việt Nam nói chung và Luật HN-GĐ nói riêng chưa có quy định rõ ràng về bảo vệ quyền của người đồng tính. Khoản 5 Điều 2 Luật HNGĐ năm 2000 quy định một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình là “Nhà nước và xã hội không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa các con, giữa con trai và con gái, con đẻ và con nuôi, con trong giá thú và con ngoài giá thú”. Quy định có tính liệt kê ở nguyên tắc này, vô hình chung đã loại trừ việc kỳ thị, phân biệt đối xử với con là người đồng tính, song tính hoặc chuyển giới (LGBT) không thuộc nội dung của nguyên tắc này. Mặt khác, khoản 5 Điều 10 Luật này quy định cấm việc kết hôn giữa những người cùng giới tính. Việc sử dụng quy phạm “cấm” việc kết hôn giữa những người cùng giới tính dễ tạo ra hiệu ứng định kiến xã hội đối với người đồng tính. Trên thực tế, một số cơ quan thi hành pháp luật ở một số địa phương và một bộ phận xã hội đã lấy quy định tại khoản 5 Điều 10 để giải thích cho những ứng xử có tính chất kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến LGBT nói chung, người đồng tính nói riêng trong hôn nhân và gia đình…

Qua tổng kết thi hành nhiều ý kiến cho rằng, cần nhìn nhận đồng tính là một xu hướng tính dục tự nhiên, việc thừa nhận cũng là tự nhiên, không nên ngăn cấm. Cùng với sự phát triển về kinh tế, nhận thức của xã hội thì hợp thức hóa hôn nhân giữa những người cùng giới đã trở thành vấn đề thời sự.

Thực tế này đòi hỏi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần nghiên cứu một cách nghiêm túc và bài bản về quyền của LGBT trong hôn nhân và gia đình nói chung, quyền kết hôn của người đồng tính nói riêng, đảm bảo tính nhân bản, công bằng và bình đẳng trong công nhận, thực hiện và bảo vệ quyền con người về hôn nhân và gia đình.[28]

2.2.4. Về quan hệ chung sống như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn

Luật HN-GĐ năm 2000 quy định việc chung sống như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn thì không được thừa nhận là có quan hệ vợ chồng (khoản 1 Điều 11). Trong trường hợp các bên trong quan hệ chung sống có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định liên quan đến việc hủy kết hôn trái pháp luật.

Để hướng dẫn các quy định trên của Luật, nhiều văn bản dưới luật của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao cũng đã được ban hành, như: Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật HN-GĐ; Nghị định số 77/2001/NĐ-CP ngày 22/10/2001 của Chính phủ quy định chi tiết về đăng ký kết hôn theo quy định của Nghị quyết số 35/2000/QH10; Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2000 hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 35/2000/QH10 của Quốc hội về việc thi hành Luật HN-GĐ; Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật HN-GĐ năm 2000…

Các quy định này đã phần nào tạo cơ sở pháp lý để các bên thực hiện đầy đủ, có trách nhiệm quyền, nghĩa vụ của mình, khuyến khích các cặp vợ chồng chưa đăng ký kết hôn đi đăng ký kết hôn; hạn chế các ảnh hưởng tiêu cực của việc chung sống như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn; tôn trọng, bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của các bên trong quan hệ.

Tuy nhiên, pháp luật hiện hành còn chưa bao quát hết được các trường hợp chung sống như vợ chồng trên thực tế. Luật mới chỉ đề cập đến việc nam, nữ chung sống như vợ chồng, còn việc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng giới tính hoặc của người chuyển giới thì chưa được quy định.

Mặt khác, nhiều ý kiến cho rằng pháp luật mới chỉ quan tâm đến việc thừa nhận hay không thừa nhận hôn nhân, mà chưa có các quy định cần thiết để điều chỉnh các vấn đề nhân thân và tài sản phát sinh từ sự chung sống đó (quan hệ cha mẹ và con; quan hệ giữa các bên chung sống…). Các văn bản dưới Luật quy định về vấn đề này chủ yếu chỉ điều chỉnh các quan hệ chung sống phát sinh trước ngày 01/01/2001. Trong khi đó, trên thực tế đã và đang tồn tại rất nhiều trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn (trong xu thế phát triển kinh tế, xã hội và hội nhập quốc tế của nước ta hiện nay, việc chung sống như vợ chồng ngày càng có chiều hướng gia tăng). Đây là vấn đề lớn liên quan đến các quyền cơ bản của cá nhân, sự ổn định trong các quan hệ xã hội, sự công khai, minh bạch trong các giao dịch cần được quy định cụ thể trong Luật HN-GĐ.

Tuy pháp luật HN-GĐ hiện hành công nhận các trường hợp chung sống như vợ chồng trước năm 1987 là hợp pháp nhưng chưa có tiêu chí xác định chung sống như vợ chồng và cơ quan nào xác nhận điều đó. Tuy nhiên, trường hợp vừa sống chung với nhau và có con chung, sau đó lại kết hôn với một người khác thì xác định hôn nhân nào là hợp pháp theo nguyên tắc một vợ một chồng là điều không đơn giản cho việc công chứng văn bản giấy tờ liên quan. Trong khi khai nhận hay phân chia di sản thừa kế của người đó, hay khi xác định tài sản chung, riêng để định đoạt trong một giao dịch dân sự thì việc xác định có tồn tại quan hệ chung sống như vợ chồng và có hợp pháp hay không lại là một thủ tục không thể thiếu.

Đặc biệt, đối với đồng bào dân tộc thiểu số, việc kết hôn chủ yếu được thực hiện theo phong tục, tập quán (kết hôn có sự chứng kiến của gia đình, cộng đồng dân cư và được những người này thừa nhận). Vì vậy, tình trạng chung sống như vợ chồng không có đăng ký kết hôn còn khá phổ biến ở một số địa phương có đồng bào dân tộc ít người, vùng xa.[29]

Ở khía cạnh khác, pháp luật mới chỉ quy định việc chung sống như vợ chồng dưới góc độ hôn nhân thuần túy mà chưa nhìn nhận các bên sống chung hình thành một gia đình với đầy đủ các nhu cầu của một thiết chế xã hội; chưa quy định cụ thể quan hệ nhân thân, con, tài sản chung và giao dịch phát sinh của các trường hợp trên trong quá trình chung sống, gây khó khăn cho việc giải quyết khi có tranh chấp trên thực tế.

Có nhiều nguyên nhân của tình trạng chung sống như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn, trong đó chủ yếu là:

(1) Do trình độ dân trí còn thấp, không đồng đều nên chưa nhận thức được các quyền và nghĩa vụ, hậu quả pháp lý của việc chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn;

(2) Do ảnh hưởng của yếu tố tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo về kết hôn ở địa phương và cộng đồng;

(3) Do tác động của tình trạng “hôn nhân thử” có xu hướng mở rộng trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và tự do cá nhân;

(4) Do thủ tục đăng ký kết hôn có nhiều cứng nhắc, chưa bảo đảm thuận lợi cho người dân thực hiện quyền kết hôn của mình, nhất là khi cá nhân có sự di biến động rất lớn giữa nơi có hộ khẩu với nơi học tập, làm ăn, sinh sống.

Trong thực tiễn vẫn xảy ra nhiều trường hợp nam, nữ sống chung như vợ chồng vì hoàn cảnh hoặc lý do khác nhau, họ không đăng ký kết hôn, trong đó có cả những trường hợp do chủ quan, tin tưởng lẫn nhau nên không xem việc đăng ký kết hôn là quan trọng. Những cặp nam nữ này vẫn sống một cách bình thường, hạnh phúc như các cặp nam nữ có đăng ký kết hôn, có trường hợp đã có Sổ hộ khẩu trong đó ghi tên đầy đủ một trong hai bên là chủ hộ, còn bên kia là chồng hoặc vợ của chủ hộ, tên con cái đầy đủ, con có giấy khai sinh trong đó tên cha mẹ ghi đầy đủ (qua thủ tục nhận cha mẹ con), có cặp đã lớn tuổi có cả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc quyền sở hữu nhà ghi tên đầy đủ hai người với tư cách là vợ chồng, là tài sản chung của vợ chồng hình thành trong thời kỳ sống chung như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn. Những cặp nam nữ này, khi họ ly hôn, nếu áp dụng Điều 87 Luật HN-GĐ năm 2000: “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Toà án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 11 của Luật này; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 17 của Luật này” và khoản 3 Điều 17 quy định: “Tài sản được giải quyết theo nguyên tắc tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người đó; tài sản chung được chia theo thoả thuận của các bên; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết, có tính đến công sức đóng góp của mỗi bên; ưu tiên bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ và con” thì việc chia tài sản theo quy định trên là chưa hợp lý, vì có những tài sản đã hình thành trong thời kỳ hai bên sống chung như vợ chồng, đã hỗ trợ cho nhau trong đời sống gia đình mà có được, không thể xác định được phần chia cụ thể theo công sức đóng góp của hai người.[30]

2.3. Về quan hệ giữa vợ và chồng

Quy định về quan hệ giữa vợ và chồng trong Luật HN-GĐ năm 2000 tuy đã đạt được một số thành tựu nhất định như đã góp phần tích cực kế thừa và phát huy truyền thống văn hóa, các giá trị đạo đức trong quan hệ hôn nhân nói riêng, quan hệ gia đình nói chung; đề cao tình nghĩa, bình đằng giữa vợ và chồng; bảo đảm quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với nhau và của vợ chồng đối với gia đình, đồng thời tôn trọng quyền tự do cá nhân của vợ, chồng trong các quan hệ gia đình, quan hệ xã hội; bảo đảm sự thuận lợi của vợ chồng trong tham gia giao dịch, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba…. Tuy nhiên, trong thực tiễn thi hành cũng đã phát sinh một số bất cập như:

* Về quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng: Luật chưa quy định cụ thể trách nhiệm pháp lý trong trường hợp một bên hoặc cả hai bên vợ chồng vi phạm các nghĩa vụ nhân thân được quy định trong Luật HN-GĐ, cũng như chưa quy định cụ thể quyền của bên bị vi phạm. Việc quy định không rõ ràng này không bảo đảm công bằng trong thụ hưởng quyền và thực hiện nghĩa vụ trong hôn nhân.

* Về chế độ tài sản giữa vợ và chồng:

– Luật quy định chưa rõ ràng về chế độ sở hữu tài sản của vợ chồng, thiếu cơ chế công khai minh bạch về tài sản chung, tài sản riêng. Sự không minh bạch này gây hậu quả là sự không an toàn cho các giao dịch dân sự liên quan đến người thứ ba.

– Quy định của Luật về tài sản trong hôn nhân chủ yếu đề cập đến tài sản tiêu dùng, quyền sử dụng đất, còn các tài sản khác như chứng khoán, tài sản trong doanh nghiệp thì chưa được đề cập tới, gây khó khăn trong quá trình giải quyết tranh chấp.

– Điều 25 của Luật quy định vợ hoặc chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch dân sự hợp pháp do một trong hai người thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình. Trên thực tế, nhiều giao dịch do một bên vợ hoặc chồng thực hiện, không phải đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình (ví dụ, nghĩa vụ phát sinh từ các giao dịch đầu tư, kinh doanh, hụi, họ, cho vay nặng lãi…), khi có tranh chấp xảy ra Luật chưa quy định cụ thể khi nào vợ chồng phải chịu liên đới trong thực hiện nghĩa vụ với người thứ ba[31].

– Quy định về căn cứ xác định tài sản của vợ chồng tại Điều 27 của Luật còn nhiều vướng mắc, chưa có cách hiểu thống nhất trong áp dụng pháp luật hoặc chưa phù hợp giữa quy định của pháp luật với thực tiễn xã hội:

+ Quan điểm thứ nhất cho rằng, tài sản mà vợ chồng đang quản lý, sử dụng chung (có trước hoặc sau thời kỳ hôn nhân) mặc dù do một người đứng tên nhưng không có văn bản thỏa thuận là tài sản riêng thì đó vẫn là tài sản chung; tài sản riêng của vợ hoặc chồng nhưng đã đưa vào khai thác, sử dụng chung là tài sản chung;

+ Quan điểm thứ hai cho rằng, tài sản riêng có trước khi kết hôn hoặc tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng (do một người đứng tên) mặc dù được đưa vào khai thác, sử dụng chung nhưng không có văn bản thỏa thuận đưa vào tài sản chung thì vẫn là tài sản riêng.

Trên thực tế hiện nay, khi xảy ra tranh chấp tài sản chung, riêng của vợ, chồng các Tòa án đều theo quan điểm thứ hai để áp dụng và phân xử. Việc áp dụng này xét về lý là hoàn toàn phù hợp, tuy nhiên lại không phản ảnh đúng thực trạng xã hội. Nếu xem xét kỹ chế định về tài sản của vợ chồng trong các quy định của pháp luật và thực tế giải quyết các vụ việc tranh chấp tài sản chung khi ly hôn, thì quan điểm thứ nhất nên được áp dụng. Vì khi kết hôn các cặp vợ chồng thường được bố, mẹ bên chồng hoặc bên vợ cho hai vợ chồng đất để ở riêng tạo lập cuộc sống. Việc tặng, cho này thường chỉ bằng lời nói, hành vi. Trong quá trình sử dụng, vợ chồng tự do kê khai và được Nhà nước cấp quyền sử dụng đất. Quyền này được coi là tài sản chung của vợ chồng, nếu có xảy việc ly hôn thì quyền lợi của người phụ nữ được bảo vệ. Trên thực tế, có những cặp vợ chồng sống với nhau hàng chục năm nhưng không quan tâm đến tài sản chung, riêng, khi xảy ra ly hôn người vợ thường chịu nhiều thiệt thòi vì khi kết hôn đã không lập văn bản để nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung. Mặt khác, có những trường hợp sống chung cùng gia đình nhà chồng, khi ly hôn người vợ không được xem xét quyền lợi đối với nhà, đất, ngoại trừ công sức đóng góp tôn tạo, sửa chữa. Do đó, việc quy định phải có văn bản thỏa thuận mới được coi là tài sản chung là rất cứng nhắc, chưa phù hợp với thực tiễn. Vì vậy, cần phải có quy định cụ thể để xác định tài sản chung, tài sản riêng cũng như đăng ký quyền sở hữu về tài sản của vợ và chồng.

– Khoản 3, Điều 28 của Luật quy định “việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình, việc dùng tài sản chung để đầu tư, kinh doanh phải được vợ chồng bàn bạc, thỏa thuận, trừ khi tài sản chung đã được chia để đầu tư kinh doanh riêng”. Đây là một điều khoản chưa chặt chẽ, dễ bị lợi dụng vì không hề có biện pháp chế tài. Trường hợp nếu người vợ, người chồng dùng tài sản chung để đầu tư, kinh doanh mà không có thỏa thuận, không bàn bạc thì giải quyết như thế nào? Thực tế đã xảy ra trường hợp người chồng với vai trò là chủ gia đình thường đứng ra thực hiện các giao dịch, đăng ký quyền sở hữu tài sản, đến khi có tranh chấp lại cho rằng đó là tài sản riêng do tặng cho, thừa kế. Ngoài ra, quy định “tài sản có giá trị lớn hoặc nguồn sống duy nhất của gia đình” cũng cần phải được giải thích rõ vì hiện nay Tòa án các cấp áp dụng không giống nhau do chưa có tiêu chí nào xác định cụ thể vấn đề này.

Bên cạnh đó, một số khái niệm, cụm từ như “các nghĩa vụ chung của vợ chồng”, “lý do chính đáng” tại các Điều 28, 29 cũng gây nhiều tranh cãi bởi Luật không quy định rõ ràng và chưa có hướng dẫn cụ thể.

Hơn nữa, quy định này còn quá “mở”, bởi nếu sau khi kết hôn, với lý do kinh doanh riêng, vợ chồng thỏa thuận chia toàn bộ tài sản chung, tài sản của ai làm ra thuộc về người đó, thì khi đó lợi ích của gia đình được xem xét như thế nào? Nếu thỏa thuận này được thực hiện thì hôn nhân chỉ tồn tại về mặt nhân thân, bản chất của quan hệ hôn nhân vì thế không được đảm bảo thực hiện đúng nghĩa.

Mặt khác, Luật mới chỉ công nhận vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân mà không công nhận quyền của người thứ ba. Trong trường hợp vợ hoặc chồng không có tài sản riêng hoặc tài sản riêng không đủ để thực hiện nghĩa vụ về tài sản của mình nhưng không yêu cầu chia tài sản chung để trốn tránh thực hiện nghĩa vụ thì quyền lợi của người thứ ba không được đảm bảo.

Luật chưa có quy định cụ thể về nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân trong trường hợp vợ chồng không thỏa thuận được mà phải yêu cầu Tòa án giải quyết. Đồng thời, Luật chưa quy định về việc ai là người có quyền yêu cầu Tòa án hủy bỏ thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân trong trường hợp thỏa thuận này vi phạm các điều kiện được quy định tại Điều 29 hoặc gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống gia đình. Hậu quả pháp lý của việc Tòa án tuyên bố vô hiệu đối với thỏa thuận chia tài sản chung của vợ, chồng cũng chưa được quy định.

– Điều 32 của Luật quy định, tất cả đồ dùng, tư trang cá nhân đều thuộc khối tài sản riêng của vợ chồng dù chúng được hình thành từ nguồn tài sản chung hay tài sản riêng của mỗi bên. Tuy nhiên, Luật HN-GĐ cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành không có bất kỳ quy định nào giải thích, hướng dẫn đồ dùng, tư trang cá nhân bao gồm những loại nào dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau. Mặt khác, Luật không có quy định giới hạn giá trị của các tài sản này sẽ dẫn đến nhiều trường hợp quyền và lợi ích hợp pháp của người vợ, người chồng bị xâm phạm, nhất là trong trường hợp đồ dùng, tư trang cá nhân đó chiếm một tỷ trọng lớn trong khối tài sản chung của vợ chồng. Việc không xem xét tới yếu tố các đồ dùng, tư trang cá nhân hình thành từ nguồn gốc tài sản chung hay tài sản riêng có thể dẫn tới trường hợp chuyển hóa tài sản chung thành tài sản riêng của vợ, chồng khi người vợ, người chồng lợi dụng dùng tài sản chung để mua đồ dùng, tư trang cho bản thân mình ảnh hưởng đến quyền lợi của bên kia.

– Có ý kiến cho rằng cách quy định tài sản chung, riêng như tại các Điều 27, 28, 32 nói trên có những điều bất hợp lý và khó xác định trên thực tế. Có nhiều trường hợp quyền sử dụng đất có trước thời kỳ hôn nhân, sau khi kết hôn mới có giấy chứng nhận thì theo quy định lại trở thành tài sản chung. Ngoài ra, cũng có nhiều trường hợp vợ, chồng nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong thời kỳ hôn nhân nhưng tiền nhận chuyển nhượng lại là tiền riêng của một bên…

– Điều 33 của Luật quy định vợ chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình, trừ trường hợp tài sản riêng của vợ hoặc chồng đã được đưa vào sử dụng mà lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản riêng đó phải được sự thỏa thuận của cả vợ chồng. Đây là điều khoản hợp tình, hợp lý, có tính nhân văn, nhưng Luật không quy định rõ thế nào là “nguồn sống duy nhất của gia đình”. Chính vì vậy, trong thực tế rất khó để buộc người có tài sản riêng đó thực hiện việc thỏa thuận vì khi đã là tài sản riêng được công chứng rõ ràng họ có toàn quyền quyết định dù đó là nguồn sống duy nhất của gia đình. Do vậy cần có văn bản hướng dẫn cụ thể để không gây thiệt thòi cho bên còn lại[32].

2.4. Về xác định cha, mẹ, con

Quy định về xác định cha, mẹ, con trong Luật HN-GĐ đã phần nào tạo cơ sở pháp lý quan trọng bảo đảm tôn trọng, bảo vệ quyền của trẻ em sinh ra có gia đình của mình, cũng như quyền làm cha, làm mẹ của cá nhân; xác định các bên trong quan hệ cha, mẹ, con, trên cơ sở đó xác lập, bảo đảm thực hiện các quyền, nghĩa vụ nhân thân và tài sản trong quan hệ cha mẹ và con; kế thừa và phát huy các giá trị đạo đức trong gia đình Việt Nam… Tuy nhiên, vẫn còn những tồn tại, thiếu sót trong quá trình thực thi Luật.

– Về nhận cha, mẹ, con: Khoản 1 Điều 63 Luật HN-GĐ quy định con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng. Do vậy, con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân, khi đăng ký khai sinh phải ghi đầy đủ tên của người cha và người mẹ vào Giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai sinh. Trong trường hợp có người khác xin nhận là cha của đứa trẻ đó, người cha và mẹ trong giấy khai sinh đều đồng ý cho người thứ ba nhận con, trường hợp này căn cứ theo Điều 64 Luật HN-GĐ phải do Tòa án giải quyết. Bởi lẽ, người cha trong giấy khai sinh là người chồng hợp pháp, người chồng đó đồng ý cho người khác nhận con tức là từ chối nhận con. Như vậy, Tòa án cho người đó từ chối nhận con, sau đó người thứ ba mới có quyền nhận con tại UBND xã, phường theo quy định. Tuy nhiên, trong thực tiễn, một số Tòa án từ chối giải quyết vì cho rằng trường hợp này không có tranh chấp. Do vậy, cần thiết phải có quy định cụ thể về trường hợp nhận con mà con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân của người khác.

– Điều 63 Luật HN-GĐ quy định rất chung về giấy khai sinh của con không có tên cha, chỉ có tên mẹ, sau đó người mẹ yêu cầu Tòa án xác định cha cho con. Trong trường hợp người cha đã bỏ địa phương đi nơi khác mà người mẹ không biết địa chỉ hoặc tìm ra được người cha hoặc người cha hiện có mặt ở địa phương nhưng không đồng ý tiến hành xét nghiệm gen, lúc đó giải quyết như thế nào. Vì luật không quy định và Tòa án không thể buộc họ phải phối hợp để xét nghiệm;

Pháp luật chưa quy định cụ thể về cơ chế pháp lý bảo đảm cho người phụ nữ yêu cầu xác định cha cho con. Theo nguyên tắc tố tụng, người phụ nữ khi có yêu cầu xác định một người là cha của con mình thì họ phải có nghĩa vụ và cung cấp chứng cứ. Việc cung cấp chứng cứ, đặc biệt chứng cư về gen trong nhiều trường hợp gặp nhiều khó khăn nếu người được xác định là cha từ chối việc xác định gen. nếu cần thiết có thể yêu cầu giám định gen và họ phải chịu chi phí giám định gen;

– Luật chưa quy định cụ thể về các trường hợp xác định cha, mẹ, con trong những trường hợp đặc thù, như: con sinh ra sau khi hôn nhân chấm dứt (ly hôn hoặc người chồng chết); con được sinh ra theo phương pháp khoa học, nhưng tinh trùng được dùng để cấy phôi không phải tinh trùng của người chồng…[33]

2. 5. Về quan hệ giữa cha, mẹ, con và giữa các thành viên khác trong gia đình

Thực tiễn thi hành cho thấy quan hệ giữa cha, mẹ, con và các thành viên khác trong gia đình được quy định từ Điều 34 đến Điều 84 và một số quy định liên quan của Luật HN-GĐ năm 2000 đã góp phần tích cực trong xây dựng chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của các thành viên trong gia đình; kế thừa, phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam; quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình được tôn trọng và bảo vệ, đặc biệt của phụ nữ và trẻ em; tuy nhiên nhiều quy định của Luật còn mang tính nguyên tắc, không cụ thể, chưa phù hợp với thực tiễn hoặc chưa kế thừa, phát huy được truyền thống văn hóa, đạo đức của gia đình Việt Nam.

* Về quan hệ giữa cha, mẹ, con:

Quy định về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con còn quá chung, chưa cụ thể và không phù hợp, nhất là trong quan hệ giữa cha mẹ với con đã thành niên. Việc quy định không rõ ràng có thể tạo sự nhận thức không đúng về trách nhiệm của cha mẹ đối với con và của con đã thành niên đối với cha mẹ.

Bên cạnh đó, trong đời sống xã hội vẫn tồn tại trường hợp cha mẹ không thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với con, đặc biệt là khi con bị tàn tật, không có khả năng tự nuôi bản thân hoặc con không thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ khi già yếu, cô đơn, nhưng Luật HN-GĐ chưa có chế tài đủ mạnh để nâng cao trách nhiệm của người vi phạm và bảo vệ lợi ích của người bị vi phạm.

* Về quan hệ giữa các thành viên trong gia đình:

+ Quan hệ “người thân thích” có quyền và nghĩa vụ với nhau được quy định trong nhiều văn bản pháp luật, nhưng BLDS và Luật HN-GĐ chưa có quy định cụ thể về người thân thích và phạm vi người thân thích dẫn tới cách hiểu và việc áp dụng pháp luật không thống nhất.[34] Bên cạnh đó, Luật HN-GĐ năm 2000 chưa có giải thích về khái niệm “thành viên gia đình”, trong khi Khoản 2 Điều 1 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình quy định “bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình”.

+ Luật còn thiếu quy định về quyền và nghĩa vụ của người nuôi dưỡng mà không phải là cha, mẹ, con của người được nuôi dưỡng; không ghi nhận đầy đủ những lợi ích của người nuôi dưỡng cần được bảo đảm khi thực hiện hành vi nuôi dưỡng (con dâu, con rể và cha mẹ chồng, cha mẹ vợ; con riêng với cha dượng, mẹ kế; anh, chị, em nuôi nhau…). Điều này không phù hợp với truyền thống văn hóa, đạo đức của dân tộc Việt Nam là đề cao hành vi dưỡng dục so với hành vi sinh thành – “công sinh không bằng công dưỡng”[35].

Ngoài ra, theo quy định tại Điều 38 Luật HN-GĐ thì bố dượng, mẹ kế và con riêng của vợ hoặc của chồng có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng lẫn nhau khi cùng chung sống với nhau. Điều 679 BLDS năm 2005 cũng quy định việc con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau. Tuy nhiên, thực tế rất khó xác định trường hợp nào là có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng, trường hợp nào không do pháp luật chưa quy định căn cứ chứng minh việc nuôi dưỡng, chăm sóc lẫn nhau giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế;

+ Đối với đồng bào các dân tộc ít người, quan hệ giữa các thành viên trong gia đình được Luật và Nghị định số 32/2002/NĐ-CP quy định tương đối chi tiết, cụ thể; Nhà nước ta cũng vận động, khuyến khích đồng bào các dân tộc thiểu số xóa bỏ những phong tục, tập quán lạc hậu đã và đang tạo nên sự đối xử kỳ thị bất bình đẳng giữa các thành viên trong gia đình. Tuy nhiên, việc tuyên truyền, vận động xóa bỏ trên thực tế vẫn còn gặp nhiều khó khăn.[36]

Mặt khác, pháp luật không công nhận quan hệ hôn nhân giữa những người chung sống như vợ chồng không có đăng ký kết hôn. Trong khi đó, gia đình của người dân tộc ít người chủ yếu là gia đình lớn, có nhiều thế hệ chung sống với nhau. Do đó, khi có tranh chấp tài sản và các quyền lợi khác sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của thành viên trong gia đình như con dâu hoặc con rể ở cùng gia đình. [37]

2.6. Về cấp dưỡng

Các vấn đề liên quan đến cấp dưỡng được quy định tại các Điều từ 50 đến 55 Luật HN-GĐ năm 2000 và trong Nghị định số 70/2001/NĐ-CP của Chính phủ ngày 03 tháng 10 năm 2001. Các quy định này đã luật hóa một nghĩa vụ cơ bản và quan trọng giữa cha, mẹ và con; giữa anh chị em với nhau; giưa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa vợ và chồng trong những trường hợp nhất định khi một bên cần sự hỗ trợ từ bên kia. Điều này cũng xuất phát từ truyền thống tương thân, tương ái của dân tộc ta. Tuy nhiên, quy định về cấp dưỡng còn cứng nhắc, Luật mới chỉ quy định việc cấp dưỡng giữa những người có quan hệ đương nhiên về pháp luật (giữa vợ và chồng, cha mẹ và con, anh, chị, em ruột, ông bà và cháu). Trong khi đó, tập quán và truyền thống văn hóa, đạo đức của gia đình Việt Nam thường đề cao trách nhiệm của những người có quan hệ thân thích với nhau theo phương châm: “sểnh cha còn chú, sểnh mẹ bú dì”. Hạn chế này thể hiện tại khoản 1 Điều 50 Luật HN-GĐ chưa quy định nghĩa vụ cấp dưỡng giữa những người thân thích khác (giữa cháu với cô, dì, chú, bác…) mà giữa người được cấp dưỡng và người cấp dưỡng đã có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như người trong gia đình.

Ngoài ra, quá trình áp dụng pháp luật về cấp dưỡng đã bộc lộ một số vướng mắc khác như:

– Điều 53 của Luật quy định mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu thỏa thuận không được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, trong thực tiễn các bên thường không thể thỏa thuận được mà phải do Tòa án giải quyết. Thẩm phán khi hòa giải, giải thích chỉ áp dụng mức cấp dưỡng thấp nhất theo hướng dẫn là nửa tháng lương cơ bản. Mức cấp dưỡng này thường không phù hợp cho nhu cầu thiết yếu của một người. Tuy nhiên, khi người được cấp dưỡng yêu cầu tăng mức cấp dưỡng, người có nghĩa vụ cấp dưỡng không đồng ý vì cho rằng mình không có khả năng; Thẩm phán thì khó xem xét để tăng, mức tăng là bao nhiêu nên thường quy định mức thấp nhất (chỉ tăng khi người cấp dưỡng tự nguyện).

– Điều 56 quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con khi ly hôn: Khi ly hôn, cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi con chưa thành niên hoặc con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Mức cấp dưỡng cho con do cha, mẹ thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết". Tuy nhiên, hiện nay việc yêu cầu cấp dưỡng sau khi ly hôn đang còn nhiều khó khăn, bất cập.

Trong thực tiễn giải quyết các vụ ly hôn, nếu các bên không thỏa thuận được về cấp dưỡng thì Tòa án căn cứ vào những quy định hiện hành và điều kiện khả năng thực tế của mỗi bên để quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng. Theo đó, khi áp dụng Điều 92 thì: "Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con". Đây là nghĩa vụ của cha, mẹ, do đó không phân biệt người trực tiếp nuôi con có khả năng kinh tế hay không, người không trực tiếp nuôi con vẫn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Tuy nhiên, trên thực tế nhiều trường hợp sau khi ly hôn, khoản tiền cấp dưỡng chưa bảo đảm được quyền lợi của đứa con, hoặc khoản tiền cấp dưỡng sau khi ly hôn trở thành khoản nợ khó đòi. Theo quy định thì mức cấp dưỡng được căn cứ vào mức thu nhập, giá cả thị trường tại thời điểm xét xử vụ án. Khi ly hôn có rất nhiều trường hợp con còn ở tuổi rất nhỏ có trường hợp 14 – 15 năm sau mới đủ 18 tuổi. Mức cấp dưỡng lại bất di bất dịch trong khi thị trường đầy biến động, giá cả ngày càng leo thang. Mức cấp dưỡng đã và đang trở thành gánh nặng cho những người trực tiếp nuôi dưỡng con sau khi ly hôn; ngoài ra còn có những trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.

– Điều 60 Luật HN-GĐ quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng: “Khi ly hôn, nếu bên khó khăn, túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lý do chính đáng thì bên kia có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình”. Quy định này rất khó đi vào thực tiễn vì chưa phù hợp với mối quan hệ của những người đã ly hôn.

– Thực tiễn xét xử cho thấy, nhiều trường hợp, do có điều kiện kinh tế nên người trực tiếp nuôi con không yêu cầu cấp dưỡng và Tòa án công nhận. Nhưng quyền nhận cấp dưỡng là quyền của người con khi cha mẹ ly hôn nên người trực tiếp nuôi dưỡng không có quyền từ chối cấp dưỡng. Việc từ chối cấp dưỡng sẽ dẫn tới quyền lợi chính đáng của người con không được đảm bảo. Tuy nhiên, Luật HN-GĐ không quy định về vấn đề này.

Hiện nay, nhiều trường hợp hai vợ chồng ly hôn (vợ là nguyên đơn), nhưng người vợ đang mang thai và cả hai đều công nhận đó là con chung của vợ chồng và thỏa thuận người chồng cấp dưỡng nuôi con sau khi cháu bé sinh ra. Khi giải quyết việc cấp dưỡng tại Tòa, đối tượng được hưởng cấp dưỡng chưa có tên, tuổi cụ thể xác định trong khi đó, quyết định của Tòa án phải được ghi nhận cụ thể và chính xác để đảm bảo công tác thi hành án sau này. Đây là nguyên nhân dẫn đến tranh chấp, gây lúng túng trong việc xử lý.[38]

2.7. Về giám hộ giữa các thành viên trong gia đình

Mặc dù quy định về giám hộ trong Luật HN-GĐ (Điều 79 – Điều 84) đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong bảo đảm cho thành viên của gia đình là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự được chăm sóc, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp; kế thừa, phát huy truyền thống đạo đức trong gia đình; nâng cao trách nhiệm của các thành viên trong gia đình trong thực hiện quyền, nghĩa vụ đối với nhau; tuy nhiên nhiều nội dung quan trọng của giám hộ chưa được Luật HN-GĐ ghi nhận hoặc chưa có sự đồng, bộ thống nhất với quy định về giám hộ trong BLDS khi áp dụng pháp luật chuyên ngành thì địa phương gặp nhiều khó khăn. Ví dụ: các trường hợp giám hộ đương nhiên, cử giám hộ, giám sát giám hộ giữa các thành viên trong gia đình…[39]

2.8. Về ly hôn

Ly hôn là một chế định quan trọng trong Luật HN-GĐ, được quy định từ Điều 85 đến Điều 99. Quy định của Luật về cơ bản đã bảo đảm thực hiện nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; tôn trọng các quyền nhân thân và tài sản của các bên trong ly hôn; quyền của phụ nữ và trẻ em; quyền, lợi ích của người thứ ba; sự ổn định trong các quan hệ gia đình và quan hệ xã hội. Tuy nhiên, qua quá trình thi hành Luật HN-GĐ, chế định ly hôn đã bộc lộ những hạn chế sau: [40]

– Về căn cứ ly hôn: Luật HN-GĐ quy định về căn cứ lý hôn dựa trên thực trạng quan hệ hôn nhân,[41] không dựa trên yếu tố lỗi của vợ chồng trong việc làm phát sinh mâu thuẫn dẫn tới ly hôn. Việc xác định căn cứ ly hôn vì thế còn định tính, trừu tượng, khó xác định và cũng không bao quát được hết các trường hợp vợ chồng có yêu cầu chính đáng về ly hôn.[42] Xác định trách nhiệm của người vi phạm quyền, nghĩa vụ trong hôn nhân vì thế đã không được quy định rõ ràng trong Luật. Nhiều trường hợp việc giải quyết ly hôn đã bị lạm dụng bởi một số đương sự nhằm để tránh né các chế tài do đã vi phạm chế độ hôn nhân một vợ – một chồng, đồng thời để hợp pháp hóa quan hệ ngoại tình của mình trong thời kỳ hôn nhân.

– Về việc giải quyết yêu cầu thuận tình ly hôn:

Theo quy định tại Điều 90 Luật HNGĐ năm 2000, thì để quyết định đồng ý cho ly hôn hay không Tòa án phải xem xét mâu thuẫn gia đình đã đến mức trầm trọng hay chưa; một trong những biểu hiện của việc mâu thuẫn gia đình đã trầm trọng và không thể hàn gắn được, ví dụ như: đã được họ hàng, gia đình, cơ quan, tổ chức khuyên nhủ, hòa giải nhưng không thành. Chính vì vậy, trên thực tế, khi có bất cứ một việc yêu cầu ly hôn nào, không phân biệt là thuận tình ly hôn hay đơn phương yêu cầu ly hôn thì thủ tục hòa giải vẫn là thủ tục bắt buộc. Việc hòa giải được thực hiện từ cơ sở đến Tòa án.

Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 28 Bộ luật TTDS đối với trường hợp giải quyết việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn thì có thể thụ lý theo việc dân sự, trong khi đó, bản chất của việc dân sự là xác nhận một sự kiện pháp lý, nên về nguyên tắc không có thủ tục hoà giải và không có thủ tục phản tố. Chính vì mâu thuẫn này mà thực tế tại các Tòa án hiện nay, kể cả với các việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn thì Tòa án vẫn thụ lý theo vụ án dân sự hôn nhân gia đình chứ không thụ lý theo trình tự giải quyết việc dân sự.

– Về quyền yêu cầu ly hôn: Theo khoản 8 Điều 8 của Luật HN-GĐ, “ly hôn là chấm dứt hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng”. Như vậy, quyền yêu cầu ly hôn là quyền nhân thân gắn liền với người vợ, người chồng và không thể chuyển giao cho người khác. Quyền tự do ly hôn của vợ, chồng được pháp luật ghi nhận nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của vợ, chồng. Tuy nhiên, trong những trường hợp đặc biệt, pháp luật vẫn hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của chồng. Cụ thể, theo Điều 85 Luật HN-GĐ thì “trong trường hợp người vợ có thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn”. Như vậy, người chồng không thể và không có quyền đơn phương đệ đơn ra Tòa yêu cầu ly hôn trong trường hợp này. Về mặt pháp lý, nếu như trong trường hợp đứa trẻ được người vợ đang mang thai không phải là con của người chồng thì người chồng có được xin ly hôn hay không? Theo quy định hiện hành khi đứa trẻ đã được thành thai trong thời kỳ hôn nhân đương nhiên là con của vợ chồng. Tuy nhiên, đây chính là sự bất cập của pháp luật, vì trên thực tế, khi biết được đứa con người vợ đang mang thai không phải là con của mình, người chồng sẽ có những diễn biến tâm lý bất thường dễ dẫn đến phạm tội.

– Về đại diện trong ly hôn: Điều 73 Bộ luật TTDS quy định đối với việc ly hôn, đương sự không được ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng, nhưng hiện nay Luật HNGĐ năm 2000 chưa có quy định cụ thể về vấn đề ai sẽ là người đại diện cho người vợ hoặc chồng bị mất năng lực hành vi dân sự khi bên kia yêu cầu ly hôn. Do vậy, trong thực tế, giải quyết các vụ án ly hôn trong trường hợp này còn nhiều vướng mắc.

– Về đường lối giải quyết ly hôn: Điều 86 Luật HN-GĐ quy định về việc khuyến khích hòa giải ở cấp cơ sở đối với tranh chấp về hôn nhân, gia đình. Do quy định không có tính bắt buộc nên nhiều vụ việc Tòa án thụ lý chưa qua hòa giải ở cấp cơ sở; khi Tòa tiến hành hòa giải theo Điều 88 Luật HN-GĐ thì các bên đoàn tụ, tiếp tục chung sống. Từ đó cho thấy đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến lượng án hôn nhân gia đình ngày càng tăng cao, tiêu tốn không ít ngân sách của nhà nước.

– Về quyền, nghĩa vụ với con khi ly hôn: Luật HN-GĐ chưa quy định cụ thể về căn cứ xác định việc Tòa án giao con cho ai nuôi là đã “căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con”. Thực tế, khi Tòa án quyết định giao con chưa thành niên cho cha hoặc mẹ trực tiếp nuôi thì phải xem xét thêm các điều kiện khác như có thuận lợi cho việc thăm nom cháu của những người thân thích khác hay không (ông bà nội, ngoại, cô, chú, bác, cậu, dì) nhằm duy trì mối quan hệ gần gũi về huyết thống và mối quan hệ bạn bè ở khu dân cư, trường học của người con trong trường hợp này.

Thủ tục bắt buộc khi giải quyết ly hôn là Tòa án phải hỏi ý kiến trẻ em từ 09 tuổi trở lên về việc sống với cha hay với mẹ. Quy định này nhằm lấy ý kiến của con để Tòa án có cơ sở quyết định việc nuôi dưỡng giao cho người mẹ hay người cha theo nguyện vọng của con. Tuy nhiên, trên thực tế việc thực hiện thủ tục này gặp vướng mắc khi cha mẹ trẻ em không hợp tác. Đây là quy định hợp tình, hợp lý, nhưng cách thực hiện quy định này nên có sự thay đổi, không nên bắt buộc trẻ em đến Tòa làm bản tường trình như hiện nay mà nên lấy ý kiến thông qua người thân, thầy cô của trẻ em để tránh tâm lý nặng nề cho trẻ em.

Điều 94 Luật HN-GĐ năm 2000 quy định về quyền, nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con: “có quyền thăm nom con; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó”.

Quy định này trong quá trình áp dụng thực hiện còn gặp những bất cập. Hiện nay vẫn chưa có văn bản dưới luật nào cụ thể hóa quy định trên. Các hành vi “cản trở” hoặc “gây ảnh hướng xấu” của một bên không trực tiếp nuôi con được hiểu như thế nào cho thống nhất? hay nói cách khác những loại hành vi nào được cho là “cản trở” hoặc “gây ảnh hưởng xấu” đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa được quy định cụ thể.

Luật HN-GĐ chưa có quy định nào cấm hoặc hạn chế người cha (mẹ) quyền thăm con trong trường hợp người này từng có hành vi bạo lực gia đình trong quá khứ (đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi bạo lực gia đình). Ví dụ, trong quá khứ người cha thường xuyên có hành vi bạo lực gia đình và việc thăm nom của người này có thể sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện tâm lý và tinh thần của trẻ em (vì khi gặp lại cha mình thì những hình ảnh bạo lực gia đình có thể sẽ tái hiện lại trong trí nhớ của trẻ). Nhưng Tòa án không quyết định hạn chế quyền thăm nom con sau khi ly hôn trong trường hợp trên được vì hoàn toàn không có cơ sở pháp lý, bởi quyền thăm nom con sau khi ly hôn chỉ bị Tòa án hạn chế khi “lạm dụng việc thăm nom để gây cản trở và gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con”.

– Về quan hệ tài sản: Điều 95 Luật HN-GĐ quy định khi ly hôn tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản. Tuy nhiên, Luật HN-GĐ và các văn bản hướng dẫn thi hành không quy định cụ thể về hoàn cảnh của mỗi bên, tỷ lệ chia tài sản theo công sức đóng góp. Điều này dẫn đến việc áp dụng không thống nhất giữa các Tòa án.

Mặt khác, Điều 96 của Luật quy định trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình một bên, khi ly hôn nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì phát triển khối tài sản chung, cũng như vào đời sống chung của gia đình. Tuy nhiên, căn cứ để xem xét công sức đóng góp của vợ hoặc chồng trong khối tài sản chung không được quy định rõ ràng. Quy định như hiện nay là chưa đảm bảo được quyền lợi về tài sản của người vợ khi chung sống với gia đình chồng. Thực tế cho thấy, nhiều trường hợp khi ly hôn, người vợ không được chia tài sản chung trong khối tài sản chung với gia đình chồng, mặc dù trước đó họ có một thời gian dài đóng góp công sức xây dựng khối tài sản đó.

2.9. Về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

Không thể phủ nhận, cùng với quá trình hội nhập quốc tế của đất nước, các quan hệ HN-GĐ có yếu tố nước ngoài đã có sự phát triển và có những chuyển biến tích cực[43]. Về pháp lý, Luật HN-GĐ năm 2000 đã có một chương riêng (Chương XI) từ Điều 100 đến Điều 106 quy định về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Chính phủ và Tòa án nhân dân tối cao cũng đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành các quy định của Luật HN-GĐ năm 2000 về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, như Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật HN-GĐ năm 2000 về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, Nghị định số 24/2013/NĐ-CP ngày 28/3/2013 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật HN-GĐ về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, Thông tư số 07/2002/TT-BTP ngày 16/12/2002 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP; Thông tư liên tịch số 15/2011/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 15/9/2011 của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự của Luật Tương trợ Tư pháp; Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình… Những văn bản này là cơ sở pháp lý cần thiết để điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, hiện tượng xã hội này cũng đã phát sinh nhiều vấn đề tiêu cực như: tình trạng môi giới kết hôn bất hợp pháp, kết hôn vì mục đích kinh tế,lợi dụng việc kết hôn nhằm mục đích mua bán, bóc lột sức lao động của phụ nữ…[44]

Bên cạnh những đóng góp tích cực trong việc hình thành cơ sở pháp lý cần thiết để điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình này, cũng đã có một số quy định chưa phù hợp với thực tiễn hiện nay, chưa đảm bảo sự đồng bộ trong hệ thống pháp luật như: chưa có sự đồng bộ trong quy định của Luật với các hệ thống văn bản dưới luật về điều kiện kết hôn với người nước ngoài; về từ chối đăng ký kết hôn; về chức năng tư vấn, hỗ trợ hôn nhân của các trung tâm hỗ trợ kết hôn… Một số quy định không phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự, hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam ký với các nước.

Qua rà soát khung pháp luật về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài cho thấy hệ thống pháp luật tồn tại một số điểm bất cập, hạn chế sau:

Thứ nhất, pháp luật về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài chưa đầy đủ:

– Các quy định về điều kiện kết hôn trong Luật HN-GĐ Việt Nam được áp dụng chung cho cả các quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài mà chưa có những quy định riêng về các điều kiện kết hôn với người nước ngoài (chẳng hạn quy định chênh lệch về tuổi, có hiểu biết lẫn nhau tại thời điểm đăng ký kết hôn).

– Trước khi Nghị định số 24/2013/NĐ-CP ban hành, chưa có những quy định hướng dẫn hoạt động của Trung tâm hỗ trợ kết hôn trong việc thực hiện chức năng tư vấn, môi giới hôn nhân.

– Hệ thống pháp luật Việt Nam chưa có những quy định xác lập thông tin về tình hình sinh sống của công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài và đang sinh sống ở nước ngoài (chẳng hạn pháp luật chưa có quy định việc bảo hộ cho công dân Việt Nam là phụ nữ Việt Nam sau khi kết hôn sang định cư ở Trung Quốc (Đài Loan), Hàn Quốc… nên việc giúp đỡ các cô dâu Việt Nam khi gặp hoàn cảnh khó khăn còn nhiều hạn chế do nhiều nguyên nhân: trình độ thấp, không có thông tin về các cơ quan ngoại giao);

Thứ hai, pháp luật về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài có những điểm chưa phù hợp với thực tiễn cuộc sống.

– Trước khi Nghị định số 24/2013/NĐ-CP ban hành, cơ chế về tổ chức và hoạt động của các Trung tâm hỗ trợ kết hôn thuộc Hội liên hiệp phụ nữ chưa thực sự có hiệu quả trong việc bảo đảm kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài đúng pháp luật và lành mạnh.

– Pháp luật chưa có biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn tình trạng kết hôn giả tạo nhằm mục đích khác.

Trong thực tiễn xét xử Tòa án nhân dân cũng đã gặp nhiều vướng mắc khi giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Ví dụ, trường hợp người Việt Nam đi lao động xuất khẩu ở nước ngoài, hết thời hạn hợp đồng lao động không về nước mà trốn ở lại sống lưu vong ở nước đó, người vợ (chồng) ở Việt Nam muốn ly hôn với họ, nhưng không biết họ đang ở đâu, không có liên lạc với gia đình. Hoặc trường hợp người Việt Nam kết hôn với người nước ngoài, sau một thời gian sinh sống với vợ (chồng) ở nước ngoài trở về Việt Nam và có yêu cầu ly hôn với chồng (vợ) của mình đang ở nước ngoài. Mặc dù các trường hợp trên Tòa án đã thực hiện mọi biện pháp cần thiết như ủy thác tư pháp ra nước ngoài nhưng vẫn không có kết quả, dẫn đến vụ việc không được giải quyết, ảnh hưởng rất lớn tới quyền lợi của đương sự.

Bên cạnh đó, với những trường hợp 02 vợ chồng người nước ngoài kết hôn tại nước ngoài, sau đó sinh sống tại Việt Nam, khi có mâu thuẫn có đơn xin ly hôn tại Việt Nam, có Tòa áp dụng điểm g, khoản 2, Điều 410 Bộ luật TTDS để không thụ lý vụ án; có Tòa căn cứ khoản 14, Điều 8 và khoản 1, Điều 104 Luật HN-GĐ để thụ lý vụ án; lại có Tòa áp dụng Điều 26 Bộ luật TTDS để giải quyết tranh chấp hôn nhân. Hoặc các trường hợp yếu tố nước ngoài chấm dứt khi đang giải quyết vụ án, thẩm quyền của Tòa đó không còn nhưng có Tòa vẫn không chuyển thẩm quyền theo quy định; hoặc có trường hợp vẫn tồn tại yếu tố nước ngoài nhưng vướng mắc về quy định của pháp luật về tố tụng, về đường lối giải quyết, về việc thực hiện ủy thác… nên đã vi phạm về thời hạn giải quyết vụ án.

– Ngoài ra, đối với các quy định cụ thể, ý kiến của các Bộ, ngành, địa phương tập trung vào những nội dung sau:

+ Hiện nay theo quy định của pháp luật Việt Nam, độ tuổi kết hôn của người nữ là từ 18 tuổi trở lên, nam từ 20 tuổi trở lên. Trong khi đó, quy định về độ tuổi kết hôn của một số nước và vùng lãnh thổ thấp hơn so với Việt Nam (Như Anh, Mỹ, Úc, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc là trên 16 tuổi; ở Pháp là từ 15 tuổi). Do đó, cơ quan có thẩm quyền sẽ gặp khó khăn khi thụ lý các hồ sơ xin công nhận việc đăng ký kết hôn đã đăng ký ở cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài (ghi chú kết hôn) vì ngoài việc xem xét hôn nhân có phù hợp với pháp luật Việt Nam hay không còn phải tính đến quyền lợi của phụ nữ và trẻ em.

+ Tại khoản 2, Điều 100 quy định trong quan hệ HN-GĐ “Công dân Việt Nam, người nước ngoài tại Việt Nam được hưởng các quyền và có nghĩa vụ như công dân Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác”. Thực tế, theo quy định pháp luật Việt Nam về quyền sở hữu bất động sản, trường hợp vợ hoặc chồng là người nước ngoài thì chưa được đứng tên trên các giấy chứng nhận, dù tài sản được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân. Do đó, khi đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, người vợ hoặc chồng là người nước ngoài phải lập văn bản cam kết tài sản đó không thuộc tài sản chung của vợ chồng mà là tài sản riêng của vợ hoặc chồng là người Việt Nam. Điều này không phù hợp với quy định, vì khi đó tài sản chưa được cơ quan có thẩm quyền công nhận. Mặt khác, dù tài sản đã có giấy chứng nhận, khi giao dịch cơ quan công chứng vẫn yêu cầu người vợ hoặc chồng là người nước ngoài phải lập văn bản cam kết tài sản riêng. Điều này cũng không phù hợp với bản chất vụ việc vì đây là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

+ Điều 101 về áp dụng pháp luật nước ngoài đối với quan hệ HN-GĐ có yếu tố nước ngoài quy định pháp luật nước ngoài sẽ được áp dụng cho quan hệ HN-GĐ có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam nếu “việc áp dụng đó không trái với các nguyên tắc quy định trong luật này”. Thực tiễn cho thấy, việc áp dụng pháp luật nước ngoài để điều chỉnh quan hệ HN-GĐ có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam là hoàn toàn cần thiết, đặc biệt trong trường hợp có liên quan đến các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên (ví dụ các Hiệp định tương trợ tư pháp) có quy định. Tuy nhiên, điều kiện mà điều luật quy định không rõ ràng bởi pháp luật nước ngoài sẽ không được áp dụng nếu trái với nguyên tắc quy định trong Luật HN-GĐ năm 2000 mà cụ thể là những nguyên tắc tại Điều 2 của luật. Như vậy, nếu pháp luật nước ngoài trái với những nguyên tắc có liên quan đến quan hệ HNGĐ nhưng lại được quy định trong các văn bản pháp luật khác (ví dụ: BLDS năm 2005) thì có được áp dụng hay không?

+ Khoản 3, Điều 102 Luật HN-GĐ năm 2000 quy định tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết các việc về HNGĐ có yếu tố nước ngoài (trừ trường hợp quan hệ HNGĐ giữa công dân Việt Nam với công dân nước láng giềng ở khu vực biên giới thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án nhân dân cấp huyện). Do Luật HN-GĐ ban hành trước Bộ luật TTDS năm 2004 nên cần thiết phải có quy định này. Tuy nhiên, từ thời điểm Bộ luật TTDS năm 2004 có hiệu lực thi hành (1/1/2005), việc xác định thẩm quyền của tòa án giải quyết các vụ việc HNGĐ đã được quy định cụ thể tại Điều 27, 28, 34 và 35 nên quy định tại đoạn 1, khoản 3, Điều 102 trở nên thừa vì trùng lắp với quy định của Bộ luật TTDS. Thực tiễn cũng cho thấy, các tòa án khi xác định thẩm quyền cũng chỉ căn cứ vào quy định của Bộ luật TTDS.

+ Khoản 2, Điều 103 Luật HN-GĐ quy định: “Nghiêm cấm lợi dụng việc kết hôn có yếu tố nước ngoài để buôn bán phụ nữ, xâm phạm tình dục đối với phụ nữ hoặc vì mục đích trục lợi khác”. Như vậy, việc kết hôn giả, vì mục đích trục lợi bị cấm, nếu ai thực hiện là trái pháp luật, nhưng do Luật HN-GĐ không quy định nội dung này nên thực tế, Tòa án không xử lý hủy kết hôn đối với các trường hợp trên mà giải quyết ly hôn. Đây là điều không phù hợp, hành vi vi phạm của các bên vẫn không bị xử lý. Ngoài ra, chưa có quy định giải thích thuật ngữ “trục lợi khác” là gì? Vì vậy, việc áp dụng quy định này trong thực tế còn nhiều bất cập.

+ Khoản 3 Điều 104 quy định “việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn phải tuân theo pháp luật nước nơi có bất động sản” không phù hợp với thực tiễn, có rất nhiều trường hợp vợ chồng người Việt Nam, sinh sống tại Việt Nam nhưng lại có tài sản là bất động sản ở nước ngoài. Khi đương sự có yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, Tòa án đã gặp nhiều khó khăn trong việc thu thập chứng cứ, đợi kết quả ủy thác tư pháp ở nước ngoài, nhưng vẫn không giải quyết được vụ việc đương sự có yêu cầu.[45]

+ Khoản 4, Điều 104 về “ly hôn có yếu tố nước ngoài” quy định bản án, quyết định ly hôn của tòa án hoặc cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài được công nhận tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam. Thời điểm năm 2000, việc công nhận bản án, quyết định của nước ngoài được tiến hành theo quy định của Pháp lệnh Công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài ngày 17/4/1993 và Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của Chính phủ về đăng ký hộ tịch. Tuy nhiên, từ thời điểm Bộ luật TTDS năm 2004 có hiệu lực thi hành, vấn đề công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài đã được bộ luật này điều chỉnh với nhiều quy định mới nên quy định tại khoản 4, Điều 104 cũng trở nên thừa.

3. Những vấn đề đã phát sinh trong thực tiễn nhưng chưa được pháp luật quy định

3.1. Về việc xác lập chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận (chế độ tài sản ước định)

Về chế độ tài sản của vợ chồng, Luật HN-GĐ năm 2000 chỉ dự liệu một chế độ tài sản pháp định. Theo đó, Luật quy định chung cho tất cả các cặp vợ chồng về căn cứ xác định tài sản chung, tài sản riêng, về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng và về phân chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn. Về nguyên tắc, đây là chế độ tài sản trong hôn nhân duy nhất được pháp luật thừa nhận. Việc áp đặt một chế độ tài sản trong hôn nhân như vậy là cứng nhắc, không đáp ứng được những nhu cầu khác nhau của các cặp vợ chồng trong việc thực hiện các quan hệ tài sản. Thực tế, quy định của Luật, một mặt, không đảm bảo được quyền tự định đoạt của người có tài sản được quy định trong pháp luật dân sự (Quyền về tài sản là quyền cơ bản của cá nhân được Hiến pháp, BLDS bảo hộ : mỗi cá nhân có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của mình theo ý chí của mình, miễn sao không xâm phạm lợi ích của người khác, không trái với đạo đức xã hội), mặt khác, không phù hợp với hoàn cảnh của từng cặp vợ chồng, từng gia đình “mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh”, nhất là đối với những trường hợp vợ, chồng có nhiều tài sản riêng, tiến hành các hoạt động kinh doanh, thương mại mà cần có một chế độ tài sản trong hôn nhân phù hợp.

Hiện nay, Luật HN-GĐ đã ghi nhận và bảo vệ quyền sở hữu tài sản riêng của vợ, chồng. Tuy nhiên, việc chứng minh đâu là tài sản riêng trên thực tế hiện nay gặp rất nhiều khó khăn nếu hai bên không có thỏa thuận trước hoặc không có các chứng cứ, tài liệu để chứng minh cụ thể. Mặt khác, trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, nhiều trường hợp một trong hai bên vợ (hoặc chồng) có con riêng, có công ty riêng hoặc một trong hai bên đứng tên tài sản, bất động sản cho người khác hoặc tình hình ly hôn có tỷ lệ ngày càng tăng cao… nhiều cặp vợ chồng thấy cần thiết phải thỏa thuận về chế độ tài sản áp dụng trong thời kỳ hôn nhân, trong đó xác định rõ những khối tài sản riêng của mỗi bên để bảo đảm có căn cứ rõ ràng trong giải quyết các trường hợp nêu trên. Trước như cầu khách quan như vậy, pháp luật cần có những quy định thừa nhận hiệu lực của những thỏa thuận này. Có như vậy, quyền tự định đoạt của vợ, chồng về tài sản của mình cũng như sự công khai, minh bạch trong các giao dịch mới được bảo đảm, tránh những rắc rối, phức tạp có thể xảy ra khi hôn nhân đổ vỡ.

Chính vì thế, qua thực tiễn tổng kết thi hành Luật HN-GĐ năm 2000 cho thấy, việc lập hôn ước trước hôn nhân là cách ứng xử công bằng và tiến bộ. Đó là cơ sở để bảo vệ tài sản riêng của từng cá nhân. Nó trợ giúp kế hoạch dự trù tài sản riêng hay tài sản chung trong hôn nhân, giúp giảm thiểu xung đột và tiết kiệm được án phí tranh tụng trong trường hợp ly hôn… Thêm vào đó, việc lập hôn ước có thể củng cố vững chắc quan hệ vợ chồng, bởi nếu hiểu rõ ràng ý kiến của nhau về tiền bạc, tài sản sẽ giúp cuộc hôn nhân lâu bền hơn. Bên cạnh đó, việc thỏa thuận tài sản trước khi kết hôn còn bảo đảm cho một cam kết hôn nhân thực sự chứ không vì hôn nhân vụ lợi. Nó làm giảm tranh chấp khi ly hôn.[46]

Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế – xã hội và pháp luật chung hiện nay ở nước ta, cần nghiên cứu sâu hơn về sự cần thiết phải quy định thỏa thuận về tài sản trước khi kết hôn, hay nên tiếp tục kế thừa và phát huy những quy định của Luật HN-GĐ năm 2000. Tình nghĩa vợ chồng là vấn đề chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững (Điều 18 Luật HNGĐ năm 2000), nếu quy định cụ thể vấn đề chia tài sản trước khi kết hôn trong Luật, sẽ dẫn đến việc “thực dụng hóa” một vấn đề cao quý của con người, đó là hôn nhân.

3.2. Ly thân

Nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng là một trong các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam. Tự nguyện trong hôn nhân bao gồm cả tự nguyện trong kết hôn, tự nguyện trong giải quyết các mẫu thuẫn giữa vợ chồng. Khi có mâu thuẫn trong hôn nhân, vợ chồng có quyền xác định phương thức giải quyết mâu thuẫn tốt nhất, phù hợp với nguyện vọng, hoàn cảnh của chính họ và gia đình họ, như: thông qua hòa giải (tự hòa giải hoặc thông qua cá nhân, tổ chức có thẩm quyền về hòa giải), thông qua biện pháp ly thân hoặc ly hôn. Ly thân, vợ chồng không sống cùng nhau nhưng hôn nhân của họ vẫn tồn tại, để giảm sự căng thẳng, xung đột gay gắt giữa vợ và chồng, để các bên có thời gian suy ngẫm, đánh giá về tình cảm của vợ chồng, trách nhiệm với con cái và có thể sửa đổi tính tình để vợ chồng đoàn tụ, tiếp tục chung sống.

Tuy nhiên, Luật HN-GĐ năm 2000 chỉ thừa nhận hai phương thức giải quyết mâu thuẫn giữa vợ và chồng là thông qua hòa giải và thông qua việc chấm dứt hôn nhân bằng ly hôn. Chế định ly thân chưa được nhà làm luật Việt Nam thừa nhận, trong khi trên thực tế, vì nhiều lý do khác nhau (do tuổi cao, danh dự, uy tín, sợ ảnh hưởng tâm lý của các con…), nhiều cặp vợ chồng khi có mâu thuẫn đã không lựa chọn việc chấm dứt hôn nhân bằng ly hôn mà đã thực hiện việc ly thân như là một giải pháp. Nhiều trường hợp vợ chồng yêu cầu Tòa án giải quyết ly thân để phân chia tài sản và xác định người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, nhưng Tòa án không có căn cứ để thực hiện theo yêu cầu của đương sự. Thực tế đã nảy sinh nhiều vấn đề. Chẳng hạn, nhiều trường hợp vợ chồng khi sống ly thân đã xảy ra xung đột trong việc quyết định quyền và nghĩa vụ nuôi con cái dẫn đến việc ảnh hưởng không nhỏ tới tâm lý con trẻ ; hoặc trong thời gian ly thân, cả hai tạo ra thu nhập riêng, tài sản riêng, đến khi ly hôn tòa án gặp khó khăn trong việc xác định tài sản chung, tài sản riêng; trường hợp vợ chồng ly thân trong thời gian dài, con chung sống với một trong hai bên mà bên còn lại không có thỏa thuận cấp dưỡng, đến khi ly hôn, con chung đã trên 18 tuổi nhưng bên nuôi con vẫn yêu cầu bên còn lại thanh toán tiền cấp dưỡng nuôi con, yêu cầu này không được tòa án chấp nhận làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người nuôi con…

Hiện nay, ly thân là tình trạng diễn ra không ít trong các gia đình, ví dụ: theo thống kê của UBND tỉnh Thanh Hóa cho thấy có tới 90% các cuộc ly hôn đều trải qua giai đoạn ly thân. Ly thân xảy ra khi vợ chồng không muốn sống chung với nhau, nhưng lại chưa đến mức phải ly hôn (hoặc chưa thể ly hôn vì những ràng buộc về giáo lý hoặc những lý do khác). Ly thân giúp cho con cái của họ không bị ảnh hưởng nhiều đến tâm lý, không phải đối diện với sự đổ vỡ, khủng hoảng về tinh thần vì cha mẹ ly hôn. Trong nhiều trường hợp, vợ chồng trải qua thời gian ly thân lại trở về sống chung với nhau mà không phải ly hôn.

Có thể nói, ly thân là giải pháp cần thiết để vợ chồng suy nghĩ cặn kẽ, nhìn lại khiếm khuyết của nhau trước khi quyết định ly hôn. Ly thân là một thực tế cần được nhà nước và xã hội thừa nhận. Tuy nhiên, do Luật HN-GĐ chưa có quy định về ly thân, nên cũng kéo theo nhiều hệ quả, gây rắc rối, phức tạp cho quan hệ hôn nhân, gây khó khăn cho một bên (trong trường hợp bên kia cố tình trì hoãn việc ly hôn vì mục đích cá nhân).

Về vấn đề này, tại Hội nghị Tổng kết công tác ngành Tòa án năm 1995, Tòa án nhân dân tối cao đã có kết luận: “Luật HNGĐ không quy định Tòa án thụ lý và giải quyết yêu cầu ly thân, nhưng Điều 18 Luật HNGĐ quy định, khi hôn nhân tồn tại, nếu một hoặc các bên yêu cầu và có lý do chính đáng thì có thể chia tài sản chung vợ chồng. Trong trường hợp này thông thường quan hệ vợ chồng đã rạn nứt, các đương sự thực tế đã ly thân. Khi chia tài sản nếu họ đặt vấn đề Tòa án xác nhận tình trạng ly thân thì Tòa án có thể xác nhận. Nếu các đương sự chỉ đơn thuần xin ly thân thì Tòa án giải thích cho họ tự định đoạt mà không thụ lý giải quyết cho ly thân hay không”. Như vậy, vấn đề ly thân đã được Tòa án nhân dân tối cao nhắc đến và hướng dẫn Tòa án nhân dân các cấp thực hiện ở những năm trước đây khi chưa có Luật HN-GĐ năm 2000.

Năm 2000, Chính phủ khi thực hiện dự án sửa đổi Luật HNGĐ năm 1986 đã đưa chế định ly thân vào dự thảo Luật nhưng chưa được Quốc hội chấp thuận.[47]

3.3. Mang thai hộ[48]

Luật HN-GĐ năm 2000 chưa có quy định cụ thể về mang thai hộ. Nghị định số 12/2003/NĐ-CP ngày 12 tháng 2 năm 2003 của Chính phủ về sinh con theo phương pháp khoa học có quy định: nhà nước nghiêm cấm các hành vi mang thai hộ và sinh sản vô tính. Trẻ ra đời do thực hiện hỗ trợ sinh sản phải được sinh ra từ người mẹ trong cặp vợ chồng vô sinh hoặc người phụ nữ sống độc thân và họ là cha, mẹ đối với đứa trẻ sinh ra do thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (Điều 6, Điều 20).

Việc nghiêm cấm hành vi mang thai hộ nhằm tránh những tiêu cực đã và đang xảy ra như: mang thai hộ nhằm mua bán trẻ sơ sinh bất hợp pháp, mang thai hộ nhằm lách luật để sinh con thứ ba… Song, việc nghiêm cấm này lại hạn chế mong muốn chính đáng của rất nhiều gia đình hiếm muộn, vô sinh. Ví dụ: chị gái hiếm muộn, em gái muốn mang thai hộ chị, được cả gia đình nhất trí, ủng hộ, nhưng pháp luật lại nghiêm cấm… Như vậy, việc nghiêm cấm mang thai hộ đã gián tiếp ảnh hưởng đến nguyện vọng chính đáng của công dân trong trường hợp mong muốn có “con nuôi” mang dòng máu của gia đình mình. Dưới góc độ pháp lý, thỏa thuận giữa người nhờ và người nhận mang thai hộ là loại thỏa thuận gì? Những thỏa thuận này có trái với quan niệm đạo đức truyền thống không? Biện pháp pháp lý ràng buộc các bên và chế tài pháp lý trong trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng thỏa thuận? Hiện chưa có quy định nào điều chỉnh vấn đề này.

Mặt khác, cho phép “mang thai hộ” không phải là cho phép “đẻ thuê”. Cho phép “mang thai hộ” đối với một số đối tượng có chỉ định để đảm bảo quyền làm mẹ chính đáng của mọi phụ nữ. Bản chất “mang thai hộ” là hết sức nhân văn vì là một sự giúp đỡ của một người phụ nữ này đối với người phụ nữ khác để sinh ra những đứa trẻ. Việc mang thai hộ và sinh nở cũng là việc làm có ý nghĩa nhằm duy trì nòi giống, gắn kết và giữ gìn hạnh phúc mỗi gia đình, bởi vì con cái là động lực để cha mẹ chúng làm việc tốt hơn, sống có trách nhiệm hơn, góp phần vào sự ổn định, phồn vinh của xã hội.

Trong thực tiễn xã hội, mang thai hộ và nhu cầu về mang thai hộ là có thật. Với những người vợ vì bệnh lý mà không thể mang thai và sinh nở được thì mang thai hộ là một giải pháp được nhiều cặp vợ chồng lựa chọn giúp họ có được con. Có hai nhóm người nếu muốn có con chỉ còn cách duy nhất là mang thai hộ. Một là, những phụ nữ có tử cung không bình thường (tử cung bị dị dạng, tử cung bị bệnh lý như u xơ hay bệnh về nội mạc, do tai biến sản khoa trước đó phải cắt bỏ tử cung). Hai là, những người có tử cung bình thường nhưng sức khỏe không cho phép để mang thai (ở nước ta gặp nhiều nhất là người mắc bệnh tim).

Do pháp luật cấm việc mang thai hộ, để thực hiện nhu cầu làm cha, mẹ, nhiều người đã chấp nhận thực hiện dịch vụ mang thai hộ thông qua môi giới, thông qua người nhận mang thai vì mục đích thương mại. Mặt khác, cũng có người áp dụng biện pháp mang thai hộ vì lý do không chính đáng khác (ví dụ như sợ sinh con cơ thể xấu đi, sợ tốn thời gian…). Từ đó, có nhiều nguy cơ dẫn đến tình trạng thương mại hóa, dịch vụ mang thai hộ phát triển mà nhà nước không kiểm soát được.

Đây là vấn đề thực tiễn, có tính thời sự, do đó cần được nghiên cứu để luật hóa trong Luật HN-GĐ (sửa đổi).[49]

4. Nguyên nhân của bất cập, hạn chế

Những bất cập, hạn chế trong công tác triển khai thi hành Luật HN-GĐ và trong quy định của Luật HN-GĐ bắt nguồn từ các nguyên nhân cơ bản sau:

4.1. Nguyên nhân khách quan

Thứ nhất, Việt Nam đang hướng tới nền kinh tế thị trường đầy đủ, hội nhập quốc tế sâu rộng, kinh tế – xã hội có nhiều chuyển biến cơ bản, những thách thức mới ngày càng tác động tới các quan hệ hôn nhân và gia đình, cũng như trong thực hiện bảo vệ quyền về hôn nhân và gia đình của cá nhân. Thực tiễn đó đã làm cho nhiều quy định của hệ thống pháp luật nói chung, Luật HN-GĐ nói riêng không còn phù hợp với thực tiễn, cần có sự sửa đổi, bổ sung kịp thời;

Thứ hai, các quan hệ trong hôn nhân và gia đình mang nhiều đặc thù: các mối quan hệ đều gắn với nhân thân, mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc; nó vừa phản ánh quan hệ gia đình trong xã hội hiện đại vừa chịu ảnh ảnh hưởng lớn của phong tục tập quán, yếu tố bản sắc dân tộc; nó vừa là quan hệ tư nhưng cũng vừa chịu tác động nhiều bởi chính sách, chiến lược của Nhà nước về xây dựng và phát triển gia đình… Trong khi đó, nhiều quy định của Luật chưa bao quát được những đặc thù này dẫn tới làm phát sinh nhiều khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật về hôn nhân và gia đình;

– Thứ ba, trong 12 năm Luật HNN-GĐ có hiệu lực, nhiều văn bản luật có liên quan đã được sửa đổi, bổ sung hoặc được ban hành mới, như: Luật Đất đai năm 2003, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật Bình đẳng giới năm 2006, Luật Phòng, chống bạo lực trong gia đình năm 2007, Luật Quốc tịch năm 2008, Luật Người cao tuổi năm 2006, Luật Nuôi con nuôi năm 2010… Trong bối cảnh như vậy, nhiều quy định của Luật HN-GĐ đã không còn bảo đảm tính hệ thống, không còn phù hợp hoặc chưa có sự đồng bộ, thống nhất với các văn bản luật có liên quan, ví dụ: quy định về tuổi kết hôn của nữ theo Luật hiện hành (từ 18 tuổi) không đồng bộ với quy định về năng lực chủ thể của cá nhân trong Bộ luật dân sự và Bộ luật tố tụng dân sự dẫn đến mặc dù pháp luật trao quyền kết hôn cho họ, nhưng pháp luật lại không quy định một cơ chế pháp lý cho công dân quyền về tài sản, giao dịch hoặc tham gia quan hệ tố tụng khi chưa đủ 18 tuổi…

Trong bố cảnh, hệ thống các văn bản pháp luật về hôn nhân và gia đình thiếu tính ổn định, thường xuyên có nhiều thay đổi, bổ sung, nhưng việc phối hợp của các ngành có liên quan để ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật chưa kịp thời nên đã ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

Thứ , sự phát triển kinh tế thị trường, xu thế hội nhập quốc tế, sự tham gia ngày càng rộng rãi của gia đình và các thành viên gia đình trong giao lưu dân sự đã làm cho các tranh chấp về hôn nhân và gia đình ngày càng tăng về số lượng và phức tạp về tính chất tranh chấp. Trong khi đó, hệ thống cơ quan xét xử còn rất nhiều khó khăn về cơ sở vật chất, trang thiết bị, trụ sở làm việc và nguồn nhân lực. Đặc biệt là Việt Nam vẫn chưa có Tòa chuyên trách về hôn nhân và gia đình, việc giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình về cơ bản phải tuân theo thủ tục tố tụng dân sự. Do đó, hiệu quả các giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn;

Thứ năm, Việt Nam đã và đang không ngừng mở rộng quan hệ ra thế giới và đã đạt được nhiều thành quả trong hội nhập quốc tế. Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức quốc tế và là thành viên nhiều điều ước quốc tế liên quan đến hôn nhân và gia đình (Công ước CEDAW, Công ước về quyền trẻ em…), đồng thời đã ký kết nhiều hiệp định tương trợ tư pháp với các nước trên thế giới, với những cam kết “phù hợp hóa” luật pháp quốc gia với các hiệp định và quy định của các tổ chức này trong lĩnh vực dân sự nói chung, hôn nhân và gia đình nói riêng. Hội nhập quốc tế về lĩnh vực hôn nhân và gia đình cũng đang ngày càng mở rộng và phát triển với những tác động tích cực, bên cạnh đó cũng làm phát sinh rất nhiều hệ lụy về mặt xã hội và quản lý nhà nước, cần được giải quyết về mặt chính sách và pháp luật .

4.2. Nguyên nhân chủ quan

Thứ nhất, công tác quản lý nhà nước về gia đình còn nhiều biến động (trước tháng 8/2007, công tác này được giao cho Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em thực hiện và hiện nay, nhiệm vụ này được Chính phủ giao cho Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), ngoài ra nội dung về công tác gia đình thuộc thẩm quyền của nhiều Bộ, ngành khác nhau. Do đó, việc triển khai công tác gia đình và triển khai thi hành Luật HN-GĐ còn chưa thực sự bài bản, hệ thống. Số lượng và năng lực cán bộ, công chức làm công tác chuyên trách về lĩnh vực hôn nhân và gia đình còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu. Việc nhận thức và áp dụng pháp luật HN-GĐ và các văn bản pháp luật khác có liên quan trong quá trình giải quyết các quan hệ hôn nhân và gia đình chưa thống nhất, có nhiều cách tiếp cận khác nhau;

Thứ hai, công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về HN-GĐ đã được thực hiện ở nhiều Bộ, ngành, địa phương và tổ chức có liên quan, nhưng nhìn chung công tác này ở các cấp chính quyền chưa sâu rộng, không thường xuyên, chưa kịp thời, hiệu quả còn thấp nên nhận thức về pháp luật HN-GĐ trong nhân dân còn chưa cao;

Thứ ba, trong công tác giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình, đội ngũ cán bộ, công chức của Tòa án nhân dân các cấp nhìn chung chưa đủ về số lượng, một bộ phần còn bất cập về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực công tác. Trong khi đó công tác đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ mặc dù đã được quan tâm nhưng vẫn chưa theo kịp yêu cầu của tình hình mới nên thẩm phán còn gặp nhiều khó khăn trong giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình, dẫn tới chất lượng giải quyết nhiều vụ việc về hôn nhân và gia đình còn chưa cao;

Thứ tư, việc phát huy vai trò của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong phối hợp giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình hoặc trong công nhận, thực hiện và bảo vệ quyền về hôn nhân và gia đình của người dân còn nhiều bất cập. Các cơ quan, tổ chức có quyền về yêu cầu giải quyền các vụ việc về hôn nhân và gia đình ít thực hiện được vai trò của mình do thẩm quyền đã thay đổi hoặc không phát huy hết năng lực của cơ quan, tổ chức. Một số cơ quan, chính quyền địa phương chưa phối hợp chặt chẽ, chưa quan tâm đúng mức đến công tác của Tòa án, đặc biệt là việc cung cấp tài liệu, chứng cứ, công chứng, giám định, thẩm định, đo đạc đất đai của các cơ quan, tổ chức có liên quan không chính xác đã ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của công tác giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình.

III. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ NHỮNG MẶT ĐƯỢC, CHƯA ĐƯỢC CỦA LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000

1. Những mặt được:

Luật HN-GĐ năm 2000 có tác động tích cực đến việc đề cao vai trò của gia đình trong đời sống xã hội, giữ gìn và phát huy truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Trên cơ sở các quy định cụ thể về chế độ hôn nhân và gia đình; trách nhiệm của công dân, nhà nước và xã hội trong xây dựng, củng cố chế độ hôn nhân và gia đình; kết hôn; quan hệ giữa vợ và chồng; ly hôn; xác định cha, mẹ, con; quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con, giữa các thành viên trong gia đình; cấp dưỡng; giám hộ, quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài… Luật đã góp phần xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình tiến bộ, xây dựng chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của các thành viên trong gia đình, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam nhằm xây dựng gia đình, no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc.

Trên cơ sở vai trò của gia đình đối với xã hội được phát huy, Luật HN-GĐ đã có những đóng góp tích cực trong việc phát triển nguồn nhân lực; trong ổn định, và phát triển kinh tế – xã hội của từng địa phương nói riêng và đất nước nói chung; trong tiến trình Việt Nam hội nhập với đời sống quốc tế.

2. Những mặt chưa được:

Bên cạnh những mặt đã đạt được, Luật HN-GĐ cũng đã tồn tại nhiều mặt chưa đạt được, trong đó:

Thứ nhất, một số quy định của Luật còn chưa tạo ra cơ chế pháp lý hiệu quả trong điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình vốn có nhiều đặc thù thù so với các quan hệ dân sự khác: các quan hệ đều gắn với nhân thân, mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc; nó vừa phản ánh quan hệ gia đình trong xã hội hiện đại vừa chịu ảnh hưởng lớn của phong tục, tập quán và văn hóa; nó vừa là quan hệ tư nhưng cũng vừa chịu tác động nhiều bởi chính sách, chiến lược của Nhà nước về xây dựng và phát triển gia đình… Ví dụ: luật chưa quy định cụ thể khi nào một tập quán về hôn nhân và gia đình được áp dụng;

Thứ hai, một số quy định của Luật chưa thực sự phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của các quan hệ dân sự – quan hệ tư. Do đó, trong một số quan hệ, các thành viên trong hôn nhân và gia đình chưa được quyền lựa chọn phương án ứng xử tốt nhất cho gia đình và bản thân. Ví dụ: Luật còn thiếu quy định cho phép xác lập chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận – Chế độ tài sản ước định. Luật HN-GĐ hiện hành chỉ quy định về chế độ tài sản pháp định. Quy định này chưa đảm bảo thực hiện quyền tự thỏa thuận, tự định đoạt của người có tài sản được quy định trong pháp luật dân sự; tạo ra sự cứng nhắc, không phù hợp với hoàn cảnh của từng cặp vợ chồng, từng gia đình “mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh” trong thực hiện các quyền tài sản; sự minh bạch trong giao dịch; quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba, cũng như trong bảo đảm căn cứ pháp lý để giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình;

– Thứ ba, một số quy định của Luật có tính khả thi thấp làm cho việc công nhận, thực hiện các quyền về hôn nhân và gia đình còn gặp nhiều khó khăn. Ví dụ: Luật HN-GĐ quy định tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên cả hai vợ chồng. Quy định này còn chưa phù hợp với thực tiễn đăng ký tài sản ở Việt Nam và Nhà nước cũng không có văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành quy định này. Do đó, thực tiễn thi hành mới chỉ áp dụng ở một mức độ đối với tài sản là quyền sử dụng đất, nhà ở, còn những tài sản khác (phương tiện giao thông, chứng khoán…) về cơ bản không thực hiện được việc ghi tên cả hai vợ chồng trên giấy chứng nhận quyền sở hữu…;

– Thứ tư, một số quan hệ về hôn nhân và gia đình phát sinh trong thực tiễn chưa được Luật quy định hoặc Luật quy định không cụ thể, như: quan hệ nam, nữ chung sống như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn; ly thân; mang thai hộ…;

Thứ năm, một số quy định của Luật còn chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn giao lưu dân sự, hội nhập quốc tế của Việt Nam, như: quy định về tài sản của vợ chồng tham gia đầu tư, sản xuất, kinh doanh; quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài…


[1] Tính đến ngày 13/4/2013 Bộ Tư pháp tiếp tục nhận được Báo cáo tổng kết của tỉnh Đắk Lắk và Quảng Ngãi; Dự thảo báo cáo tổng kết của tỉnh Vĩnh Long;

[2] Các tỉnh, thành phố chưa có Báo cáo Tổng kết thi hành Luật HN-GĐ: Hà Giang, Nghệ An, Ninh Thuận, Sơn La, Thái Nguyên;

[3] Tính đến ngày 13/4/2013 Bộ Tư pháp đã nhận được Dự thảo Báo cáo tổng kết thi hành Luật HN-GĐ của Bộ Tài Nguyên và Môi trường, Trung ương Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;

[4] Những ý kiến cụ thể của các Bộ, ngành, địa phương chưa được đưa vào trong Báo cáo này sẽ được Bộ Tư pháp, Ban soạn thảo, Tổ biên tập nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung Luật và trong xây dựng Dự thảo luật.

[5] Xem thêm các văn bản quy phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình tại Phụ lục số 01

[6] Trích dẫn từ Báo cáo tổng kết thực tiễn thi hành Luật hôn nhân và gia đình 2000 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Báo cáo không cập nhật kết quả tham gia công tác quản lý nhà nước về gia đình của Trung ương Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam do chưa nhận được Báo cáo Tổng kết của Tổ chức này.

[7] Dự thảo này chưa cập nhật các hoạt động tổ chức thi hành của Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam (vì chưa có Báo cáo tổng kết thi hành của tổ chức)

[8] Theo số liệu cung cấp của Vụ hành chính tư pháp, Bộ Tư pháp và Báo cáo tại Hội toàn quốc công tác đăng ký, quản lý hộ tịch và việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về hộ tịch của Bộ Tư pháp.

[9] Theo số liệu thống kê của Vụ Hành chính tư pháp, từ năm 2000 đến năm 2011 số lượng khai sinh trên toàn quốc là 19.102.485 trường hợp, kết hôn: 7.732.685 trường hợp, khai tử: 3.569.333 trường hợp; từ năm 2000 đến năm 2010 số lượng các vụ nhận cha, mẹ, con là 130.537 trường hợp, giám hộ: 6376 trường hợp.

[10] Từ năm 2000 đến năm 2009, Bộ Tư pháp đã định kỳ hướng dẫn địa phương 6 tháng/1 lần danh mục sách, tài liệu pháp luật cho Tủ sách pháp luật xã, phường, thị trấn; biên soạn hàng trăm loại tờ gấp; hơn 50 đầu tài liệu tuyên truyền các loại, trong đó có 7 đầu sách hỏi – đáp pháp luật được dịch ra 10 tiếng dân tộc thiểu số khác nhau ; hơn 200 đề cương tuyên truyền các nội dung pháp luật gắn bó mật thiết với nông dân và đồng bào dân tộc thiểu số như: Luật Hôn nhân và gia đình, Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai, pháp luật về phòng và chống tệ nạn ma túy, buôn bán phụ nữ, trẻ em… phát miễn phí cho địa phương để nhân bản; biên soạn 13 băng cassette, trong đó có băng được dịch ra tiếng H’Mông về các nội dung pháp luật thiết thực với nông dân và đồng bào dân tộc thiểu số để cung cấp cho các huyện, xã phát trên hệ thống loa truyền thanh cơ sở và 02 đĩa DVD tuyên truyền pháp luật dành cho đồng bào dân tộc thiểu số.

[11] Từ năm 2000 đến năm 2009, Bộ Tư pháp đã chỉ đạo điểm, hỗ trợ kinh phí xây dựng 31 Câu lạc bộ “Nông dân với pháp luật”, 26 Câu lạc bộ “Phụ nữ với pháp luật” tại các địa phương, 63 câu lạc bộ "Tuổi trẻ phòng chống tội phạm" tại 63 tỉnh, thành phố, mà phần lớn các Câu lạc bộ này ở nông thôn và miền núi.

[12] Số liệu được cập nhật từ Báo cáo tổng kết thực tiễn thi hành Luật hôn nhân và gia đình 2000 của Tòa án nhân dân tối cao

[13] Số liệu được cập nhật từ Báo cáo tổng kết thực tiễn thi hành Luật hôn nhân và gia đình 2000 của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao

[14] Trước tháng 8/2007, công tác gia đình được Chính phủ giao Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em ở Trung ương và địa phương . Sau khi cơ quan này chấm dứt hoạt động, công tác gia đình được chuyển giao cho Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và nhiều nội dung có liên quan quan đến công tác gia đình được chuyển giao cho các Bộ, ngành khác (Bộ Y tế, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội).

[15] Tòa án nhân dân tối cao

[16] Hội liên hiệp phụ nữ ít khi thực hiện quyền khởi kiện yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, cấp dưỡng.

[17] Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La

[18] Theo Ủy ban Dân tộc: Tỉnh Quảng Ninh có đến một nửa số bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới có vận dụng tập quán để giải quyết các tranh chấp không được Tòa án, Viện Kiểm sát cấp trên chấp nhận.

[19] Theo báo cáo của Ủy ban Dân tộc, ở các địa phương Lai Châu, Cao Bằng, Sơn La, Tuyên Quang, Thanh Hóa, Quảng Ninh hiện nay vẫn còn tồn tại một số phong tục ở những thôn bản vùng cao, vùng sâu, vùng xa như: hiện tượng đặt dâu trước, tục ở rể (mặc dù các phong tục này chỉ mang tính hình thức); tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết; do ảnh hưởng tâm lý trọng nam, khinh nữ nên còn sinh đẻ không có kế hoạch (đối xử với các thành viên trong gia đình chưa công bằng); việc đăng ký kết hôn không do UBND cấp xã thực hiện; cấm kết hôn giữa những người có họ trong phạm vi từ bốn đời trở lên; bắt buộc người phụ nữ góa chồng hoặc người đàn ông góa vợ, nếu kết hôn với người khác thì phải trả lại tiền cưới cho nhà chồng cũ hoặc nhà vợ cũ; đòi lại của cải, phạt vạ khi vợ, chồng ly hôn.

[20] Về sính lễ, của hồi môn, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã có hướng dẫn tại mục 3 Nghị quyết số 01/1988/NQ-HĐTP ngày 20/01/1988 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật HN-GĐ năm 1986. Tuy nhiên, hướng dẫn này không còn được áp dụng bởi Luật HN-GĐ năm 1986 đã hết hiệu lực thi hành, trong khi Luật HN-GĐ năm 2000 không quy định. Tỉnh Quảng Ninh có đến một nửa số bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới khi áp dụng tập quán giải quyết các tranh chấp không được Tòa án và Viện kiểm sát cấp trên chấp nhận…

[21] Nhiều Luật liên quan cũng đã thừa nhận năng lực chủ thể đã thành niên của cả nam, nữ đã đủ 18 tuổi. Ví dụ: Điều 12 Luật Nghĩa vụ quân sự quy định công dân nam giới đủ 18 tuổi được gọi nhập ngũ; lứa tuổi gọi nhập ngũ từ đủ 18 tuổi đến hết 27 tuổi.

[22] Lai Châu (từ năm 2009 – 2011 có 166 người), Thanh Hóa (năm 2010 và 2011 có 267 cặp vợ chồng), Sơn La (từ năm 2000 – 2005 có 577 cặp vợ chồng)

[23] Tòa án nhân dân tối cao, Ủy ban Dân tộc, UBND tỉnh Ninh Bình, Lâm Đồng, Hải Dương, Hòa Bình, Đồng Tháp, thành phố Hà Nội…

[24] Từ năm 2009 – 2011, tại tỉnh Lai Châu có 39 trường hợp kết hôn là những người có quan hệ họ hàng thân thích.

[25] Ủy ban Dân tộc, UBND tỉnh Hải Dương, Lâm Đồng, Hòa Bình, Bắc Giang, Kon Tum, Hà Nam…

[26] Tòa án nhân dân tối cao, UBND tỉnh Vĩnh Phúc, Ninh Bình, Sóc Trăng, An Giang, Yên Bái…

[27] Theo kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu xã hội, kinh tế và môi trường (iSEE) thì kỳ thị với người đồng tính còn phổ biến, đặc biệt là qua lời nói với 95% người đồng tính nam được hỏi đã từng nghe người khác nói người đồng tính là không bình thường. Bên cạnh đó, khi bị phát hiện là người đồng tính 20% mất bạn, 15% bị gia đình chửI mắng hoặc đánh đập; Nghiêm trọng hơn, 4,5% đã từng bị tấn công vì là người đồng tính, 1,5% nói bị đuổi học, 4,1% đã từng bị đuổi ra khỏi chỗ ở và 6,5% bị mất việc vì là người đồng tính.

[28] Bộ Y tế, UBND tỉnh Lào Cai, Gia Lai, Đồng Nai, Hải Dương, Tây Ninh, thành phố Cần Thơ…

[29] Theo số liệu thống kê của Ủy ban dân tộc: tỉnh Thanh Hóa năm 2004 có hơn 40.101 chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001 nhưng không đăng ký kết hôn (đã đăng ký được 33.728 trường hợp), trong đó có 1298 trường hợp không đủ điều kiện kết hôn; tỉnh Cao Bằng từ năm 2001 – 2012, Tòa án đã thụ lý và giải quyết 371 vụ không công nhận là vợ chồng; Tỉnh Lai Châu từ năm 2009 – 2011 có 722 trường hợp.

[30] Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Ủy ban Dân tộc, UBND tỉnh Thanh Hóa, Lâm Đồng, Vĩnh Phúc, Kon Tum, Quảng Ninh, Bắc Giang, thành phố Hồ Chí Minh…

[31] Theo Tòa án nhân dân tối cao: Thực tế trong công tác xét xử cho thấy, việc xác định lợi ích thu được phục vụ cho nhu cầu chung của gia đình (như tiền thu được từ chơi hụi – họ) được dùng để mua nhà, đất cho gia đình còn nhiều bất cập. Nguyên đơn thường không đủ chứng cứ để có thể chứng minh khoản tiền mà họ cho vay đã được bị đơn sử dụng để “đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình”. Vì vậy, thông thường Tòa án chỉ buộc được một bên (vợ hoặc chồng) phải trả nợ cho nguyên đơn. Điều này dẫn đến việc thi hành án sẽ không thể thực hiện được vì người vợ (hoặc chồng) không chấp nhận bán tài sản chung để người kia thi hành án. Trong những trường hợp này, cơ quan thi hành án thường phải để vợ chồng tự phân chia tài sản hoặc phải chờ bản án của Tòa án xét xử phân chia tài sản chung của vợ chồng để có căn cứ thi hành án. Nếu họ không tự phân chia hoặc không yêu cầu Tòa án phân chia thì việc thi hành án sẽ bị kéo dài, gây thiệt hại cho nguyên đơn.

[32] Tòa án nhân dân tối cao, UBND tỉnh Lạng Sơn, Hòa Bình, Tiền Giang, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Bình Thuận, Đồng Nai, Sóc Trăng, thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ…;

[33] UBND tỉnh Thanh Hóa, Tây Ninh, Bến Tre, Bình Thuận, thành phố Đà Nẵng, Cần Thơ…

[34] Ví dụ: khoản 1 Điều 41 của Luật tố tụng hành chính quy định người tiến hành tố tụng phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi trong trường hợp họ là người thân thích của các đương sự; khoản 2 Điều 75 BLDS quy định Tòa án chỉ định một người trong số những người thân thích của người vắng mặt tại nơi cư trú quản lý tài sản…;

[35] Trên thực tiễn xét xử, khi giải quyết ly hôn, Tòa án đã giao con cho vợ hoặc chồng nuôi dưỡng, chăm sóc con chung theo đúng quy định của pháp luật, nhưng thực tế từ lúc sinh ra cho đến khi bố mẹ ly hôn đứa trẻ chủ yếu sống cùng ông bà, bản thân đứa trẻ mong muốn được tiếp tục sống cùng ông bà. Do đó, ông bà đã có đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho mình được nuôi dưỡng cháu thì Tòa án không có căn cứ để thụ lý giải quyết.

[36] Ví dụ: Gia đình theo chế độ phụ hệ thì khi người cha chết chỉ con trai mới có quyền hưởng phần di sản của người cha quá cố để lại mà con gái không có quyền hưởng di sản thừa kế. Tương tự như vậy, đối với gia đình theo chế độ mẫu hệ, chỉ con gái mới có quyền hưởng phần di sản của người mẹ quá cố để lại mà con trai không có quyền hưởng phần di sản thừa kế, vì họ quan niệm thành viên trong gia đình là những người phải chung sống cùng một gia đình, khi không còn chung sống với gia đình (đi lấy chồng hoặc ở rể) thì không có quyền và nghĩa vụ đối với gia đình nữa.

[37] Ủy ban Dân tộc, UBND tỉnh Đồng Tháp, Lạng Sơn, Quảng Trị, Đăk Nông, An Giang, Hà Nam, Hà Tĩnh, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng…

[38] Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, UBND tỉnh Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Bến Tre, An Giang, Cà Mau…

[39] UBND tỉnh Ninh Bình, Đồng Tháp, Bến Tre, Kon Tum, Hà Tĩnh, An Giang, Đăk Nông, thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội…

[40] Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, UBND tình Hà Tĩnh, Bình Thuận, Bắc Giang, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Cà Mau, thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội…

[41] Căn cứ ly hôn theo quy định tại Điều 89 Luật HN-GĐ: Một bên bị Tòa án tuyên bố mất tích hoặc quan hệ vợ chồng ở tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

[42] Hiện nay ngành Tòa án nhân dân nhận được rất nhiều đơn yêu cầu ly hôn của một bên đề nghị ly hôn với người đang bị truy nã do vi phạm pháp luật, nhưng Luật HNGĐ không có quy định cho ly hôn trong trường hợp này nên Tòa án phải trả lại đơn khởi kiện hoặc đình chỉ giải quyết vụ án. Điều đó đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người đề nghị giải quyết cho ly hôn (Tòa án nhân dân tối cao).

[43] Công tác quản lý nhà nước đối với quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài đã từng bước được nâng cao hiệu lực, hiệu quả; công tác giáo dục, tuyên truyền, phối hợp giữa các cơ quan, giữa trung ương và địa phương được triển khai thường xuyên, đồng bộ hơn; việc đăng ký kết hôn, công nhận việc kết hôn, giải quyết những vấn đề liên quan đến quốc tịch của cô dâu Việt Nam, bảo vệ và hỗ trợ cô dâu Việt Nam ở nước ngoài về cơ bản đã đi vào nền nếp, bảo đảm nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam trong quan hệ hôn nhân và gia đình với người nước ngoài (Thông báo số 133/TB-VPCP ngày 6 tháng 6 năm 2011 của Văn phòng Chính phủ về ý kiến của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân tại Hội nghị toàn quốc về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài).

[44] Ở một số địa phương, nhiều trường hợp kết hôn giữa phụ nữ Việt Nam với nam giới người nước ngoài, phổ biến là với nam giới Hàn Quốc, Đài Loan, còn mang nặng mục đích kinh tế, hoặc mang tính trào lưu, còn nhiều trường hợp thông qua môi giới bất hợp pháp. Tại các tỉnh biên giới, nhiều trường hợp kết hôn giữa phụ nữ Việt Nam và nam giới nước ngoài thường trú ở khu vực biên giới không đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của hai nước; một số trường hợp phụ nữ Việt Nam chung sống như vợ chồng với chuyên gia, công nhân nước ngoài mà không đăng ký kết hôn tại một số địa phương có dự án đầu tư của nước ngoài; tại một số tỉnh phía Nam, đã xuất hiện một số nam giới gốc Phi không có giấy tờ, lý lịch rõ ràng, kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với phụ nữ Việt Nam. Hoạt động kinh doanh môi giới kết hôn bất hợp pháp của một số tổ chức, cá nhân vẫn tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức không lành mạnh, trái thuần phong mỹ tục của dân tộc, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của phụ nữ Việt Nam, gây phản cảm, bức xúc trong dư luận. Nhiều trường hợp phụ nữ Việt Nam kết hôn với nam giới người nước ngoài vì mục đích kinh tế, mang tính trào lưu hoặc thông qua môi giới trái phép nên gia đình không hạnh phúc phải tìm cách quay trở lại Việt Nam, phải mang hoặc gửi con về cho gia đình ở Việt Nam nuôi, làm tăng nguy cơ mất cân bằng giới tính (thừa nam, thiếu nữ) ở Việt Nam (Thông báo số 133/TB-VPCP ngày 6 tháng 6 năm 2011 của Văn phòng Chính phủ về ý kiến của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân tại Hội nghị toàn quốc về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài).

[45] Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, UBND tỉnh Trà Vinh, Bến Tre, Lạng Sơn, An Giang, Bà Rịa – Vũng Tàu, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng…

[46] UBND tỉnh Thừa Thiên Huế, Hà Tĩnh, Bình Thuẫn, Bà Rịa – Vũng Tàu, Lạng Sơn, Quảng Ninh, thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng…

[47] Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, UBND tỉnh Hòa Bình, Lào Cai, Bắc Giang, Hà Nam, Quảng Ninh, Phú Thọ, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Phước…

[48] Mang thai hộ được hiểu là dùng biện pháp kỹ thuật lấy trứng của người phụ nữ và tinh trùng của người đàn ông để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của một phụ nữ khác để nhờ người này mang thai hộ.

[49] Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Y tế, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, UBND tỉnh Quảng Ninh, Quảng Trị, Lào Cai, Yên Bái, Hà Nam, thành phố Hà Nội, Đà Nẵng…

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: