QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG VÀNG VIỆT NAM TỪ PHẢN ỨNG CỦA THỊ TRƯỜNG ĐỐI VỚI SỰ THAY ĐỔI CỦA CÁC CHÍNH SÁCH TRONG GIAI ĐOẠN 2011 – 2013

TS. NGUYỄN ĐỨC TRUNG – Viện Nghiên cứu khoa học ngân hàng, Học viện Ngân hàng

Cùng với xu thế biến động của thế giới, thời gian gần đây, thị trường vàng Việt Nam chứng kiến một số biến động bất thường về giá cả, cơ cấu và hoạt động thị trường. Hiện tượng “vàng hóa” quay trở lại từ năm 2008 và lượng vàng dự trữ trong dân vẫn chưa thể được xác định một cách chính xác. Các cơ quan quản lý phải đối diện với nhiều thách thức khi đưa ra các chính sách và biện pháp can thiệp thị trường. Bên cạnh đó, nhiều quan điểm cho rằng vẫn tồn tại mối quan hệ khá phức tạp giữa thị trường vàng trong nước và thế giới cũng như thị trường vàng với thị trường ngoại tệ. Trước tình hình trên, bài nghiên cứu này tập trung vào nội dung “Phân tích và đo lường các tác động của các chính sách quản lý thị trường vàng giai đoạn 2011-2015 đối với thị trường vàng Việt Nam cũng như việc đảm bảo thực hiện các mục tiêu đề ra của cơ quan quản lý vĩ mô”.

Xét dọc theo chiều dài lịch sử, giai đoạn 2011 – 2013 có thể coi như mốc thời gian quan trọng nhất đối với hoàn chỉnh các chính sách về quản lý thị trường vàng của Việt Nam. Cụ thể, năm 2011, NHNN chính thức ban hành Thông tư 11/2011/TT-NHNN (về việc chấm dứt huy động và cho vay vốn bằng vàng của TCTD) với mục tiêu loại trừ vàng khỏi hệ thống tín dụng và không cho phép sử dụng nó làm phương tiện dẫn vốn. Theo đó, kể từ 01/05/2011, các TCTD không được thực hiện cho vay, huy động vốn bằng vàng, mà chỉ được phát hành chứng chỉ ngắn hạn bằng vàng để chi trả theo yêu cầu của khách hàng và hoạt động này cũng sẽ chấm dứt vào 01/05/2012. Tiếp đó, Nghị định 95/2011/NÐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 202/2004/NÐ-CP ngày 10/12/2004 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng được ban hành (theo đó, tăng tất cả các mức phạt đối với các vi phạm về hoạt động kinh doanh vàng). Năm 2012, Nghị định số 24/2012/NÐ-CP ngày 03/04/2012 về quản lý hoạt động kinh doanh vàng và Thông tư số 16/2012/TT-NHNN ngày 25/5/2012 hướng dẫn một số điều của Nghị định 24 đã được ban hành với mục tiêu đảm bảo sự ổn định và minh bạch của thị trường cũng như việc quản lý thị trường vàng đi kèm với quản lý các biến số kinh tế vĩ mô như tỷ giá và lạm phát. Năm 2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 16/2013/QÐ-TTg, NHNN ban hành Thông tư 06/2013/TT-NHNN, Quyết định 563/QÐ-NHNN nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý trong việc mua bán vàng miếng, là tiền đề cho các giải pháp bình ổn thị trường vàng trong nước thông qua việc bình ổn cung cầu.

Vậy, thị trường đã phản ứng như thế nào khi các văn bản pháp quy trên đã thực sự có hiệu lực?

1. Thị trường vàng trong nước dần hướng tới sự ổn định mặc dù giá vàng thế giới biến động mạnh

Ngày 29/04/2011, NHNN ban hành Thông tư số 11/2011/TT-NHNN quy định về chấm dứt huy động và cho vay vốn bằng vàng của tổ chức tín dụng. Theo Thông tư số 11/2011/TT-NHNN, TCTD không được thực hiện huy động và cho vay vốn bằng vàng đối với khách hàng và TCTD. Ðây là một bước đi quan trọng trong việc hạn chế tình trạng “vàng hóa” nền kinh tế trước khi chuyển hoàn toàn quan hệ huy động, cho vay vốn bằng vàng sang quan hệ mua bán. Giải pháp trên đã phát huy tác dụng đáng kể khi tình trạng người dân đổ xô đi mua vàng trước những đợt tăng giá vàng trong và ngoài nước được hạn chế dần. Do vậy, biến động giá vàng trong nước trong thời kỳ này tương đối ổn định trước những đợt tăng mạnh của giá vàng thế giới (chi tiết có thể thấy khá rõ qua biểu đồ 1a).

Biểu đồ 1: Biến động giá vàng trong nước tại các thời điểm (triệu đồng)

1a) Sau khi ban hành Thông tư 11/2011/TT-NHNN

1b) Sau khi ban hành Nghị định số 24/2012/NĐ-CP, Thông tư 16/2012/TT-NHNN

image

image

1c) Sau khi ban hành Thông tư 38/2012/TT-NHNN

1d) Sau khi ban hành Quyết định 16/2013/QĐ-TTg, Thông tư 06/2013/TT-NHNN, Quyết định 563/QĐ-NHNN

image

image

Nguồn: doji.vn; bullion-rates.com và tính toán của tác giả

Năm 2012, NHNN đã xây dựng và trình Chính phủ ban hành Nghị định 24/2012/NÐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh vàng với nguyên tắc NHNN là cơ quan thay mặt Chính phủ thống nhất quản lý các hoạt động kinh doanh vàng, hướng đến mục tiêu phát triển ổn định và bền vững thị trường vàng. Ngay sau đó, NHNN đã khẩn trương ban hành Thông tư 16/2012/TT-NHNN hướng dẫn một số điều của Nghị định 24/2012/NÐ-CP, Quyết định 1623/QÐ-NHNN về tổ chức và quản lý sản xuất vàng miếng của NHNN. Thị trường đã ghi nhận những dấu hiệu tích cực khi các văn bản này được ban hành và có hiệu lực khi giá vàng trong nước đã giảm đáng kể bất kể giá vàng thế giới tăng liên tục. Những biến động bất thường của giá vàng do yếu tố đầu cơ hoặc do ảnh hưởng từ biến động tỷ giá đã giảm hẳn. Ðiều này có thể nhận thấy khi nhìn vào biểu đồ 1b.

Trước tình hình giá vàng biến động mạnh trong những tháng cuối năm 2012, NHNN đã kịp thời ban hành Thông tư 38/2012/TT-NHNN về việc quy định trạng thái vàng của các tổ chức tín dụng không được âm và không được vượt quá 2% so với vốn tự có. Với mục tiêu hạn chế hiện tượng đầu cơ tích trữ, bán khống gây ra rủi ro cho các TCTD và toàn thị trường, thị trường vàng trong nước đã xuất hiện nhiều yếu tố tích cực khi Thông tư bắt đầu có hiệu lực. Giá vàng trong nước đã xuất hiện xu hướng đi ngang với biên độ dao động thấp, trước khi giảm sâu cho dù thị trường vàng thế giới có nhiều phiên điều chỉnh mạnh. Giá vàng thị trường trong nước giai đoạn này ngẫu nhiên cũng đã được kéo sát hơn với giá vàng thị trường thế giới khi mức độ chênh lệch giá chỉ ở mức trung bình 1 triệu đồng/lượng. Hình ảnh trong biểu đồ 1c đã minh chứng khá rõ cho những nhận định trên.

Tuy nhiên, việc thời hạn tất toán trạng thái vàng của các TCTD đến gần đã dẫn đến cầu vàng của thị trường trong nước gia tăng, tạo áp lực mạnh đến thị trường vàng trong nước. Ðiều này diễn giải cho việc giá vàng thị trường trong nước giai đoạn sau 16/1/2013 quay đầu tăng mạnh bất chấp giá vàng thế giới giảm mạnh. Trước tình hình này, trong tháng 3/2013 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 16/2013/QÐ-TTg và NHNN đã ban hành Thông tư 06/2013/TT-NHNN, Quyết định 563/QÐ-NHNN nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý trong việc mua bán vàng miếng, là tiền đề cho các giải pháp bình ổn thị trường vàng trong nước thông qua việc bình ổn cung cầu. Kết quả của nhiều biện pháp quản lý và can thiệp kịp thời trên thị trường vàng là giá vàng trong nước từ trung tuần tháng 4/2013 đến trung tuần tháng 5/2013 có một số sự điều chỉnh nhất định nhưng tiếp tục thể hiện sự ổn định thông qua xu hướng đi ngang của giá vàng (xem hình ảnh chi tiết tại biểu đồ 1d). Tuy nhiên, biên độ dao động của giá vàng trong nước được mở rộng hơn, độ “rung lắc” xuất hiện với tần suất liên tục. Do giá vàng trong nước không có sự biến động lớn trong khi giá vàng thế giới giảm mạnh (trong tháng 4/2013, giá vàng thế giới có những phiên lao dốc mạnh nhất 30 năm qua), một lần nữa ngẫu nhiên dẫn đến mức chênh lệch về giá giữa thị trường trong nước và thế giới được nới rộng thêm. Ðến tháng 7/2013, do giá vàng thế giới tăng trở lại nhưng diễn biến giá vàng trong nước tương đối ổn định nên chênh lệch giá giữa hai thị trường tất yếu giảm dần. Như vậy, có thể nhận thấy rõ với các giải pháp đồng bộ, mục tiêu rất quan trọng mà NHNN đã thực hiện được trong giai đoạn 2011-2013 đó là đảm bảo giá vàng trong nước diễn biến khá ổn định bất chấp những biến động bất thường của thị trường vàng quốc tế.

2. Chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới là hiện tượng tất yếu khi giá vàng thế giới liên tục chao đảo trong khi giá vàng tại Việt Nam duy trì được sự ổn định

Nhiều quan điểm nghiên cứu cho rằng nhiệm vụ của cơ quan quản lý vĩ mô là phải đảm bảo giảm độ chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới, giá vàng trong nước “sát” với giá vàng quốc tế. Tuy nhiên, khi thực hiện các phân tích khách quan và dựa vào đánh giá phản ứng của thị trường trước những thay đổi chính sách (như nội dung nghiên cứu đã trình bày trong phần trên), thì có thể thấy rõ, cơ quan quản lý vĩ mô đã khá thành công trong đảm bảo ổn định thị trường vàng trong nước và việc chênh lệch giữa giá vàng tại Việt Nam và thế giới là hiện tượng tất yếu.

Thứ nhất, nếu để giá vàng trong nước bám sát giá vàng thế giới thì giai đoạn 2011-2013, thị trường vàng Việt Nam sẽ liên tục bất ổn tương tự như sự lên xuống thất thường của thị trường vàng thế giới. Ðiều này chỉ có lợi cho giới đầu cơ và vô cùng bất lợi cho người dân nếu họ coi vàng là kênh “trú ẩn” an toàn.

Thứ hai, sự liên thông giá vàng trong nước và thế giới đòi hỏi dòng chảy của vàng ra vào tự do và theo nguyên tắc bình thông nhau. Theo đó, khi giá vàng thế giới xuất hiện biến động, thì ngay lập tức (cùng gia tốc chuyển động), thị trường trong nước sẽ trả lời bằng những đợt thu gom vàng để bán hay thu gom ngoại tệ để mua vàng, dẫn đến những thay đổi cùng chiều của giá vàng trong nước (cùng cường độ) theo quan hệ cung cầu. Dưới tác động của những đợt sóng thu gom vàng hay ngoại tệ, giá trị của đồng nội tệ sẽ dịch chuyển ngược chiều với giá vàng thế giới. Về cơ bản, nhiều nghiên cứu đã cho thấy quy mô thị trường vàng Việt Nam khá lớn, do đó sự bất ổn của thị trường vàng có thể tác động mạnh đến tỷ giá. Từ đó, hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ bị ảnh hưởng rất mạnh khi các doanh nghiệp Việt Nam liên quan khá nhiều đến hoạt động xuất nhập khẩu. Rõ ràng, những nhà quản lý vĩ mô không thể hy sinh thị trường liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp (nền kinh tế thật và thực sự tạo ra giá trị gia tăng) cho một thị trường vàng miếng thuần túy thương mại.

Thứ ba, vàng là mặt hàng Nhà nước không cấm kinh doanh, nhưng nó không được khuyến khích. Hơn nữa, kinh doanh loại mặt hàng này có thể tiêu tốn một lượng lớn dự trữ ngoại tệ của đất nước. Nếu Việt Nam quyết tâm liên thông giá vàng trong nước với giá vàng thế giới bằng mọi giá, đồng nghĩa với việc Việt Nam dần chấp nhận tình trạng vàng hóa và đô la hóa nền kinh tế.

Như vậy, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý vĩ mô đối với vàng là phải đảm bảo sự ổn định của thị trường. Theo đó, khi thị trường ổn định được cung – cầu, tất yếu giá sẽ ổn định và đương nhiên chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới sẽ có thể gia tăng hoặc thu hẹp do giá vàng thế giới hiện nay đang có quá nhiều biến động bất thường. Về nguyên tắc, từ tháng 3/2013, khi tổ chức đấu thầu vàng, NHNN có mục đích làm tăng cung vàng miếng, đồng thời áp lực cầu về vàng sẽ không còn quá lớn đặc biệt sau ngày 30/06/2013. Trên thực tế, nói một cách khách quan, bước đi này của NHNN đã phần nào hạn chế tối đa giới đầu cơ lũng đoạn thị trường, bình ổn thị trường tiền tệ, kiểm soát nguồn cung tiền, ổn định kinh tế vĩ mô như mục tiêu lâu dài đã đề ra. Theo đó, so với những biến động khôn lường của giá vàng thế giới, giá vàng Việt Nam hiện nay ở mức tương đối ổn định. Như vậy, những bằng chứng trên cho thấy chính sách điều hành của Chính phủ và NHNN trong thời gian qua là những công cụ cần thiết trong việc giảm “xóc” cho thị trường vàng trong nước trước những biến động mạnh của vàng thế giới, và cuối cùng đạt được mục tiêu đảm bảo bình ổn thị trường vàng.

3. Bước đầu đạt được mục tiêu quản lý thị trường vàng góp phần kiểm soát các tỷ giá hối đoái và các chỉ số kinh tế vĩ mô liên quan

Theo kinh nghiệm quốc tế của Trung Quốc và Ấn Ðộ, khi NHTW nắm độc quyền nhập khẩu vàng, sử dụng hiệu quả các biện pháp kiểm soát nhập lậu vàng cũng như hạn chế tình trạng vàng hóa nền kinh tế, thì biến động của giá vàng sẽ ít ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái.

Ðể kiểm định những tác động của chính sách quản lý thị trường vàng, tác giả sử dụng mô hình VAR cho hai giai đoạn trước và sau khi chấm dứt hoạt động của sàn vàng. Giai đoạn thứ nhất từ tháng 1/2006 đến tháng 3/2010 và giai đoạn thứ hai từ tháng 4/2010 đến tháng 4/2013. Mô hình VAR bao gồm các biến số chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá đôla Mỹ, giá vàng trong nước, giá vàng thế giới và dự trữ ngoại hối của Việt Nam. Số liệu được thu thập từ Tổng cục Thống kê, Thống kê tài chính quốc tế, kitco.com và được logarit hóa. Thông qua phản ứng của giá đô la Mỹ trước cú sốc của giá vàng trong nước, nhóm nghiên cứu muốn xem xét liệu giá vàng trong nước tăng mạnh có dẫn tới tình trạng thu gom ngoại tệ để nhập lậu vàng, gây áp lực lên tỷ giá hay không.

Biểu đồ 2: Phản ứng của giá đô la Mỹ trước cú sốc giá vàng trong nước

image

Đường màu đỏ thể hiện giai đoạn từ tháng 1/2006 đến tháng 3/2010

Đường màu xanh thể hiện giai đoạn từ tháng 4/2010 đến tháng 4/2013

Nguồn: Tính toán của tác giả

Biểu đồ 2 chỉ rõ mức độ biến động của giá đô la trước cú sốc tăng giá vàng trong giai đoạn sau thấp hơn nhiều so với giai đoạn trước đó. Như vậy, rõ ràng thị trường Việt Nam trước đây xảy ra hiện tượng khi có mức chênh lệch giá, các đơn vị được phép nhập khẩu và sản xuất vàng cũng như các đối tượng nhập khẩu vàng thu mua ngoại tệ với số lượng lớn trên thị trường để nhập khẩu vàng. Tuy nhiên, kể từ khi các văn bản pháp quy về quản lý thị trường vàng được ban hành đồng bộ, những cú sốc giá vàng đã không còn ảnh hưởng mạnh đến sự biến động của giá đô la. Có thể nói, minh chứng trên càng chỉ rõ ra những ảnh hưởng tích cực của việc NHNN thay mặt Chính phủ thống nhất quản lý các hoạt động kinh doanh vàng (tăng mức phạt với nhập lậu vàng) cũng như độc quyền sản xuất vàng miếng, và xuất, nhập khẩu vàng nguyên liệu và quy định một thương hiệu vàng SJC đã hạn chế đáng kể việc nhập lậu vàng, từ đó giảm thiểu áp lực lên thị trường ngoại tệ, cuối cùng góp phần ổn định tỷ giá và chỉ số kinh tế vĩ mô liên quan như lạm phát và tăng trưởng kinh tế.

Như vậy, mục tiêu quản lý thị trường vàng đảm bảo tránh các tác động tiêu cực đến các chỉ số kinh tế vĩ mô như tỷ giá, lạm phát đã bước đầu được hoàn thành.

4. Vẫn khó kiểm soát được tâm lý đầu cơ của một bộ phận dân cư

Với việc sử dụng mô hình VAR, nhóm nghiên cứu kiểm tra mức độ phản ứng của giá vàng trong nước trước cú sốc của giá vàng trong nước, giá vàng thế giới. Giai đoạn nghiên cứu vẫn được sử dụng từ tháng 1/2006 đến tháng 4/2013 được chia thành hai giai đoạn: giai đoạn thứ nhất từ tháng 1/2006 đến tháng 3/2010; giai đoạn thứ hai từ tháng 4/2010 đến tháng 4/2013.

Biểu đồ 3: Phản ứng của giá vàng trong nước

(i) Phản ứng của giá vàng trong nước trước chính cú sốc giá vàng trong nước

(ii) Phản ứng của giá vàng trong nước trước cú sốc giá vàng thế giới

image

image

Đường màu đỏ thể hiện giai đoạn từ tháng 1/2006 đến tháng 3/2010

Đường màu xanh thể hiện giai đoạn từ tháng 4/2010 đến tháng 4/2013

Nguồn: Tính toán của tác giả

Biểu đồ 3 cho thấy phản ứng của giá vàng trong nước trước sự thay đổi của chính giá vàng trong nước. Cú sốc tăng giá vàng trong nước có ảnh hưởng mạnh tới giá vàng ngay trong tháng sau trước khi giảm xuống trong tháng thứ hai và thứ ba (hiệu ứng điều chỉnh) trước khi mờ nhạt dần kể từ tháng thứ tư. Ðiều này cho thấy biến động giá vàng trong nước chịu tác động mang tâm lý rất cao từ nhà đầu tư (phản ứng thái quá).

Phân rã phương sai cho thấy trong giai đoạn thứ nhất, giá vàng quốc tế giải thích từ 56% đến 61% trong khi ở giai đoạn thứ hai, giá vàng quốc tế giải thích từ 47% đến 75% biến động giá vàng trong nước. Tương tự, giá vàng trong nước ở giai đoạn thứ nhất giải thích từ 41% giảm nhanh xuống còn 28% so với mức giảm từ 52% xuống còn 22% trong giai đoạn thứ hai (ngay từ tháng thứ hai trở đi). Ðiều này cho thấy sự chuyển dịch của các yếu tố chính tác động đến giá vàng trong nước theo hướng tăng mức độ ảnh hưởng cú sốc từ giá vàng thế giới nhiều hơn là cú sốc từ giá vàng trong nước khi thị trường trong nước được Chính phủ và NHNN quản lý chặt chẽ hơn. (Biểu đồ 4)

Biểu đồ 4: Phân rã phương sai của giá vàng trong nước

(i) Phân rã phương sai của giá vàng trong nước giai đoạn thứ nhất

(ii) Phân rã phương sai của giá vàng trong nước giai đoạn thứ hai

image

image

Nguồn: Tính toán của tác giả

Như vậy, thị trường vàng trong nước ngoài sự ảnh hưởng và chi phối bởi thị trường vàng quốc tế còn có sự ảnh hưởng và tác động khá lớn từ phản ứng thái quá của một bộ phận dân cư cũng như một số chủ thể khác trong nền kinh tế. Rõ ràng, thị trường vàng Việt Nam có dấu hiệu chuyển từ mục tiêu tích lũy giá trị giai đoạn 1/2006 – 3/2010 sang mục tiêu đầu cơ hưởng chênh lệch giá. Ðiều này cho thấy, việc NHNN thay mặt Chính phủ quản lý thị trường vàng để giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực của hoạt động này là thực sự cần thiết.

Tóm lại, khi đánh giá phản ứng của thị trường vàng trước các thay đổi chính sách giai đoạn 2011-2013, có thể nhận thấy sự đồng bộ và đúng mục tiêu. Tuy nhiên, để quản lý hiệu quả hơn nữa thị trường vàng trong giai đoạn tới cần có thêm các giải pháp quyết liệt hơn để giải quyết triệt để tâm lý đầu cơ vàng của một số chủ thể trong nền kinh tế đồng thời đảm bảo ổn định tỷ giá, xuất khẩu cũng như thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ, vừa hài hòa lợi ích của nhà đầu tư, của người dân và giữ vững dự trữ ngoại hối quốc gia.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Desebrock, N. (2002). An Introduction to the Indian Gold Market. Grendon International Research

2. Kitco Metals Inc., http://www.kitco.com

3. MBH Media Inc., http://www.bullion-rates.com

4. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, http://www.sbv.gov.vn

5. O’Connell, R. (2003). India: Exciting Advances in the Local Gold Market. World Gold Council Research.

6. Poapongsakorn, N., Nikomboriruk, D., Temboonkiat, T., and Milner, J. (1997). Gold bullion market in Thailand: A case for liberalisation.

7. Tập đoàn vàng bạc đá quý Doji, http://www.doji.vn

8. Tổng Cục thống kê, http://www.gso.gov.vn

9. World Databank, http://databank.worldbank.org/data/home.aspx

SOURCE: TẠP CHÍ NGÂN HÀNG SỐ 15/2013

TRA CỨU CÁC BÀI VIẾT CÙNG TÁC GIẢ

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: