DỰ THẢO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH (được hợp nhất theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000) – Phiên bản lấy ý kiến các Bộ, ngành, địa phương và nhân dân

DỰ THẢO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

(được hợp nhất theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000)

(Phần có chữ in nghiêng là nội dung được sửa đổi, bổ sung)

LỜI NÓI ĐẦU

Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt.

Để đề cao vai trò của gia đình trong đời sống xã hội, giữ gìn và phát huy truyền thống và những phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, xóa bỏ những phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình;

Để nâng cao trách nhiệm của công dân, Nhà nước và xã hội trong việc xây dựng, củng cố chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam;

Kế thừa và phát triển pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam;

Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;

Luật này quy định chế độ hôn nhân và gia đình.

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Nhiệm vụ và phạm vi điều chỉnh của Luật hôn nhân và gia đình

Luật hôn nhân và gia đình có nhiệm vụ góp phần xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình tiến bộ, xây dựng chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của các thành viên trong gia đình, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững.

clip_image001Luật hôn nhân và gia đình quy định chế độ hôn nhân và gia đình, trách nhiệm của công dân, Nhà nước và xã hội trong việc xây dựng, củng cố chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam.

Điều 2. Những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình

1. Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng.

2. Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, các tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

3. Vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình.

4. Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con thành công dân có ích cho xã hội; con có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ; cháu có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, phụng dưỡng ông bà; các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau.

5. Truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam về hôn nhân và gia đình được kế thừa và phát huy.

6. Nhà nước và xã hội không thừa nhận sự phân biệt đối xử về giới và mọi sự phân biệt đối xử khác giữa các con trong gia đình.

7. Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, phụ nữ; giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ.

Điều 3. Trách nhiệm của Nhà nước và xã hội đối với hôn nhân và gia đình

1. Nhà nước có chính sách, biện pháp tạo điều kiện để các công dân nam, nữ xác lập hôn nhân tự nguyện, tiến bộ và gia đình thực hiện đầy đủ chức năng của mình; tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hôn nhân và gia đình; vận động nhân dân xóa bỏ phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình, phát huy truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc; xây dựng quan hệ hôn nhân và gia đình tiến bộ.

2. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giáo dục, vận động cán bộ, công chức, các thành viên của mình và mọi công dân xây dựng gia đình văn hóa; kịp thời hòa giải mâu thuẫn trong gia đình, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình.

3. Nhà trường phối hợp với gia đình trong việc giáo dục, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hôn nhân và gia đình cho thế hệ trẻ.

4. Chính phủ có trách nhiệm quản lý nhà nước về công tác gia đình; xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về gia đình; bình đẳng trong gia đình; phòng, chống bạo lực gia đình và các tệ nạn xã hội xâm nhập vào gia đình nhằm xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc.

Điều 4. Bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình

1. Quan hệ hôn nhân và gia đình thực hiện theo quy định của Luật này được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

2. Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; cấm kết hôn giả tạo, lừa dối để kết hôn, ly hôn; cấm cưỡng ép ly hôn, ly hôn giả tạo; cấm yêu sách của cải trong việc cưới hỏi.

Cấm người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ.

Cấm ngược đãi, hành hạ ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con, cháu, anh, chị em và các thành viên khác trong gia đình.

Cấm lợi dụng việc kết hôn, nhận cha, mẹ, con nhằm mục đích mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục hoặc vì mục đích trục lợi khác.

3. Mọi hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình phải được xử lý kịp thời, nghiêm minh, đúng pháp luật.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan khác có thẩm quyền có biện pháp kịp thời ngăn chặn và xử lý nghiêm minh đối với người có hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình.

Điều 5. Áp dụng quy định của Bộ luật dân sự

Các quy định của Bộ luật dân sự liên quan đến quan hệ hôn nhân và gia đình được áp dụng đối với quan hệ hôn nhân và gia đình trong trường hợp pháp luật về hôn nhân và gia đình không có quy định.

Điều 6. Áp dụng tập quán về hôn nhân và gia đình

1. Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì tập quán về hôn nhân và gia đình được áp dụng.

2. Trong trường hợp pháp luật có quy định, nhưng các bên tự nguyện thực hiện quyền, nghĩa vụ về hôn nhân và gia đình theo tập quán, thì việc áp dụng tập quán đó được công nhận.

3. Việc áp dụng tập quán quy định ở khoản 1 và 2 của Điều này chỉ được công nhận khi đảm bảo các điều kiện sau:

a) Tập quán được áp dụng khi không vi phạm các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình được quy định tại Điều 2 của Luật này và không vi phạm quy định về bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình quy định tại khoản 2 Điều 4 của Luật này;

b) Tập quán được áp dụng là tập quán được đông đảo người dân sinh sống trên cùng địa bàn, cùng dân tộc, cùng tôn giáo thừa nhận và chỉ có hiệu lực áp dụng trên địa bàn, trong nội bộ cộng đồng có tập quán đó.

Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ra Nghị quyết về việc công nhận những tập quán được áp dụng trên địa bàn.

4. Tòa án nhân dân tối cao phối hợp với Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng tập quán về hôn nhân và gia đình.

Điều 7. Áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài.

1. Các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được áp dụng đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, trừ trường hợp Luật này có quy định khác.

2. Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác với quy định của Luật này, thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế.

Điều 8. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Chế độ hôn nhân và gia đình là toàn bộ những quy định của pháp luật về kết hôn, ly hôn, nghĩa vụ và quyền giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con, giữa các thành viên khác trong gia đình, cấp dưỡng, xác định cha, mẹ, con, giám hộ giữa các thành viên trong gia đình, quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài và những vấn đề khác liên quan đến hôn nhân và gia đình;

2. Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn;

3. Kết hôn trái pháp luật là việc kết hôn được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên kết hôn vi phạm một trong các điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này;

4. Tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật;

5. Cưỡng ép kết hôn là hành vi buộc người khác phải kết hôn trái với nguyện vọng của họ;

6. Kết hôn giả tạo là việc kết hôn không nhằm xác lập quan hệ vợ chồng;

7. Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn;

8. Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân.

9. Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của hai vợ chồng hoặc của vợ, chồng;

10. Ly thân là tình trạng pháp lý, theo đó vợ chồng không có nghĩa vụ chung sống với nhau do cơ quan có thẩm quyền công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của hai vợ chồng hoặc của vợ, chồng;

11. Cưỡng ép ly hôn là hành vi buộc người khác phải ly hôn trái với nguyện vọng của họ;

12. Ly hôn giả tạo là việc ly hôn không nhằm chấm dứt quan hệ hôn nhân;

13. Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của Luật này;

14. Người thân thích bao gồm những người có quan hệ hôn nhân, nuôi dưỡng, người có cùng dòng máu về trực hệ và người có họ trong phạm vi ba đời;

15. Thành viên trong gia đình bao gồm vợ, chồng; cha, mẹ, con; ông bà nội, ông bà ngoại, cháu nội, cháu ngoại; anh, chị, em và những người khác được quy định tại các điều 38, 46b và 48a của Luật này;

16. Những người cùng dòng máu về trực hệ là những người có quan hệ huyết thống, trong đó người này sinh ra người kia kế tiếp nhau;

17. Những người có họ trong phạm vi ba đời là những người cùng một gốc sinh ra: cha mẹ là đời thứ nhất; anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh chị em con chú con bác, con cô con cậu, con dì là đời thứ ba;

18. Mang thai hộ là việc dùng biện pháp kỹ thuật lấy noãn của người phụ nữ và tinh trùng của người đàn ông để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của một phụ nữ khác để nhờ người này mang thai và sinh con mà không được trả thù lao;

19. Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, là người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, là người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của Luật này;

20. Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình có ít nhất một trong các bên tham gia là người nước ngoài, hoặc là các quan hệ hôn nhân và gia đình giữa các bên tham gia là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài.

Chương II

KẾT HÔN

Điều 9. Điều kiện kết hôn

Nam nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:

1.

Phương án 1: Nam, nữ từ đủ mười tám tuổi trở lên;

Phương án 2: Nam từ đủ hai mươi tuổi, nữ từ đủ mười tám tuổi trở lên;

2. Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở;

3. Nam, nữ không bị mất năng lực hành vi dân sự tại thời điểm kết hôn;

4. Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn quy định tại Điều 10 của Luật này..

Điều 10. Những trường hợp cấm kết hôn

Phương án 1:

Việc kết hôn bị cấm trong những trường hợp sau đây:

1. Người đang có vợ hoặc có chồng;

2. Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời.

3. Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.

Phương án 2:

Việc kết hôn bị cấm trong những trường hợp sau đây:

1. Người đang có vợ hoặc có chồng;

2. Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời.

3. Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.

4. Giữa những người cùng giới tính.

Điều 11. Đăng ký kết hôn

1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền (sau đây gọi là cơ quan đăng ký hộ tịch) thực hiện theo thẩm quyền, thủ tục quy định của pháp luật về hộ tịch.

2. Vợ chồng đã ly hôn muốn kết hôn lại với nhau cũng phải đăng ký kết hôn.

3. Trong trường hợp cơ quan đăng ký hộ tịch từ chối việc đăng ký kết hôn, các bên kết hôn có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật hoặc khởi kiện theo thủ tục tố tụng hành chính.

Điều 11a. Giải quyết kết hôn trái pháp luật

1. Việc xử hủy kết hôn trái pháp luật được Tòa án thực hiện theo quy định tại Điều này và các điều 15, 16 và 17 của Luật này.

2. Trong trường hợp tại thời điểm Tòa án giải quyết vụ việc mà cả hai bên kết hôn đã tuân thủ các điều kiện kết hôn quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 9 của Luật này và không vi phạm điều cấm quy định tại khoản 1 Điều 10 của Luật này thì việc kết hôn đó được công nhận.

3. Tòa án nhân dân tối cao phối hợp với Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành các quy định tại Điều này.

Điều 12. (bãi bỏ)

Điều 13. (bãi bỏ)

Điều 14. (bãi bỏ)

Điều 15. Người có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật

1. Bên bị cưỡng ép, bị lừa dối kết hôn theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền tự mình yêu cầu hoặc đề nghị cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật này.

2. Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do vi phạm quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 9 và Điều 10 của Luật này:

a) Vợ, chồng, cha, mẹ, con, người giám hộ của người kết hôn trái pháp luật;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình và trẻ em;

c) Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam.

Điều 16. Thẩm quyền hủy kết hôn trái pháp luật

1. Tòa án là cơ quan có thẩm quyền hủy kết hôn trái pháp luật.

2. Quyết định của Tòa án về hủy kết hôn trái pháp luật phải được gửi cho cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn; hai bên kết hôn trái pháp luật; cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

3. Căn cứ vào quyết định của Tòa án, cơ quan đăng ký hộ tịch xóa đăng ký kết hôn trong Sổ đăng ký kết hôn.

Điều 17. Hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật

1. Khi việc kết hôn trái pháp luật bị hủy thì hai bên kết hôn phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng.

2. Quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con được giải quyết theo quy định tại các điều 92, 92a, 93 và 94 của Luật này.

3. Quan hệ tài sản giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 17b của Luật này.

Điều 17a. Giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

1.Việc nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì không làm phát sinh quan hệ hôn nhân trước pháp luật.

2. Trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn tại cơ quan đăng ký hộ tịch thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn.

Điều 17b. Quan hệ tài sản giữa các bên nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

1. Trong trường hợp các bên có thỏa thuận về tài sản, thì quan hệ sở hữu về tài sản giữa họ được xác định theo thỏa thuận đó.

2. Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận về tài sản hoặc thỏa thuận bị Tòa án tuyên bố vô hiệu thì quan hệ sở hữu về tài sản giữa họ được giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự về sở hữu riêng và sở hữu chung theo phần.

Ưu tiên bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con.

Người thực hiện các công việc nội trợ trong quan hệ sống chung và chăm sóc con chung được tính công sức như người trực tiếp tạo lập tài sản trong thời gian sống chung.

3. Quan hệ nghĩa vụ, hợp đồng giữa các bên nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và giữa họ với người thứ ba được giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

4. Tòa án nhân dân tối cao phối hợp với Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành các quy định tại Điều này.

Điều 17c. Quyền, nghĩa vụ giữa các bên nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con

Quyền, nghĩa vụ giữa các bên nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con được giải quyết theo quy định tại Chương V của Luật này về quan hệ giữa cha mẹ và con; Chương VII của Luật này về xác định cha, mẹ, con, trừ quy định tại các điều 63c, 63d, 63đ và 63e của Luật này; quy định tại các điều 92, 92a, 93 và 94 của Luật này..

Điều 17d. Giải quyết hậu quả của việc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng giới tính

Quan hệ chung sống với nhau như vợ chồng giữa những người cùng giới tính được giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 17a, Điều 17b và Điều 17c của Luật này.

Chương III

QUAN HỆ GIỮA VỢ VÀ CHỒNG

Điều 18. Tình nghĩa vợ chồng

Vợ chồng chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững.

Điều 19. Bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng

Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có nghĩa vụ và quyền ngang nhau về mọi mặt trong gia đình.

Điều 20. Lựa chọn nơi cư trú của vợ, chồng

Nơi cư trú của vợ, chồng do vợ chồng lựa chọn, không bị ràng buộc bởi phong tục, tập quán, địa giới hành chính.

Vợ, chồng không được căn cứ vào quy định này để từ chối sống chung với nhau mà không có lý do chính đáng.

Điều 21. Tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng

1. Vợ, chồng tôn trọng và giữ gìn danh dự, nhân phẩm, uy tín cho nhau.

2. Cấm vợ, chồng có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của nhau.

Điều 22. Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng

Vợ, chồng tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhau; không được cưỡng ép, cản trở nhau theo hoặc không theo một tôn giáo nào.

Điều 23. Giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt

Vợ, chồng cùng bàn bạc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau chọn nghề nghiệp; học tập, nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ; tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội theo nguyện vọng và khả năng của mỗi người.

Điều 24. Căn cứ xác lập đại diện giữa vợ và chồng

1. Việc đại diện giữa vợ và chồng trong xác lập, thực hiện, chấm dứt các giao dịch được xác định tương ứng với chế độ tài sản mà vợ chồng đã lựa chọn theo quy định tại Điều 26a của Luật này.

2. Vợ, chồng có thể ủy quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt các giao dịch mà theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan phải có sự đồng ý của cả vợ chồng; việc ủy quyền phải được lập thành văn bản.

3. Vợ, chồng đại diện cho nhau khi một bên mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có đủ điều kiện làm người giám hộ hoặc khi một bên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà bên kia được Tòa án chỉ định làm người đại diện theo pháp luật cho người đó.

Vợ, chồng không có quyền đại diện cho nhau theo quy định tại khoản này trong các quan hệ về ly hôn và ly thân.

Điều 24a. Đại diện giữa vợ và chồng trong các quan hệ kinh doanh

Trong trường hợp pháp luật kinh doanh không có quy định khác và vợ chồng không có thỏa thuận khác thì vợ, chồng đang trực tiếp tham gia quan hệ kinh doanh là người đại diện hợp pháp của vợ chồng trong các quan hệ này.

Điều 24b. Đại diện giữa vợ và chồng trong trường hợp giấy chứng nhận sở hữu tài sản, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là tài sản chung nhưng chỉ ghi tên một bên vợ, chồng

1. Việc đại diện giữa vợ và chồng trong việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch liên quan đến tài sản chung có giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ ghi tên một bên vợ, chồng được thực hiện theo quy định tại Điều 24 của Luật này.

2. Trong trường hợp bên có tên trên các giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tự mình xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch với người thứ ba trái với quy định về đại diện giữa vợ và chồng của Luật này thì giao dịch đó vô hiệu, trừ trường hợp có đủ căn cứ xác định người thứ ba ngay tình theo quy định của Bộ luật dân sự.

Điều 25. Trách nhiệm liên đới của vợ, chồng đối với giao dịch do một bên thực hiện

Vợ hoặc chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch dân sự hợp pháp do một bên thực hiện theo quy định tại Điều 26đ của Luật này hoặc các giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các điều 24, 24a và 24b của Luật này.

Điều 26. Quan hệ hôn nhân khi một bên bị tuyên bố là đã chết mà trở về

1. Khi Tòa án ra quyết định hủy bỏ tuyên bố một người là đã chết theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật dân sự mà vợ hoặc chồng của người đó chưa kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân được khôi phục kể từ thời điểm kết hôn.

2. Trong trường hợp tài sản chung của vợ chồng chưa chia thì chế độ tài sản chung của vợ chồng được khôi phục kể từ thời điểm kết hôn, trừ khi vợ chồng có thỏa thuận khác.

3. Trong trường hợp tài sản chung của vợ chồng đã được chia trước khi người bị tuyên bố là đã chết lại trở về và phần tài sản của người bị tuyên bố là đã chết đã được chia cho những người thừa kế, thì quyền đối với tài sản đã chia được giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự.

Chế độ tài sản chung của vợ chồng được khôi phục kể từ thời điểm quyết định của Tòa án vể hủy tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật.

Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người đó đã kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân được xác lập sau có hiệu lực pháp luật.

Điều 26a. Áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng

1. Vợ chồng có quyền lựa chọn chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận hoặc theo luật định.

2. Chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định được áp dụng trong trường hợp vợ chồng không có thỏa thuận về xác lập chế độ tài sản hoặc thỏa thuận đó bị Tòa án tuyên bố vô hiệu.

Điều 26b. Các nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng

Chế độ tài sản của vợ chồng phải phù hợp với các nguyên tắc sau:

1. Vợ, chồng có nghĩa vụ đảm bảo những điều kiện vật chất cho nhu cầu thiết yếu của gia đình;

2. Lao động trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

3. Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong việc quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản chung; có quyền tự mình quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản riêng, trừ các trường hợp được quy định tại Luật này;

4. Việc thực hiện các quan hệ về tài sản của vợ chồng phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba;

5. Vợ, chồng vi phạm quy định về chế độ tài sản của vợ chồng thì phải bồi thường theo yêu cầu của bên kia.

Điều 26c. Nghĩa vụ đóng góp tài sản vào việc đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của gia đình

1. Trong trường hợp vợ chồng không có tài sản chung hoặc tài sản chung không đủ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì vợ, chồng có nghĩa vụ đóng góp tài sản riêng theo tỉ lệ căn cứ vào khả năng kinh tế của mỗi bên.

2. Bên không thực hiện nghĩa vụ quy định tại Khoản 1 Điều này có thể bị Tòa án buộc phải thực hiện nghĩa vụ theo yêu cầu của bên kia hoặc người có quyền, lợi ích liên quan.

Điều 26d. Giao dịch liên quan đến chỗ ở của vợ chồng

Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt các giao dịch liên quan đến nhà ở là nơi sinh sống duy nhất của vợ chồng thì phải có sự thỏa thuận của vợ chồng. Quy định này được áp dụng kể cả trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng hoặc nhà do một bên thuê trước khi kết hôn.

Điều 26đ. Quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng trong việc thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình

Một bên vợ, chồng có quyền thực hiện các giao dịch hợp pháp nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.

Điều 26e. Quyền, nghĩa vụ của vợ chồng trong việc quản lý tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán

1. Một bên vợ, chồng có quyền mở tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán nhân danh cá nhân mình mà không cần sự đồng ý của người kia.

2. Đối với người thứ ba, chủ tài khoản được coi là có quyền định đoạt những tài sản có trong tài khoản của họ.

3. Vợ, chồng là chủ tài khoản có nghĩa vụ thông báo cho người kia về các giao dịch đã được thực hiện liên quan đến tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng, trừ trường hợp giao dịch được thực hiện theo quy định tại Điều 26đ của Luật này.

Điều 26g. Giao dịch liên quan đến động sản không có đăng ký quyền sở hữu do một bên vợ, chồng chiếm hữu

Trong trường hợp một bên vợ, chồng đang chiếm hữu một động sản không có đăng ký quyền sở hữu mà xác lập giao dịch với người thứ ba ngay tình, thì bên vợ, chồng đó được coi là có quyền thực hiện giao dịch.

Điều 26h. Hiệu lực của các quy định chung

Các quy định từ Điều 26b đến Điều 26g của Luật này là quy định chung cho các cặp vợ chồng, không phụ thuộc vào chế độ tài sản mà vợ chồng đã lựa chọn.

Điều 26i. Thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng

1. Thỏa thuận về xác lập chế độ tài sản của vợ chồng phải được lập trước khi đăng ký kết hôn và chỉ có hiệu lực kể từ ngày đăng ký kết hôn.

2. Trong trường hợp có thỏa thuận về việc sửa đổi, bổ sung hoặc thay đổi chế độ tài sản trong thời kỳ hôn nhân, thời điểm có hiệu lực của những thỏa thuận đó được xác định theo quy định tại Điều 26m của Luật này.

Điều 26k. Nội dung cơ bản của chế độ tài sản theo thỏa thuận

1. Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng cần có các điều khoản cơ bản sau:

a) Thành phần của khối tài sản riêng, tài sản chung; tài sản để đảm bảo những điều kiện vật chất cho nhu cầu thiết yếu của gia đình;

b) Quyền, nghĩa vụ của vợ chồng trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản; xác lập, thực hiện, chấm dứt các giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu chung của gia đình và các giao dịch khác liên quan đến tài sản riêng, tài sản chung;

c) Thanh toán, phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài sản.

2. Trong trường hợp thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng không có quy định hoặc quy định không rõ ràng thì các quy định từ Điều 26b đến Điều 26g của Luật này và các quy định tương ứng của chế độ tài sản theo luật định được áp dụng.

Điều 26l. Thủ tục lập thỏa thuận và công bố về chế độ tài sản của vợ chồng

1. Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực. Căn cứ vào văn bản thỏa thuận đã được công chứng, chứng thực Cơ quan đăng ký hộ tịch ghi chú việc lập thỏa thuận về tài sản của vợ chồng vào Sổ bộ hộ tịch.

2. Trong trường hợp Sổ bộ hộ tịch không ghi chú việc các bên đã lập thỏa thuận về tài sản của vợ chồng, thì đối với người thứ ba, tài sản của vợ chồng được áp dụng theo chế độ tài sản theo luật định, trừ khi trong giao dịch ký kết với người thứ ba này, vợ chồng đã thông báo về việc họ có lập chế độ tài sản theo thỏa thuận.

3. Trong trường hợp vợ, chồng thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn vào doanh nghiệp thì khi đăng ký kinh doanh phải thông báo cho cơ quan có thẩm quyền đăng ký kinh doanh về việc họ đã xác lập chế độ tài sản theo thỏa thuận.

4. Chính phủ hướng dẫn thi hành các quy định tại Điều này.

Điều 26m. Sửa đổi, bổ sung hoặc thay đổi chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận

1.

Phương án 1:

Sau hai năm áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận, vợ chồng có quyền thoả thuận sửa đổi, bổ sung hoặc thay đổi chế độ tài sản đó.

Phương án 2:

Vợ chồng có quyền thoả thuận sửa đổi, bổ sung hoặc thay đổi chế độ tài sản theo thỏa thuận.

2. Thỏa thuận về sửa đổi, bổ sung hoặc thay đổi chế độ tài sản của vợ chồng phải tuân theo những quy định của Điều 26l của Luật này và phải được thông báo cho người có quyền, lợi ích liên quan. Trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày nhận được thông báo về việc sửa đổi, bổ sung hoặc thay đổi chế độ tài sản của vợ chồng, những người này có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố thỏa thuận của vợ chồng vô hiệu theo các căn cứ được quy định tại Điều 26n của Luật này.

Nếu vi phạm nghĩa vụ thông báo thì thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hoặc thay đổi chế độ tài sản chỉ có hiệu lực đối với hai vợ chồng.

3. Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hoặc thay đổi chế độ tài sản của vợ chồng có hiệu lực kể từ ngày văn bản thỏa thuận được công chứng, chứng thực. 

Đối với người thứ ba, việc sửa đổi, bổ sung hoặc thay đổi chế độ tài sản của vợ chồng chỉ có hiệu lực kể từ ngày việc sửa đổi, bổ sung hoặc thay đổi này được ghi chú trong Sổ bộ hộ tịch; quyền, nghĩa vụ tài sản phát sinh trước thời điểm này vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Điều 26n. Các trường hợp thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu

Thỏa thuận của vợ chồng về chế độ tài sản bị Tòa án tuyên bố vô hiệu trong những trường hợp sau:

1. Không tuân thủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch được quy định trong Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vi phạm các quy định từ Điều 26b đến Điều 26g của Luật này.

3. Nội dung của thỏa thuận vi phạm nghiêm trọng đến quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và những người khác có liên quan.

4. Chính phủ hướng dẫn các quy định tại Điều này.

Điều 26o. Áp dụng chế độ tài sản theo luật định

Chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định bao gồm các quy định từ Điều 27 đến Điều 33c và các quy định về quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng khi ly hôn, ly thân của Luật này.

Chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định được áp dụng trong trường hợp vợ chồng không thỏa thuận về xác lập chế độ tài sản hoặc thỏa thuận đó bị Tòa án tuyên bố vô hiệu.

Điều 27. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, kể cả hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản riêng của mỗi bên; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp quyền sử dụng đất mà vợ,chồng được tặng cho riêng, được thừa kế riêng hoặc quyền sử dụng đất có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất.

2. Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung.

Điều 27a. Đăng ký sở hữu đối với tài sản chung của vợ chồng

Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì vợ chồng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền ghi tên cả hai vợ chồng trong Giấy chứng nhận quyền sở hữu, Giấy chứng nhận quyền sử dụng.

Trong trường hợp Giấy chứng nhận quyền sở hữu, Giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên một bên vợ hoặc chồng mà có tranh chấp thì giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều 27 của Luật này. Việc thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản này theo quy định tại Điều 24b của Luật này.

Điều 28. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung

1. Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chi dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình, việc dùng tài sản chung để đầu tư kinh doanh phải được vợ chồng bàn bạc, thỏa thuận, trừ trường hợp được quy định tại Điều 24a của Luật này và tài sản chung đã được chia để đầu tư kinh doanh riêng theo quy định tại khoản 2 Điều 30 của Luật này.

Điều 28a. Tài sản chung được đưa vào kinh doanh

Trong trường hợp vợ chồng thỏa thuận về việc một bên sử dụng tài sản chung vào kinh doanh thì người này có quyền tự mình thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản chung đó trong kinh doanh.

Điều 28b. Nghĩa vụ tài sản chung của vợ chồng

Nghĩa vụ tài sản chung của vợ chồng bao gồm:

1. Nghĩa vụ do vợ chồng cùng xác lập, thực hiện;

2. Nghĩa vụ do một bên thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu chung của gia đình;

3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;

4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc quản lý tài sản riêng mà tài sản này được sử dụng cho nhu cầu chung của gia đình hoặc tài sản riêng được khai thác để  làm lợi cho khối tài sản chung;

5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra theo quy định của Bộ luật dân sự.

6. Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

Điều 29. Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

1. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung nếu việc chia không thuộc các trường hợp được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 30b của Luật này.

2. Thỏa thuận của vợ chồng về chia tài sản chung phải lập thành văn bản có chữ ký của vợ chồng. Nếu tài sản được chia là tài sản mà pháp luật quy định giao dịch liên quan đến tài sản đó phải được công chứng, đăng ký thì thỏa thuận của vợ chồng phải tuân theo hình thức đó.

3. Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng như khi ly hôn.

4. Trong trường hợp chia tài sản chung liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba thì phải thông báo cho người thứ ba.

Điều 30. Hiệu lực của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

1. Trong trường hợp văn bản thoả thuận chia tài sản chung của vợ chồng không xác định rõ thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản thì hiệu lực được tính từ ngày lập văn bản.

Trong trường hợp văn bản thoả thuận chia tài sản chung của vợ chồng phải công chứng, đăng ký theo quy định của pháp luật thì hiệu lực được tính từ ngày văn bản đó được công chứng, đăng ký.

Trong trường hợp văn bản thoả thuận chia tài sản chung của vợ chồng được công chứng, chứng thực đăng ký theo yêu cầu của vợ chồng thì hiệu lực được tính từ ngày xác định trong văn bản thoả thuận; nếu văn bản không xác định ngày có hiệu lực thì hiệu lực được tính từ ngày văn bản được công chứng, chứng thực đăng ký.

Trong trường hợp Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng thì việc chia tài sản chung có hiệu lực kể từ ngày bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật.

Việc chia tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực đối với người thứ ba kể từ ngày được thông báo. Quyền, nghĩa vụ tài sản phát sinh trước thời điểm này vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

2. Trong trường hợp vợ chồng không có thỏa thuận khác thì những tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ hoặc chồng trong thời kỳ hôn nhân; hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng thuộc sở hữu riêng của mỗi người. Phần tài sản chung chưa chia; hoa lợi, lợi tức của những tài sản này và những tài sản mà vợ chồng được tặng cho chung, được thừa kế chung thuộc sở hữu chung của vợ chồng.

3. Sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, nếu vợ chồng không có thỏa thuận khác thì việc bảo đảm các điều kiện vật chất cho nhu cầu thiết yếu của gia đình được áp dụng theo các quy định tại Điều 26c của Luật này.

Điều 30a. Chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

1. Sau khi chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Hình thức của thỏa thuận theo quy định tại khoản 2 Điều 29 của Luật này.

2. Kể từ ngày văn bản thỏa thuận về chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có hiệu lực thì tài sản của vợ chồng được xác định theo quy định tại Điều 27 và Điều 32 của Luật này.

3. Thỏa thuận của vợ chồng về chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân phải được thông báo cho người thứ ba có liên quan. Thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân có hiệu lực đối với người thứ ba kể từ ngày được thông báo. Quyền, nghĩa vụ tài sản phát sinh trước thời điểm này vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Điều 30b. Các trường hợp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu

Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp sau:

1. Việc chia tài sản chung ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình; quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

2. Việc chia tài sản chung nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ sau:

a) Nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng;

b) Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại;

c) Nghĩa vụ thanh toán khi bị Tòa án tuyên bố phá sản doanh nghiệp;

d) Nghĩa vụ trả nợ cho người khác;

đ) Nghĩa vụ nộp thuế hoặc nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước;

e) Các nghĩa vụ khác về tài sản theo quy định của pháp luật.

Điều 31. Quyền của vợ, chồng trong trường hợp một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết

1. Khi vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản.

2. Khi có yêu cầu về chia di sản, tài sản chung của vợ chồng được chia đôi. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế.

3. Trong trường hợp việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên vợ hoặc chồng còn sống và gia đình thì bên còn sống có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 686 của Bộ luật dân sự.

4. Quyền đối với tài sản của vợ chồng trong kinh doanh khi vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được thực hiện theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 của Điều này, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác.

Điều 32. Tài sản riêng của vợ, chồng

Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ, chồng có được trong thời kỳ hôn nhân thông qua giao dịch bằng tài sản riêng; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại Điều 29 và Điều 30 của Luật này; đồ dùng, tư trang phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng.

Điều 33. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng

1. Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình, trừ trường hợp được quy định tại khoản 2 và khoản 5 Điều này. Vợ, chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không ủy quyền cho người khác quản lý thì bên kia có quyền quản lý tài sản đó.

3. Nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó.

4. Trong trường hợp tài sản chung không đủ để đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của gia đình thì vợ, chồng có nghĩa vụ đóng góp tài sản riêng để đáp ứng các nhu cầu đó.

5. Trong trường hợp tài sản riêng của vợ hoặc chồng mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản riêng đó phải được sự thỏa thuận của cả vợ chồng.

Điều 33a. Nghĩa vụ tài sản riêng của vợ, chồng

Nghĩa vụ tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm:

1. Nghĩa vụ của mỗi bên vợ, chồng có trước khi kết hôn hoặc gắn liền với quyền thừa kế tài sản của mỗi bên trong thời kỳ hôn nhân;

2. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp được quy định tại khoản 5 Điều 33 của Luật này;

3. Nghĩa vụ phát sinh từ các giao dịch do một bên xác lập, thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu riêng của vợ, chồng;

4. Nghĩa vụ phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật của vợ, chồng.

Điều 33b. Nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung

1. Việc nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung được thực hiện theo thỏa thuận của hai vợ chồng và có hiệu lực kể từ thời điểm thỏa thuận.

2. Đối với tài sản mà pháp luật quy định giao dịch phải được công chứng, chứng thực hoặc đăng ký thì thỏa thuận của vợ chồng phải tuân theo hình thức này và có hiệu lực từ thời điểm văn bản thỏa thuận được công chứng hoặc đăng ký.

3. Nếu không có thỏa thuận khác thì những nghĩa vụ liên quan đến tài sản được nhập vào tài sản chung được thực hiện bằng tài sản chung.

Điều 33c. Quyền sở hữu chung của vợ chồng trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình

1. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình thì tài sản chung của vợ chồng được xác định theo thỏa thuận giữa vợ chồng và các chủ sở hữu tài sản của gia đình. Trong trường hợp không thỏa thuận được thì tài sản chung của vợ chồng được xác định căn cứ vào công sức đóng góp của họ vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung, vào đời sống chung của gia đình. Lao động trong gia đình được coi như lao động có thu nhập.

2. Vợ chồng có nghĩa vụ đóng góp thu nhập vào việc đáp ứng những nhu cầu chung của gia đình.

Điều 33d. Bảo hộ quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con

1. Con sinh ra không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của cha mẹ đều có những quyền và nghĩa vụ như nhau đối với cha mẹ của mình được quy định trong Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Giữa con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi có các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con được quy định ở Luật này, Luật nuôi con nuôi, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

3. Thỏa thuận của cha mẹ về nhân thân và tài sản không được vi phạm các quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

CHƯƠNG IV.

QUAN HỆ GIỮA CHA MẸ VÀ CON

Điều 34. Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ

Cha, mẹ có các nghĩa vụ và quyền sau đây:

1. Thương yêu, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập và giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội;

2. Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình; giám hộ cho con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự;

3. Không được phân biệt đối xử giữa các con, ngược đãi, hành hạ, xúc phạm con; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên; không được xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

Điều 35. Nghĩa vụ và quyền của con

Con có các nghĩa vụ và quyền sau đây:

1. Được cha mẹ tôn trọng, thực hiện các quyền, lợi ích hợp pháp về nhân thân và tài sản theo quy định của pháp luật;

2. Có bổn phận yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo, phụng dưỡng cha mẹ, giữ gìn danh dự, truyền thống tốt đẹp của gia đình;

3. Có quyền sống chung với cha mẹ khi chưa thành niên, đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình; được cha mẹ thương yêu, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc; được học tập và giáo dục; được phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức;

Con chưa thành niên tham gia công việc gia đình phù hợp với lứa tuổi và không trái với các quy định của pháp luật về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em;

4. Khi đã thành niên, con có quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, nơi cư trú, học tập, nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ; tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội theo nguyện vọng và khả năng của mình. Khi sống cùng với cha mẹ, con có nghĩa vụ tham gia công việc gia đình, lao động, sản xuất, tạo thu nhập nhằm bảo đảm đời sống chung của gia đình;

5. Được hưởng quyền về tài sản tương xứng với công sức đóng góp vào tài sản của gia đình.

6. Không được có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm cha, mẹ.

Điều 36. Nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng

1. Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

2. Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ ốm đau, già yếu, tàn tật; trong trường hợp gia đình có nhiều con thì các con phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ.

Điều 37. Nghĩa vụ và quyền giáo dục con

1. Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền giáo dục con, chăm lo và tạo điều kiện cho con học tập.

Cha mẹ tạo điều kiện cho con được sống trong môi trường gia đình đầm ấm, hòa thuận; làm gương tốt cho con về mọi mặt; phối hợp chặt chẽ với nhà trường và các tổ chức xã hội trong việc giáo dục con.

2. Cha mẹ hướng dẫn con chọn nghề; tôn trọng quyền chọn nghề, quyền tham gia hoạt động xã hội của con.

3. Khi gặp khó khăn không thể tự giải quyết được, cha mẹ có thể đề nghị cơ quan, tổ chức hữu quan giúp đỡ để thực hiện việc giáo dục con.

Điều 38. Nghĩa vụ và quyền của bốợng, mẹ kế và con riêng của vợ hoặc của chồng

1. Bố dượng, mẹ kế có nghĩa vụ và quyền trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con riêng của bên kia cùng sống chung với mình theo quy định tại các điều 34, 36 và 37 của Luật này.

2. Con riêng có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, phụng dưỡng bố dượng, mẹ kế cùng sống chung với mình theo quy định tại Điều 35 và Điều 36 của Luật này.

3. Bố dượng, mẹ kế và con riêng của vợ hoặc của chồng không được ngược đãi, hành hạ, xúc phạm nhau.

4. Bố dượng, mẹ kế, con riêng của vợ hoặc của chồng đã thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ được quy định tại khoản 1, 2 và 3 của Điều này thì được thừa kế di sản của nhau như giữa cha mẹ và con.

Điều 39. Đại diện cho con

1. Cha mẹ là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, trừ trường hợp con có người khác làm giám hộ hoặc có người khác đại diện theo pháp luật.

2. Cha hoặc mẹ có quyền tự mình thực hiện các giao dịch đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình.

3. Đối với các giao dịch liên quan đến tài sản có giá trị lớn của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự thì phải có sự thỏa thuận của cha mẹ, trừ trường hợp cha mẹ có thỏa thuận về việc cử một trong hai người làm người đại diện. Thỏa thuận của cha mẹ về việc đại diện cho con trong xác lập, thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản có đăng ký sở hữu, tài sản đầu tư, kinh doanh phải được lập thành văn bản.

4. Cha, mẹ phải chịu trách nhiệm liên đới về việc đại diện cho con trong xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản của con được quy định ở khoản 2, 3 của Điều này.

Điều 40. Bồi thường thiệt hại do con gây ra

Cha mẹ phải bồi thường thiệt hại do con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự gây ra theo quy định tại Điều 611 của Bộ luật dân sự.

Điều 41. Hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên

Khi cha, mẹ đã bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; phá tán tài sản của con; có lối sống đồi truỵ, xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội thì tùy từng trường hợp cụ thể Tòa án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 42 của Luật này ra quyết định không cho cha, mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con hoặc đại diện theo pháp luật cho con trong thời hạn từ một năm đến năm năm. Tòa án có thể xem xét việc rút ngắn thời hạn này.

Điều 42. Người có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên

1. Cha, mẹ, người giám hộ của con chưa thành niên theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

2. Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên:

a) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình và trẻ em;

b) Hội liên hiệp phụ nữ.

Điều 43. Hậu quả pháp lý của việc cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên

1. Trong trường hợp một trong hai người là cha hoặc mẹ bị Tòa án hạn chế một số quyền đối với con chưa thành niên thì người kia thực hiện quyền trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con và đại diện theo pháp luật cho con.

2. Việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con và quản lý tài sản riêng của con chưa thành niên được giao cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự và Luật này trong các trường hợp sau:

a) Cha và mẹ đều bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên;

b) Một bên cha, mẹ không bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên nhưng không đủ điều kiện để thực hiện quyền, nghĩa vụ đối với con;

c) Chưa xác định được bên cha, mẹ còn lại của con chưa thành niên.

3. Cha, mẹ đã bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên vẫn phải thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng con.

Điều 44. Quyền có tài sản riêng của con

1. Con có quyền có tài sản riêng. Tài sản riêng của con bao gồm tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng, thu nhập do lao động của con, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của con và các thu nhập hợp pháp khác.

2. Con từ đủ mười lăm tuổi trở lên sống chung với cha mẹ có nghĩa vụ chăm lo đời sống chung của gia đình; nếu có thu nhập thì đóng góp vào các nhu cầu thiết yếu của gia đình.

3. Con đã thành niên sống cùng cha mẹ có nghĩa vụ đóng góp thu nhập vào việc đáp ứng nhu cầu chung của gia đình phù hợp với khả năng của mình.

Điều 45. Quản lý tài sản riêng của con

1. Con từ đủ mười lăm tuổi trở lên có thể tự mình quản lý tài sản riêng hoặc nhờ cha mẹ quản lý.

2. Tài sản riêng của con dưới mười lăm tuổi, con mất năng lực hành vi dân sự thì do cha mẹ quản lý. Cha mẹ có thể ủy quyền cho người khác quản lý tài sản riêng của con.

3. Cha mẹ không quản lý tài sản riêng của con trong trường hợp người tặng cho tài sản hoặc để lại tài sản thừa kế theo di chúc cho người con đã chỉ định người khác quản lý tài sản đó hoặc những trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

4. Tài sản của con do cha mẹ quản lý được giao lại cho con khi con có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp cha mẹ và con có thỏa thuận khác.

5. Trong trường hợp con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự được giao cho người khác giám hộ thì tài sản của con do cha mẹ quản lý được giao lại cho người giám hộ.

Điều 46. Định đoạt tài sản riêng của con chưa thành niên

1. Trong trường hợp cha mẹ quản lý tài sản riêng của con dưới mười lăm tuổi thì có quyền định đoạt tài sản đó vì lợi ích của con, có tính đến nguyện vọng của con, nếu con từ đủ chín tuổi trở lên.

2. Con từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi có quyền định đoạt tài sản riêng; nếu định đoạt tài sản có giá trị lớn hoặc dùng tài sản để đầu tư, kinh doanh thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của cha mẹ.

Điều 46a. Nghĩa vụ và quyền của cha nuôi, mẹ nuôi và con nuôi

1. Cha nuôi, mẹ nuôi, con nuôi có nghĩa vụ và quyền của cha, mẹ, con được quy định trong Luật này kể từ thời điểm quan hệ nuôi con nuôi được xác lập theo quy định của pháp luật về nuôi con nuôi và chấm dứt các quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con được quy định trong Luật này kể từ thời điểm quyết định của Tòa án về việc chấm dứt nuôi con nuôi có hiệu lực pháp luật.

2. Nghĩa vụ và quyền của cha đẻ, mẹ đẻ và con đã làm con nuôi của người khác được thực hiện theo quy định của pháp luật nuôi con nuôi.

3. Quan hệ giữa cha đẻ, mẹ đẻ và con đẻ được phục hồi kể từ thời điểm quan hệ nuôi con nuôi chấm dứt trước pháp luật. Trong trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ không còn hoặc không có đủ điều kiện để nuôi con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự thì Tòa án giải quyết việc chấm dứt nuôi con nuôi chỉ định người giám hộ cho con theo quy định của Bộ luật dân sự.

Điều 46b. Nghĩa vụ và quyền của con dâu, con rể, bố mẹ vợ, bố mẹ chồng

1. Trong trường hợp con dâu, con rể sống chung với bố mẹ chồng, bố mẹ vợ thì giữa các bên có các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con được quy định tại các điều 34, 35, 36, 38, 39 của Luật này.

2. Trong trường hợp sống chung, con dâu, con rể, bố mẹ chồng, bố mẹ vợ có nghĩa vụ đóng góp thu nhập vào việc đáp ứng nhu cầu chung của gia đình; tham gia công việc gia đình, lao động, sản xuất phù hợp với điều kiện thực tế của mình và gia đình; được hưởng quyền về tài sản tương xứng với công sức đóng góp vào tài sản của gia đình.

3. Con dâu, con rể và các thành viên trong gia đình không được phân biệt đối xử, ngược đãi, hành hạ, xúc phạm nhau.

4. Trong trường hợp giữa con dâu, con rể và bố mẹ chồng, bố mẹ vợ đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ như cha mẹ và con thì được thừa kế di sản của nhau như giữa cha mẹ và con.

CHƯƠNG V.

QUAN HỆ GIỮA ÔNG BÀ NỘI, ÔNG BÀ NGOẠI VÀ CHÁU; GIỮA ANH, CHỊ, EM VÀ GIỮA CÁC THÀNH VIÊN TRONG GIA ĐÌNH

Điều 47. Nghĩa vụ và quyền của ông bà nội, ông bà ngoại và cháu

1. Ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ và quyền trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu, sống mẫu mực và nêu gương tốt cho con cháu. Trong trường hợp cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có người nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 48 của Luật này thì ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu.

2. Cháu có bổn phận kính trọng, chăm sóc, phụng dưỡng ông bà nội, ông bà ngoại.

Điều 48. Nghĩa vụ và quyền của anh, chị, em

Anh, chị, em có bổn phận thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau; có nghĩa vụ và quyền đùm bọc, nuôi dưỡng nhau trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có điều kiện trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con.

Điều 48a. Nghĩa vụ và quyền của cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột

Cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột có bổn phận thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau; có nghĩa vụ và quyền đùm bọc, nuôi dưỡng nhau trong trường hợp cháu ruột không còn cha, mẹ, con và những người được quy định tại các điều 38, 46b, 47 và 48 của Luật này hoặc còn những người này nhưng không có đủ điều kiện để trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Điều 49. Quan hệ giữa các thành viên trong gia đình

1. Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản chung.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chi dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3.Việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình, việc dùng tài sản chung để đầu tư kinh doanh phải được vợ chồng bàn bạc, thỏa thuận, trừ tài sản chung đã được chia để đầu tư kinh doanh riêng theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Luật này.

CHƯƠNG VI

CẤP DƯỠNG

Điều 50. Nghĩa vụ cấp dưỡng

1. Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con, giữa anh chị em với nhau, giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu, giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột, giữa vợ và chồng theo quy định của Luật này.

Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác.

2. Trong trường hợp người có nghĩa vụ nuôi dưỡng mà trốn tránh nghĩa vụ đó thì buộc phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng được quy định tại Luật này.

Điều 51. Một người cấp dưỡng cho nhiều người

Trong trường hợp một người cấp dưỡng cho nhiều người thì người cấp dưỡng và những người được cấp dưỡng thỏa thuận với nhau về phương thức và mức cấp dưỡng phù hợp với thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của những người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Điều 52. Nhiều người cùng cấp dưỡng cho một người hoặc cho nhiều người

Trong trường hợp nhiều người cùng có nghĩa vụ cấp dưỡng cho một người hoặc cho nhiều người thì những người này thỏa thuận với nhau về phương thức và mức đóng góp phù hợp với thu nhập, khả năng thực tế của mỗi người và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Điều 53. Mức cấp dưỡng

1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Điều 54. Phương thức thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng

Việc cấp dưỡng có thể được thực hiện định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần.

Các bên có thể thỏa thuận thay đổi phương thức cấp dưỡng, tạm ngừng cấp dưỡng trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế mà không có khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Điều 55. Người có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng

1. Người được cấp dưỡng, cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó.

2. Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó:

a) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình và trẻ em;

b) Hội liên hiệp phụ nữ.

Điều 56. Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con

Cha hoặc mẹ không sống chung hoặc sống chung nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Mức cấp dưỡng cho con do cha, mẹ thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Điều 57. Nghĩa vụ cấp dưỡng của con đối với cha mẹ

Con đã thành niên không sống chung với cha mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Điều 58. Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa anh, chị, em

1. Trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để cấp dưỡng cho con thì anh, chị đã thành niên không sống chung với em có nghĩa vụ cấp dưỡng cho em chưa thành niên không có tài sản để tự nuôi mình hoặc em đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

2. Em đã thành niên không sống chung với anh, chị có nghĩa vụ cấp dưỡng cho anh, chị không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Điều 59. Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu

1. Ông bà nội, ông bà ngoại không sống chung với cháu có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu trong trường hợp cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không có người cấp dưỡng theo quy định tại Điều 58 của Luật này.

2. Cháu đã thành niên không sống chung với ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ cấp dưỡng cho ông bà nội, ông bà ngoại trong trường hợp ông bà không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không có người khác cấp dưỡng theo quy định của Luật này.

Điều 59a. Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột

1. Cô, dì, chú, cậu, bác ruột không sống chung với cháu ruột có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu trong trường hợp cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có người khác cấp dưỡng theo quy định của Luật này.

2. Cháu đã thành niên không sống chung với cô, dì, chú, cậu, bác ruột có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cô, dì, chú, cậu, bác ruột trong trường hợp cô, dì, chú, cậu, bác ruột mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có người khác cấp dưỡng theo quy định của Luật này.

Điều 60. Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn

Khi ly hôn, nếu bên khó khăn, túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lý do chính đáng thì bên kia có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình.

Điều 61. Chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng

Nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt trong các trường hợp sau đây:

1. Người được cấp dưỡng đã thành niên và có khả năng lao động;

2. Người được cấp dưỡng có thu nhập hoặc tài sản để tự nuôi mình;

3. Người được cấp dưỡng được nhận làm con nuôi;

4. Người cấp dưỡng đã trực tiếp nuôi dưỡng người được cấp dưỡng;

5. Người cấp dưỡng hoặc người được cấp dưỡng chết;

6. Bên được cấp dưỡng sau khi ly hôn đã kết hôn với người khác;

7. Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Điều 62. Khuyến khích việc trợ giúp của tổ chức, cá nhân

Nhà nước và xã hội khuyến khích các tổ chức, cá nhân trợ giúp bằng tiền hoặc tài sản khác cho các gia đình, cá nhân có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, túng thiếu.

CHƯƠNG VII

XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON

Điều 63. Xác định cha, mẹ

1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ đó là con chung của vợ chồng.

Trong trường hợp con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ ngày hôn nhân chấm dứt thì người chồng đã ly hôn hoặc đã chết được xác định là cha.

Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận cũng là con chung của vợ chồng.

2. Khoản 1 Điều này cũng được áp dụng trong trường hợp xác định cha, mẹ cho con khi vợ, chồng ly thân.

3. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định.

Điều 63a. Xác định cha, mẹ trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

1. Trong trường hợp người vợ mang thai và sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì việc xác định cha, mẹ được áp dụng theo quy định tại Điều 63 của Luật này.

2. Trong trường hợp người phụ nữ sống độc thân mang thai và sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì người phụ nữ đó là mẹ của con được sinh ra, trừ trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo quy định tại Điều 63c của Luật này.

3. Việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không làm phát sinh quan hệ cha, mẹ và con giữa người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi với người con được sinh ra.

Điều 63b. Điều kiện về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

1. Việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản phải được thực hiện tại tổ chức y tế có thẩm quyền.

2. Chỉ các cặp vợ chồng vô sinh hoặc phụ nữ sống độc thân từ đủ 20 tuổi đến 45 tuổi mới có quyền sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa; có đủ sức khỏe để thụ thai, mang thai và sinh đẻ, không mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS, bệnh tâm thần, bệnh truyền nhiễm hay các bệnh di truyền khác.

3. Người cho tinh trùng, cho noãn là người đã đủ tuổi kết hôn theo quy định của Luật này và không quá 35 tuổi đối với nữ, 55 tuổi với nam; có đầy đủ năng lực hành vi dân sự;có đủ sức khỏe để thụ thai, mang thai và sinh đẻ, không mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS, bệnh tâm thần, bệnh truyền nhiễm hay các bệnh di truyền khác.

4. Việc cho và nhận tinh trùng, noãn, cho và nhận phôi được thực hiện trên nguyên tắc bí mật.

5. Việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản phải có thỏa thuận bằng văn bản của các bên có liên quan.

6. Tinh trùng, noãn và phôi của người cho chỉ có thể được sử dụng cho một người.

7. Cấm áp dụng sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản trong các trường hợp sau:

a)Mang thai hộ vì mục đích thương mại;

b) Sinh sản vô tính;

c) Lợi dụng sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản để nhằm mục đích mua bán trẻ em.

8. Chính phủ quy định chi tiết về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.

Điều 63c. Xác định cha, mẹ trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

1. Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được áp dụng đối với những cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.

2. Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải tuân thủ các điều kiện do Luật này, pháp luật về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.

3. Con sinh ra trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là con chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ.

4. Trong trường hợp mang thai hộ không tuân thủ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này thì người mang thai hộ là mẹ của con được sinh ra.

5. Chính phủ quy định chi tiết về mang thai hộ.

Điều 63d. Điều kiện về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

1. Vợ chồng có quyền nhờ người phụ nữ khác mang thai hộ khi có đủ các điều kiện sau:

a) Có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản;

b) Vợ chồng chưa có con chung;

c) Việc mang thai hộ phải được thực hiện qua việc thụ tinh trong ống nghiệm bằng sự kết hợp giữa noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng;

d)

Phương án 1: Người được nhờ mang thai hộ phải là người có quan hệ thân thích của vợ hoặc chồng nhờ mang thai hộ; từ đủ 20 tuổi đến 45 tuổi; có đủ sức khỏe để thụ thai, mang thai và sinh đẻ, không mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS, bệnh tâm thần, bệnh truyền nhiễm hay các bệnh di truyền khác.

Phương án 2: Người được nhờ mang thai hộ phải là người có quan hệ thân thích của vợ hoặc chồng nhờ mang thai hộ. Trong trường hợp không có người thân thích để mang thai hộ thì vợ chồng có thể nhờ người phụ nữ khác mang thai hộ.

Người được nhờ mang thai hộ phải là người từ đủ 20 tuổi đến 45 tuổi; có đủ sức khỏe để thụ thai, mang thai và sinh đẻ, không mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS, bệnh tâm thần, bệnh truyền nhiễm hay các bệnh di truyền khác.

đ) Việc mang thai hộ phải có thỏa thuận bằng văn bản giữa các bên: hai vợ chồng nhờ mang thai hộ (sau đây gọi là bên nhờ mang thai hộ), người phụ nữ mang thai hộ và tổ chức y tế thực hiện việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.

Trong trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có hôn nhân thì phải có thỏa thuận bằng văn bản của người chồng đồng ý cho vợ mình thực hiện việc mang thai hộ.

e) Việc mang thai hộ không vì lợi ích kinh tế của cả hai bên.

2. Chính phủ hướng dẫn chi tiết các quy định tại Điều này.

Điều 63đ. Quyền, nghĩa vụ của người mang thai hộ

1. Người mang thai hộ, vợ chồng người mang thai hộ (sau đây gọi là bên mang thai hộ) có quyền, nghĩa vụ như cha mẹ hợp pháp của đứa trẻ từ lúc bắt đầu mang thai cho đến khi giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ.

Bên mang thai hộ không có quyền yêu cầu bên nhờ mang thai hộ hỗ trợ tài sản hoặc thu nhập cho việc mang thai, kể cả hỗ trợ cho việc chăm sóc thai.

2. Trong trường hợp vì lý do chính đáng phù hợp với quy định của Bộ Y tế trong chăm sóc sức khỏe sinh sản, người phụ nữ mang thai hộ có quyền quyết định về việc tiếp tục hay không tiếp tục mang thai hộ.

3. Bên mang thai hộ phải thực hiện đúng cam kết về việc giao con cho bên nhờ mang thai hộ.

Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ chậm tiếp nhận con theo cam kết thì bên mang thai hộ có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con đến khi bên nhờ mang thai hộ nhận con.

4. Kể từ thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ, giữa bên mang thai hộ và đứa trẻ sẽ không có các quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con, trừ trường hợp giữa bên nhờ mang thai hộ và bên mang thai hộ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

5. Bên mang thai hộ có nghĩa vụ tôn trọng bí mật đời tư, các quyền riêng tư khác, danh dự, nhân phẩm, uy tín của bên nhờ mang thai hộ.

Điều 63e. Quyền, nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ

1. Bên nhờ mang thai hộ có nghĩa vụ hợp tác, tôn trọng quyền của bên mang thai hộ được quy định tại khoản 1, 2 Điều 63đ của Luật này.

2. Quan hệ cha mẹ và con giữa bên nhờ mang thai hộ và con sinh ra từ việc mang thai hộ được xác lập từ thời điểm bên nhờ mang thai hộ nhận con.

3. Bên nhờ mang thai hộ phải thực hiện đúng cam kết về việc nhận con từ người mang thai hộ.

4. Bên nhờ mang thai hộ có nghĩa vụ tôn trọng bí mật đời tư, các quyền riêng tư khác, danh dự, nhân phẩm, uy tín của bên mang thai hộ.

Điều 63g. Giải quyết tranh chấp liên quan đến việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

1. Tòa án là cơ quan có thẩm quyền xem xét và quyết định các tranh chấp về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.

2. Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ không còn hoặc không có đủ điều kiện để nhận con thì bên mang thai hộ là cha mẹ của con sinh ra từ mang thai hộ. Nếu bên mang thai hộ cũng không đủ điều kiện để nuôi con thì Tòa án chỉ định người giám hộ cho con theo quy định của Bộ luật dân sự.

Điều 64. Xác định con

Người không được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó là con mình.

Người được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó không phải là con mình.

Điều 65. Quyền nhận cha, mẹ

1. Con có quyền nhận cha, mẹ của mình, kể cả trong trường hợp cha, mẹ đã chết.

2. Con đã thành niên nhận cha, không đòi hỏi phải có sự đồng ý của mẹ; nhận mẹ, không đòi hỏi phải có sự đồng ý của cha.

Điều 65a. Quyền nhận con

Cha, mẹ có quyền nhận con, kể cả trong trường hợp con đã chết.

Điều 65b. Nhận cha, mẹ, con trong trường hợp người có yêu cầu chết

1. Trong trường hợp con có yêu cầu nhận cha, mẹ mà sau đó chết, nếu cha, mẹ không tự nguyện nhận con thì người thân thích của con có quyền yêu cầu nhận cha, mẹ cho người đã chết.

2. Trong trường hợp cha, mẹ có yêu cầu nhận con mà sau đó chết, nếu con không tự nguyện nhận cha, mẹ thì người thân thích của cha, mẹ có quyền yêu cầu nhận con cho người đã chết.

Điều 66. Người có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ, con

1. Cha, mẹ, con theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự có quyền yêu cầu Tòa án xác định con, cha, mẹ, trừ trường hợp việc nhận con, cha, mẹ không có tranh chấp được quy định tại khoản 1, 2 Điều 63 của Luật này.

2. Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền yêu cầu Tòa án xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự; xác định con cho cha, mẹ mất năng lực hành vi dân sự:

a) Cha, mẹ, con, người giám hộ;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình và trẻ em;

c) Hội liên hiệp phụ nữ.

Điều 66a. Thẩm quyền giải quyết việc nhận, xác định cha, mẹ, con

1. Việc nhận cha, mẹ, con được quy định tại các khoản 1, 2 Điều 63 của Luật này mà không có tranh chấp được thực hiện tại Cơ quan đăng ký hộ tịch.

2. Tòa án có thẩm quyền xác định cha, mẹ, con trong trường hợp được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 63 của Luật này mà có tranh chấp và các trường hợp nhận cha, mẹ, con được quy định tại các điều 63a, 63c và 65b của Luật này.

Quyết định của Tòa án về xác định cha, mẹ, con phải được gửi cho cơ quan đăng ký hộ tịch; các bên trong quan hệ xác định cha, mẹ, con; các cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Cơ quan đăng ký hộ tịch căn cứ vào quyết định của Tòa án ghi chú việc xác định cha, mẹ, con theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

Chương IX

NUÔI CON NUÔI (đã được bãi bỏ theo Luật Nuôi con nuôi năm 2010e)

Chương IX

GIÁM HỘ GIỮA CÁC THÀNH VIÊN TRONG GIA ĐÌNH (bãi bỏ, đã được quy định trong BLDS)

Chương X

LY HÔN

Điều 85. Quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn.

2. Trong trường hợp vợ có thai hoặc đang nuôi con dưới mười hai tháng tuổi thì chồng không có quyền yêu cầu xin ly hôn.

Điều 86. Khuyến khích hòa giải ở cơ sở

1. Nhà nước và xã hội khuyến khích việc hòa giải ở cơ sở khi vợ, chồng có yêu cầu ly hôn. Việc hòa giải được thực hiện theo quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở.

2. Tòa án không được từ chối thụ lý yêu cầu ly hôn của vợ chồng vì lý do chưa thực hiện hòa giải ở cơ sở.

Điều 87. Thụ lý đơn yêu cầu ly hôn

Tòa án thụ lý đơn yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 11 của Luật này; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 17 của Luật này.

Điều 88. (Bãi bỏ)

Điều 89. (Bãi bỏ)

Điều 90 được sửa đổi, bổ sung như sau:

Phương án 1:

“Điều 90. Thuận tình ly hôn

1. Cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền xác nhận việc thuận tình ly hôn trong trường hợp vợ chồng không có tranh chấp về con chung và tài sản chung.

Cơ quan đăng ký hộ tịch xác nhận thuận tình ly hôn của vợ chồng theo thủ tục được quy định trong pháp luật hộ tịch.

Chính phủ hướng dẫn chi tiết quy định này.

2. Tòa án có thẩm quyền giải quyết thuận tình ly hôn không thuộc quy định tại khoản 1 Điều này.”

Phương án 2:

“Điều 90. Thuận tình ly hôn

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và không có tranh chấp về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận về tài sản và con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con; nếu không thỏa thuận được hoặc tuy có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án quyết định.”

Điều 91. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Tòa án có thẩm quyền giải quyết ly hôn theo yêu cầu của một bên vợ, chồng.

2. Trong trường hợp vợ, chồng yêu cầu ly hôn, nếu hòa giải không thành hoặc không hòa giải được thì Tòa án quyết định cho ly hôn và giải quyết về tài sản, con của họ, nếu có một trong những căn cứ sau:

a) Vợ, chồng vi phạm thường xuyên, nghiêm trọng các nghĩa vụ của vợ, chồng;

b) Vợ, chồng không sống chung từ 2 năm trở lên mà không có lý do chính đáng;

c) Hôn nhân ở tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

d) Vợ, chồng bị Tòa án tuyên bố mất tích.

3. Trường hợp một bên vợ, chồng có yêu cầu ly hôn trong thời gian vợ chồng ly thân thì Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 99đ của Luật này.

Điều 91a. Hiệu lực và thời điểm có hiệu lực của ly hôn

1. Ly hôn làm chấm dứt quan hệ vợ chồng.

2. Việc ly hôn có hiệu lực kể từ ngày việc thuận tình ly hôn được cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền xác nhận hoặc từ ngày quyết định, bản án cho ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Việc ly hôn phải được ghi chú vào Số bộ hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

Điều 91b. Tôn trọng và bảo vệ bí mật đời tư, quyền riêng tư, danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng trong giải quyết ly hôn

Cơ quan có thẩm quyền giải quyết ly hôn và các cá nhân, tổ chức khác có liên quan có nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ bí mật đời tư, các quyền riêng tư khác, danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ chồng.

Điều 92. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ đối với con chưa thành niên hoặc con đã thành niên bị mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định từ Điều 34 đến Điều 46a của Luật này, quy định của Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ chín tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ các trường hợp sau:

a) Cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con;

b) Người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con và người cha có đủ các điều kiện này;

4. Trong trường hợp cha và mẹ đều không đủ điều kiện trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì con được giao cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.

Điều 92a. Quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ trực tiếp nuôi con

1. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 94 của Luật này.

2. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, cấp dưỡng và giáo dục con.

Điều 93. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn do Tòa án quyết định.

2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được áp dụng trong các trường hợp sau:

a) Cha mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện để nuôi con.

3. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ chín tuổi trở lên.

4. Cha, mẹ có quyền yêu cầu Tòa án quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

5. Trong trường hợp có căn cứ để thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định tại điểm b khoản 2 của Điều này thì căn cứ vào lợi ích của con, các cá nhân, tổ chức sau có quyền yêu cầu về việc thay đổi người nuôi con:

a) Người thân thích;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình và trẻ em;

c) Hội liên hiệp phụ nữ.

6. Trong trường hợp có yêu cầu theo quy định khoản 4 và 5 của Điều này, nếu xét thấy cả hai bên cha mẹ đều không đủ điều kiện để nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.

Điều 94. Quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Điều 95. Nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn

1. Việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó.

2. Việc chia tài sản chung được giải quyết theo các nguyên tắc sau đây:

a) Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi.

b) Có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên; đóng góp tài sản, công sức của mỗi bên vào khối tài sản chung; Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

b) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch.

3. Việc thanh toán nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng do vợ, chồng thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Trong trường hợp vợ chồng xác lập chế độ tài sản theo thỏa thuận thì việc chia tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó.

Điều 95a. Thực hiện nghĩa vụ tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Quyền, nghĩa vụ tài sản đối với người thứ ba phát sinh trong thời kỳ hôn nhân vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Trong trường hợp có tranh chấp về thực hiện nghĩa vụ tài sản thì áp dụng quy định tại Điều 28b, Điều 33a của Luật này và quy định của Bộ luật dân sự để giải quyết.

2. Trong trường hợp cần áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời về thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 104 Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án trích một phần tài sản chung của vợ chồng để thực hiện nghĩa vụ.

Điều 96. Chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn

Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn thì quyền tài sản của vợ chồng được giải quyết theo quy định tại Điều 33c và Điều 95 của Luật này.

Điều 97. Chia quyền sử dụng đất của vợ, chồng khi ly hôn

1. Quyền sử dụng đất riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó.

2. Việc chia quyền sử dụng đất chung của vợ chồng khi ly hôn được thực hiện như sau:

a) Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, nếu cả hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì được chia theo thỏa thuận của hai bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 95 của Luật này.

Trong trường hợp chỉ một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì bên đó được tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị quyền sử dụng đất mà họ được hưởng;

b) Trong trường hợp vợ chồng có quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản chung với hộ gia đình thì khi ly hôn phần quyền sử dụng đất của vợ chồng được tách ra và chia theo quy định tại điểm a khoản này;

c) Đối với đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở thì được chia theo quy định tại Điều 95 của Luật này;

d) Việc chia quyền sử dụng đối với các loại đất khác được thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật dân sự.

3. Trong trường hợp vợ, chồng sống chung với gia đình mà không có quyền sử dụng đất chung với hộ gia đình thì khi ly hôn quyền lợi của bên không có quyền sử dụng đất và không tiếp tục sống chung với gia đình được giải quyết theo quy định tại Điều 96 của Luật này.

Điều 98. Chia nhà ở thuộc sở hữu chung của vợ chồng

Trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu chung của vợ chồng có thể chia để sử dụng thì khi ly hôn được chia theo quy định tại Điều 95 của Luật này; nếu không thể chia được thì bên được tiếp tục sử dụng nhà ở phải thanh toán cho bên kia phần giá trị mà họ được hưởng.

Điều 99. Giải quyết quyền lợi của vợ, chồng khi ly hôn trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của một bên

Trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của một bên đã được đưa vào sử dụng chung thì khi ly hôn, nhà ở đó vẫn thuộc sở hữu riêng của chủ sở hữu nhà, nhưng phải thanh toán cho bên kia một nửa chi phí đã dùng vào việc nâng cấp, cải tạo, sửa chữa nhà.

Điều 99a. Chia tài sản chung của vợ chồng trong kinh doanh

Trong trường hợp pháp luật kinh doanh không có quy định khác và vợ, chồng không có thỏa thuận khác thì bên vợ, chồng đang thực hiện các hoạt động kinh doanh liên quan đến tài sản chung có quyền sở hữu tài sản kinh doanh đó nhưng phải thanh toán cho bên kia một nửa giá trị của tài sản. Việc định giá tài sản được thực hiện tại thời điểm phân chia tài sản.

Điều 99b. Giải quyết yêu cầu ly thân của vợ chồng

Phương án 1:

1. Vợ chồng hoặc vợ, chồng có quyền yêu cầu ly thân.

2. Các quy định về giải quyết yêu cầu ly hôn từ khoản 2 Điều 85 đến Điều 91 của Luật này được áp dụng trong giải quyết yêu cầu ly thân.

Trong trường hợp một bên có yêu cầu ly hôn và bên kia có yêu cầu ly thân thì Tòa án thụ lý giải quyết cả yêu cầu về ly thân và ly hôn. Sau khi xem xét quan hệ hôn nhân giữa các bên, lợi ích của gia đình, đặc biệt lợi ích của các con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình, Tòa án quyết định ly hôn hoặc ly thân.

3. Việc ly thân có hiệu lực kể từ ngày việc thuận tình ly thân được cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền xác nhận hoặc từ ngày quyết định, bản án cho ly thân của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Việc ly thân phải được ghi chú vào Số bộ hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch”.

Phương án 2:

“1. Vợ chồng có quyền yêu cầu ly thân theo thỏa thuận.

2. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết thuận tình ly thân theo quy định tại Điều 90 của Luật này.

3. Việc ly thân có hiệu lực kể từ ngày việc thuận tình ly thân được cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền xác nhận hoặc từ ngày quyết định, bản án cho ly thân của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Việc ly thân phải được ghi chú vào Số bộ hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

Điều 99c. Hiệu lực của ly thân

1. Ly thân không làm chấm dứt quan hệ vợ chồng, nhưng vợ chồng chấm dứt nghĩa vụ sống chung.

2. Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con trong thời kỳ ly thân được áp dụng theo quy định tại các điều 92, 92a, 93 và 94 của Luật này.

3. Kể từ ngày việc ly thân có hiệu lực, vợ, chồng có quyền sở hữu riêng đối với những tài sản mà mỗi bên có được và chịu trách nhiệm riêng về những nghĩa vụ mà mình xác lập, thực hiện.

Trong trường hợp vợ chồng yêu cầu về chia tài sản chung có trước ngày việc ly thân có hiệu lực thì tòa án giải quyết theo các nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn.

4. Việc cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly thân theo quy định tại Điều 60 của Luật này.

5. Trong trường hợp một bên vợ hoặc chồng chết, người kia có quyền thừa kế tài sản của người chết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

6. Quyền, nghĩa vụ tài sản đối với người thứ ba phát sinh trước thời điểm ly thân vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Điều 99d. Chấm dứt ly thân

1. Ly thân chấm dứt theo thỏa thuận của vợ và chồng.

2. Khi ly thân chấm dứt, chế độ tài sản trong ly thân vẫn có hiệu lực, trừ khi vợ chồng có thỏa thuận khác.

Điều 99đ. Giải quyết yêu cầu ly hôn trong thời gian vợ chồng ly thân

1. Trong thời gian ly thân, vợ, chồng vẫn có quyền yêu cầu ly hôn theo quy định tại Điều 85 của Luật này.

2. Trường hợp một bên vợ, chồng có yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn. Trong trường hợp vợ chồng thuận tình ly hôn thì giải quyết theo Điều 90 của Luật này.

3. Quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con trong thời gian ly thân vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp có căn cứ về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng cho con khi ly hôn theo quy định tại Điều 56 và Điều 93 của Luật này.

4. Tòa án nhân dân tối cao phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành quy định tại Điều này.

Chương XI

QUAN HỆ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Điều 100. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

1. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được tôn trọng và bảo vệ phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia.

2. Trong quan hệ hôn nhân và gia đình với công dân Việt Nam, người nước ngoài tại Việt Nam được hưởng các quyền và có nghĩa vụ như công dân Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác.

3. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài trong quan hệ hôn nhân và gia đình phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật của nước sở tại, pháp luật và tập quán quốc tế.

4. Các quy định của Chương này cũng được áp dụng đối với quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài.

Điều 101. Áp dụng pháp luật nước ngoài đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

Trong trường hợp Luật này, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam có quy định hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia viện dẫn thì pháp luật nước ngoài được áp dụng, nếu việc áp dụng đó không trái với các nguyên tắc quy định trong Luật này.

Trong trường hợp pháp luật nước ngoài dẫn chiếu trở lại pháp luật Việt Nam thì áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam.

Điều 102. Thẩm quyền giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

1. Thẩm quyền đăng ký hộ tịch liên quan đến các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được áp dụng theo quy định của Luật Hộ tịch.

2. Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hủy việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con, về nhận cha, mẹ, con có yếu tố nước ngoài, xem xét việc công nhận hoặc không công nhận bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác của nước ngoài theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam.

Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi cư trú của công dân Việt Nam hủy việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi và giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam.

Điều 102a. Hợp pháp hoá lãnh sự giấy tờ, tài liệu về hôn nhân và gia đình

Giấy tờ, tài liệu về hôn nhân và gia đình do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài lập, cấp hoặc xác nhận phải được hợp pháp hoá lãnh sự khi sử dụng ở Việt Nam, trừ trường hợp được miễn hợp pháp hóa lãnh sự theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo nguyên tắc có đi có lại.

Điều 103. Kết hôn có yếu tố nước ngoài

1. Trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn; nếu việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài còn phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn.

2. Việc kết hôn giữa những người nước ngoài với nhau tại Việt Nam trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn.

3. Thủ tục kết hôn tuân theo pháp luật nơi tiến hành kết hôn. Trong trường hợp các bên tiến hành kết hôn trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thì thủ tục kết hôn tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Điều 104. Ly hôn, ly thân có yếu tố nước ngoài

1. Việc ly hôn, ly thân giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam được giải quyết theo quy định của Luật này.

2. Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú tại Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn, ly thân thì việc ly hôn, ly thân được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì theo pháp luật Việt Nam.

3. Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn, ly thân tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó.

Điều 104a. Điều kiện nhận cha, mẹ, con có yếu tố nước ngoài

1. Việc nhận cha, mẹ, con giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa công dân Việt Nam với nhau mà ít nhất một bên định cư ở nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau mà ít nhất một bên thường trú tại Việt Nam theo quy định tại Luật này được thực hiện, nếu bên nhận và bên được nhận còn sống vào thời điểm nộp hồ sơ, việc nhận cha, mẹ, con là tự nguyện và không có tranh chấp về việc nhận cha, mẹ, con.

2. Trong trường hợp người được nhận là con chưa thành niên thì phải có sự đồng ý của người đang là mẹ hoặc cha, trừ trường hợp người đó đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự. Nếu con chưa thành niên từ đủ chín tuổi trở lên thì việc nhận cha, mẹ, con phải có sự đồng ý của người con đó.

3. Con đã thành niên nhận cha không phải có sự đồng ý của mẹ, nhận mẹ không phải có sự đồng ý của cha.

4. Trường hợp con chưa thành niên nhận cha thì mẹ làm thủ tục nhận cha cho con, nhận mẹ thì cha làm thủ tục cho con. Trường hợp con chưa thành niên nhận cha mà người mẹ đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc nhận mẹ mà người cha đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự thì người giám hộ làm thủ tục nhận cha hoặc nhận mẹ cho con.

Điều 104b. Xác định cha, mẹ, con có yếu tố nước ngoài

Tòa án Việt Nam giải quyết việc nhận cha, mẹ, con có yếu tố nước ngoài theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam.

Điều 104c. Nghĩa vụ cấp dưỡng có yếu tố nước ngoài

Nghĩa vụ cấp dưỡng tuân theo pháp luật mà người yêu cầu cấp dưỡng cư trú. Trường hợp người yêu cầu cấp dưỡng không có nơi cư trú thì áp dụng pháp luật mà người yêu cầu cấp dưỡng là công dân.

Cơ quan có thẩm quyền giải quyết đơn yêu cầu cấp dưỡng của những người nói tại Khoản 1 Điều này là cơ quan của nước nơi người yêu cầu cấp dưỡng cư trú.

Điều 105. Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

1. Người nước ngoài xin nhận trẻ em Việt Nam hoặc nhận trẻ em nước ngoài thường trú tại Việt Nam làm con nuôi phải tuân theo quy định của Luật này và quy định trong pháp luật của nước mà người đó là công dân về điều kiện nhận nuôi con nuôi.

Việc công dân Việt Nam nhận trẻ em là người nước ngoài làm con nuôi đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì được công nhận tại Việt Nam.

Nghiêm cấm lợi dụng việc nuôi con nuôi để bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục, mua bán trẻ em hoặc vì mục đích trục lợi khác.

2. Trong trường hợp việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được thực hiện tại Việt Nam thì quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, việc chấm dứt nuôi con nuôi được xác định theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được thực hiện tại nước ngoài thì quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, việc chấm dứt nuôi con nuôi được xác định theo pháp luật của nước nơi thường trú của con nuôi.

Điều 106. (Bãi bỏ)

Chương XII

XỬ LÝ VI PHẠM (bãi bỏ)

Chương XIII

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

SOURCE: BỘ TƯ PHÁP

TẢI TOÀN VĂN DỰ THẢO TẠI ĐÂY

CÁC BẠN CÓ THỂ TRA CỨU DỰ THẢO LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA

LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000 TẠI ĐÂY

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: