MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN HOÀN THIỆN TRONG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

NGUYỄN VÂN ANH – Sở KH&CN tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Để đẩy mạnh hoạt động khoa học và công nghệ (KH&CN) trong các doanh nghiệp nhằm hình thành một lực lượng KH&CN mới – doanh nghiệp KH&CN, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật, với nhiều cơ chế, chính sách khuyến khích các doanh nghiệp tham gia. Trong đó, phải kể đến là Nghị định số 80/2007/NĐ-CP ngày 19.5.2007 về doanh nghiệp KH&CN (Nghị định 80) cùng Thông tư 06/2008/TTLT-BKHCN-BTC-BNV ngày 18.6.2008 (Thông tư 06) hướng dẫn thi hành Nghị định 80. Trong bài viết dưới đây, tác giả đề cập đến một số vấn đề cần trao đổi, nhằm đề ra giải pháp phát triển lực lượng KH&CN mới này.

1.Chính sách khuyến khích phát triển doanh nghiệp KH&CN

Theo Thông tư 06, đối tượng được thành lập doanh nghiệp KH&CN được áp dụng cho mọi tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyền sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp các kết quả KH&CN. Kết quả KH&CN bao gồm kết quả của các chương trình, đề tài/dự án KH&CN; kết quả của các dự án nghiên cứu giải mã, làm chủ công nghệ được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền công nhận; các đối tượng sở hữu trí tuệ như các sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, giống cây trồng, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn đã được cấp văn bằng bảo hộ, chương trình máy tính.

Với các đối tượng được xem xét thành lập doanh nghiệp KH&CN như trên, không những khuyến khích các doanh nghiệp trong nước đầu tư nghiên cứu hoặc tiếp nhận các kết quả nghiên cứu để đổi mới công nghệ, mà còn khuyến khích các tổ chức và cá nhân nước ngoài đưa công nghệ mới, công nghệ nguồn vào Việt Nam thông qua con đường đầu tư, nhằm thu hẹp khoảng cách về trình độ công nghệ với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới.

Các doanh nghiệp KH&CN được hưởng những ưu đãi: được áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 10% kể từ khi được cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp KH&CN; được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong thời gian 4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo kể từ năm đầu tiên doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế; được miễn lệ phí trước bạ khi đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà; doanh nghiệp KH&CN có dự án thuộc đối tượng vay vốn tín dụng đầu tư phát triển được hưởng chính sách về tín dụng đầu tư phát triển theo quy định tại Nghị định 151/2006/NĐ-CP ngày 20.12.2006 của Chính phủ về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu, bao gồm: cho vay đầu tư, bảo lãnh tín dụng đầu tư, hỗ trợ sau đầu tư; doanh nghiệp KH&CN được hưởng các dịch vụ tư vấn, đào tạo từ các cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp của Nhà nước không phải trả phí dịch vụ; được ưu tiên sử dụng các trang thiết bị phục vụ nghiên cứu khoa học trong phòng thí nghiệm trọng điểm, cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu KH&CN của Nhà nước; hưởng các hỗ trợ ưu đãi từ Quỹ phát triển KH&CN quốc gia, Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia theo cơ chế tài chính của các Quỹ này; doanh nghiệp KH&CN được Ban quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu công nghệ cao cho thuê đất, cơ sở hạ tầng với mức giá thấp nhất trong khung giá cho thuê tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu công nghệ cao; được UBND các địa phương cho thuê đất, cơ sở hạ tầng với mức giá thấp nhất theo khung giá của Nhà nước tại địa phương nơi doanh nghiệp KH&CN thuê.

Có thể nói rằng, Nghị định 80 và Thông tư 06 đã tiếp thêm sức mạnh để nhân rộng mô hình doanh nghiệp KH&CN, nhằm phát triển thị trường công nghệ tại Việt Nam. Bên cạnh những chính sách ưu đãi tích cực được đề cập ở trên, còn một số vấn đề cần được xem xét chỉnh sửa, bổ sung cho hoàn thiện để phát triển loại hình doanh nghiệp này.

2. Một số vấn đề cần hoàn thiện trong chính sách phát triển

2.1.Về điều kiện được hưởng ưu đãi:

Nghị định 80 và Thông tư 06 quy định: doanh nghiệp KH&CN chỉ được hưởng ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp khi đáp ứng điều kiện: doanh nghiệp KH&CN có tỷ lệ doanh thu từ việc sản xuất, kinh doanh các sản phẩm hàng hóa hình thành từ kết quả KH&CN trên tổng doanh thu của doanh nghiệp (gọi tắt là doanh thu) trong năm thứ nhất đạt từ 30% trở lên, năm thứ hai đạt từ 50% trở lên và năm thứ ba trở đi đạt từ 70% trở lên. Trong thời gian được hưởng ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, năm nào doanh nghiệp KH&CN có đủ điều kiện về tỷ lệ doanh thu quy định thì được miễn hoặc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, năm nào không đạt điều kiện về tỷ lệ doanh thu thì không được miễn, giảm thuế và phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo mức thuế suất hiện hành.

Các quy định này nhằm buộc các doanh nghiệp không ngừng cải tiến, đổi mới công nghệ, nâng cao hàm lượng chất xám trong các sản phẩm để hạ giá thành sản phẩm, hoặc mang lại giá trị gia tăng cao hơn, nhưng lại chưa đồng bộ đối với quy định của Luật chuyển giao công nghệ (CGCN).

Theo các quy định của Luật CGCN, doanh nghiệp được hưởng các ưu đãi khi có các hoạt động sau:

– Cơ sở sản xuất, kinh doanh đầu tư xây dựng dây chuyền sản xuất mới, mở rộng quy mô, đổi mới công nghệ, cải thiện môi trường sinh thái, nâng cao năng lực sản xuất được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho phần thu nhập tăng thêm trong 4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 7 năm tiếp theo (Điều 44.4 Luật CGCN).

– Doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ có tiếp nhận công nghệ thuộc Danh mục công nghệ khuyến khích chuyển giao được miễn thuế thu nhập trong 4 năm với điều kiện tổng giá trị miễn thuế không vượt quá 50% tổng kinh phí đầu tư cho đổi mới công nghệ (Điều 44.5 Luật CGCN).

– Doanh nghiệp ở địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn khi thực hiện dự án đầu tư có tiếp nhận công nghệ được hưởng ưu đãi như sau: “Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 4 năm, kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo với điều kiện tổng giá trị miễn thuế không vượt quá tổng kinh phí đầu tư cho đổi mới công nghệ; miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hoá phục vụ việc thay thế, đổi mới công nghệ và nguyên liệu, vật tư, linh kiện dùng để sản xuất trong thời hạn 5 năm, kể từ khi bắt đầu sản xuất theo công nghệ mới” (Điều 44.6, Luật CGCN).

Theo Luật CGCN, việc hưởng ưu đãi trên hoàn toàn không phụ thuộc đến kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, hay là doanh thu của doanh nghiệp. Như vậy, câu hỏi đặt ra là, với các doanh nghiệp đã được cấp giấy chứng nhận là doanh nghiệp KH&CN mà không đạt tỷ lệ doanh thu theo quy định Nghị định 80 và Thông tư 06 thì có được hưởng ưu đãi theo quy định của Luật CGCN hay không?

Sự không đồng bộ trong chính sách trên giữa Nghị định 80, Thông tư 06 với Luật CGCN sẽ dẫn đến tình trạng, có doanh nghiệp thực hiện đổi mới công nghệ nếu được cấp giấy chứng nhận Doanh nghiệp KH&CN sẽ không được hưởng ưu đãi miễn giảm thuế (vì không đạt tỷ lệ doanh thu theo quy định), nhưng cũng doanh nghiệp đó nếu không xin cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp KH&CN lại được hưởng ưu đãi miễn giảm thuế theo quy định của Luật CGCN. Đồng thời cũng sẽ xảy ra tình huống, để được hưởng ưu đãi (do phải đảm bảo doanh thu theo tỷ lệ quy định), doanh nghiệp sẽ phải tách thành lập doanh nghiệp KH&CN con (gắn với phần đầu tư cho KH&CN). Như vậy vô hình chung việc ràng buộc về tỷ lệ doanh thu theo quy định hiện hành (Nghị định 80 và Thông tư 06) sẽ hạn chế quy mô phát triển của doanh nghiệp, đồng thời làm phát sinh thêm một bộ máy hành chính cồng kềnh từ việc thành lập doanh nghiệp con. Điều này sẽ hạn chế về hiệu quả kinh tế và xu thế phát triển của doanh nghiệp.

2.2. Sự kém hấp dẫn về ưu đãi so với một số ngành, lĩnh vực khác

Theo các văn bản quy định hiện hành thì các doanh nghiệp KH&CN chưa có những ưu đãi mà lẽ ra nó phải được hưởng vượt cao hơn hẳn so với các ngành nghề khác, bởi tính chất “then chốt”, “quốc sách hàng đầu” của KH&CN.

Nghị định 69/2008/NĐ-CP ngày 30.5.2008 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hoá, thể thao, môi trường (Nghị định 69), quy định: “Cơ sở thực hiện xã hội hóa có thu nhập từ hoạt động xã hội hóa được áp dụng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 10% trong suốt thời gian hoạt động. Cơ sở thực hiện xã hội hóa mới thành lập kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 4 năm, kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp trong 5 năm tiếp theo. Trường hợp cơ sở thực hiện xã hội hóa tại các địa bàn ưu đãi đầu tư được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 4 năm, kể từ khi có thu nhập chịu thuế, giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp trong 9 năm tiếp theo và được áp dụng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 10% trong suốt thời gian hoạt động” (Điều 8, Nghị định 69).

Như vậy, cũng bằng một phép so sánh, sẽ thấy ngay rằng, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trên cơ sở các kết quả đề tài/dự án nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (R&D) trong lĩnh vực khuyến khích thuộc Nghị định 69 (như môi trường chẳng hạn) cũng sẽ “chẳng dại gì” đi xin cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp KH&CN để phải chịu các ràng buộc về doanh thu. Có thể có ý kiến cho rằng, việc công nhận doanh nghiệp KH&CN trong trường hợp này không quan trọng, miễn sao, cốt lõi vấn đề là doanh nghiệp đã đầu tư cho KH&CN. Nhưng nên nhớ rằng, trong kinh doanh, thương hiệu của các doanh nghiệp rất quan trọng, làm sao để các doanh nghiệp có thương hiệu “KH&CN” phải thực sự khác biệt với doanh nghiệp cùng loại khác, như vậy mới huy động được nhiều doanh nghiệp khác cùng tham gia. Rõ ràng, với các cơ chế, chính sách ưu đãi hiện hành của Nghị định 80 và Thông tư 06, trong thực tiễn doanh nghiệp đã đầu tư KH&CN trong lĩnh vực ưu đãi thuộc Nghị định 69 sẽ chẳng hơn gì so với doanh nghiệp chỉ đơn thuần hoạt động trong lĩnh vực khuyến khích xã hội hóa của Nghị định 69 kể trên.

2.3.Liên quan đến chủ sở hữu của các kết quả đề tài/dự án R&D do Nhà nước đầu tư kinh phí

Hiện nay, cơ chế chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với các tổ chức/cá nhân ngoài công lập tham gia các đề tài/dự án R&D do nhà nước đầu tư đang còn bỏ ngỏ. Chính điều này tiếp thêm một rào cản đối với sự hình thành các doanh nghiệp KH&CN.

Theo Điều 40.1 Luật CGCN thì: “Nhà nước giao quyền chủ sở hữu công nghệ đối với kết quả nghiên cứu và phát triển công nghệ được tạo ra bằng ngân sách nhà nước cho tổ chức chủ trì nghiên cứu và phát triển công nghệ đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Điều khoản này, một thời được xác định là điểm mới của Luật CGCN Việt Nam vì mạnh dạn giao kết quả cho tổ chức chủ trì nghiên cứu và phát triển công nghệ để các tổ chức đẩy mạnh việc ứng dụng các kết quả vào cuộc sống. Tuy nhiên, khi Thông tư 06 ra đời, điểm mới trên coi như tạm dừng thực thi. Vì tại mục 4.2.a. Thông tư 06 quy định: “Kết quả KH&CN được tạo ra do ngân sách nhà nước cấp toàn bộ kinh phí để nghiên cứu thì thuộc sở hữu nhà nước; kết quả KH&CN được tạo ra do ngân sách nhà nước cấp một phần kinh phí để nghiên cứu thì Nhà nước là chủ sở hữu đối với phần giá trị kết quả KH&CN theo tỷ lệ vốn ngân sách nhà nước đã cấp”.

Việc giao kết quả KH&CN thuộc sở hữu nhà nước, Thông tư 06 (mục 4.4) chỉ quy định đối với trường hợp giao kết quả KH&CN cho tổ chức KH&CN công lập (hoặc bộ phận của tổ chức KH&CN công lập) thực hiện chuyển đổi để thành lập doanh nghiệp KH&CN. Khi đó, việc giao các kết quả này sẽ thực hiện theo một trong hai phương thức: giao quyền sở hữu hoặc giao quyền sử dụng. Đồng thời, Thông tư 06 cũng chỉ rõ: “Trong trường hợp giao quyền sử dụng kết quả KH&CN, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể giao cho một hoặc nhiều tổ chức KH&CN công lập sử dụng cùng một kết quả KH&CN. Kết quả KH&CN được ưu tiên giao cho tổ chức KH&CN chủ trì nghiên cứu, hình thành kết quả KH&CN đó” (mục 4.4.a, Thông tư 06).

Tại Hội nghị tập huấn xúc tiến giao dịch và hỗ trợ doanh nghiệp KH&CN do Bộ KH&CN tổ chức tại Bình Dương tháng 10.2012, một đại diện doanh nghiệp tư nhân tại Bạc Liêu cho biết, trước đây doanh nghiệp từng được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đầu tư kinh phí để thực hiện một đề tài khoa học. Sau khi đề tài kết thúc, kết quả nghiên cứu đã được nghiệm thu, doanh nghiệp đã nhiều lần xin ý kiến bằng văn bản xin phép Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn được sử dụng kết quả của đề tài để tiếp tục phát triển sản xuất, đồng thời làm các thủ tục xét công nhận doanh nghiệp KH&CN theo quy định. Tuy nhiên, hơn một năm nay, ý kiến phản hồi đối với văn bản này vẫn “trong vòng im lặng”, phải chăng điều này cũng xuất phát từ nguyên nhân được kể trên, khiến cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cũng như các Bộ/ ngành khác chưa thể có văn bản trả lời trước các ý kiến tương tự của doanh nghiệp. Đây cũng là điểm vướng mắc chung của các địa phương, khi muốn đẩy mạnh ứng dụng các kết quả R&D cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp ngoài nhà nước.

2.4.Thủ tục xác nhận kết quả KH&CN

Theo quy định của Thông tư 06, hồ sơ đăng ký chứng nhận doanh nghiệp KH&CN bao gồm: Giấy đề nghị chứng nhận doanh nghiệp KH&CN (theo mẫu); giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (bản sao có công chứng); dự án sản xuất, kinh doanh. Trong đó, nội dung dự án sản xuất, kinh doanh phải giải trình các nội dung: chứng minh việc sử dụng hoặc sở hữu hợp pháp các kết quả KH&CN kèm theo các văn bản xác nhận quyền sử dụng hoặc sở hữu hợp pháp các kết quả KH&CN; giải trình quá trình ươm tạo và làm chủ công nghệ từ các kết quả KH&CN có quyền sử dụng hoặc sở hữu hợp pháp; phương án sản xuất, kinh doanh trong đó nêu rõ các sản phẩm hàng hóa hình thành từ kết quả KH&CN và các điều kiện bảo đảm hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Vấn đề quy định trên là đúng nhưng chưa đủ, bởi các kết quả KH&CN nếu chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ công nghệ (sáng chế, giải pháp hữu ích, giống cây trồng…) thì các kết quả KH&CN đó phải được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận đó là các kết quả KH&CN. Những quy định liên quan đến thủ tục, nội dung, kinh phí để các cơ quan nhà nước xét công nhận đó là các kết quả KH&CN đang còn bỏ trống.

2.5. Thiếu các dịch vụ hỗ trợ để hình thành các doanh nghiệp KH&CN

Để giúp các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, giúp hàng hóa công nghệ lưu thông trên thị trường, một loại hình không thể thiếu đó là loại hình dịch vụ CGCN, như các tổ chức môi giới, tư vấn, đánh giá, định giá, giám định, xúc tiến CGCN. Loại hình dịch vụ này chính là những cầu nối giữa bên cung và cầu công nghệ thúc đẩy các doanh nghiệp KH&CN hình thành và phát triển. Tuy nhiên, Nghị định 80 và Thông tư 06 chưa đề cập đến phát triển loại hình dịch vụ này.

2.6. Thiếu sự hỗ trợ của các ngành liên quan

Trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, đi đôi với công nghệ mới, sẽ đòi hỏi các tiêu chuẩn, quy chuẩn mới liên quan đến việc sử dụng công nghệ đó. Đồng thời, theo quy định hiện hành, trước khi đưa công nghệ mới vào sử dụng phải được sự thẩm định và cho phép của các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền. Khi một công nghệ mới có tính chất liên ngành ra đời, nếu không có sự phối hợp, hợp tác của các ngành liên quan thì mọi kết quả đầu tư cho hoạt động KH&CN sẽ trở nên vô nghĩa, vì công nghệ mới đó “không có đất” để tồn tại.

Tại Bà Rịa – Vũng Tàu, năm 2012 một doanh nghiệp tự đầu tư nghiên cứu, thiết kế chế tạo, sản xuất thử nghiệm ca nô, tàu thuyền cỡ vừa và nhỏ bằng công nghệ, vật liệu mới PPC. Kết quả này đã được Hội đồng KH&CN của tỉnh đánh giá đây là một kết quả R&D, sản phẩm của doanh nghiệp này đã đạt Huy chương Vàng Techmart 2012 tại Hà Nội. Doanh nghiệp đã được cấp giấy chứng nhận là doanh nghiệp KH&CN. Tuy nhiên, doanh nghiệp hiện đang rất vất vả xin giấy chứng nhận đăng kiểm đối với tàu thuyền sử dụng vật liệu mới của cơ quan chức năng. Do vậy, cần có những quy định có tính chất liên ngành, quy định trách nhiệm của các cơ quan liên quan, hợp tác hỗ trợ cho doanh nghiệp có công nghệ mới, có giá trị cao sớm đưa vào sử dụng.

3. Những đề xuất, kiến nghị

Việc hình thành và phát triển các doanh nghiệp KH&CN đang là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta. Quyết định số 418/QĐ-TTg ngày 11.4.2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn 2011-2020 đã đặt ra mục tiêu: đến năm 2015 hình thành 3.000 doanh nghiệp KH&CN, đến năm 2020 hình thành 5.000 doanh nghiệp KH&CN. Trong Quyết định số 592/QĐ-TTg ngày 22.5.2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hỗ trợ phát triển doanh nghiệp KH&CN và tổ chức KH&CN công lập thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm cũng đã đặt mục tiêu “hình thành và phát triển 3.000 doanh nghiệp KH&CN; thành lập 100 cơ sở và đầu mối ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp KH&CN…”.

So sánh với mục tiêu cần đạt, nhìn chung số lượng doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp KH&CN của cả nước đang ở mức độ khiêm tốn[*]. Để đạt được mục tiêu nêu trên, xin đề xuất, kiến nghị một số vấn đề cụ thể sau:

– Cần xem xét điều chỉnh các chính sách ưu đãi đối với các doanh nghiệp KH&CN một cách đồng bộ, theo hướng tạo thêm nhiều điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp. Nên bỏ quy định liên quan đến tỷ lệ doanh thu các doanh nghiệp cần đạt sau khi được chứng nhận là doanh nghiệp KH&CN, vì chính điều này đã tạo ra sự kém hấp dẫn về ưu đãi so với các ngành nghề khác, và sự bất cập đối với các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến CGCN như đã đề cập ở trên.

– Ban hành cơ chế để mọi tổ chức/cá nhân tham gia các đề tài/dự án do Nhà nước đầu tư kinh phí được quyền sử dụng các kết quả KH&CN để dễ dàng làm các thủ tục chứng nhận doanh nghiệp KH&CN. Về quyền sở hữu các kết quả KH&CN này, cần có những thỏa thuận ngay trong hợp đồng R&D giữa cơ quan nhà nước và tổ chức/cá nhân thực hiện R&D.

-Ban hành những quy định liên quan đến thủ tục, nội dung, kinh phí để các cơ quan nhà nước xét công nhận kết quả KH&CN do doanh nghiệp thực hiện đầu tư.

– Bổ sung các tổ chức tham gia kinh doanh loại hình dịch vụ CGCN vào đối tượng được chứng nhận doanh nghiệp KH&CN để khuyến khích phát triển loại hình dịch vụ này.

– Hình thành Ban chỉ đạo phát triển doanh nghiệp KH&CN ở cấp Trung ương và địa phương để hỗ trợ giải quyết kịp thời các vấn đề liên quan đến cơ chế, chính sách, các thủ tục hành chính mang tính chất liên ngành cho doanh nghiệp KH&CN trong quá trình thành lập cũng như khi đi vào hoạt động.


[*] Tính đến thời điểm hiện nay, Tp Hồ Chí Minh có 8 doanh nghiệp, Bà Rịa – Vũng Tàu có 2 doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp KH&CN.

SOURCE: TẠP CHÍ THÔNG TIN KHOA HỌC CHÍNH TRỊ – HÀNH CHÍNH SỐ 1(13), NĂM 2013

BÀI ĐĂNG DƯỚI SỰ ĐỒNG Ý CỦA TÁC GIẢ

CÁC BẠN TRA CỨU BÀI VIẾT CÙNG TÁC GIẢ TẠI ĐÂY

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: