SỰ HÌNH THÀNH TẬP QUÁN QUỐC TẾ

LS. ĐIỀN ĐỨC THÀNH – Đoàn Luật sư TPHCM

Theo Điểm b khoản 1 Điều 38 Quy chế Tòa án quốc tế qui định những yếu tố để được công nhận là tập quán quốc tế là sự áp dụng thường xuyên của quốc gia và được thừa nhận là quy phạm pháp lý bắt buộc (opinio juris). Theo đó, nội dung của Điều 38 Tòa án quốc tế hướng dẫn tập quán quốc tế đã được thừa nhận là qui phạm pháp luật phải được các quốc gia thừa nhận và áp dụng thường xuyên, mà sự áp dụng thường xuyên này khó có thể chứng minh rõ ràng.

Tuy khó chứng minh, nhưng ở một khía cạnh nào đó, cũng có thể chứng minh được như qua các tài liệu chuẩn bị cho các thủ tục khác như phê chuẩn điều ước; đàm phán điều ước hoặc tham gia hội nghị quốc tế; xây dựng luật pháp quốc gia; những bản án của tòa án quốc gia; bầu cử trong Đại hội Đồng Liên hiệp quốc và các tổ chức quốc tế khác; những phát biểu của bộ trưởng đại diện chính phủ về ngoại giao; các văn kiện chính thức về ngoại giao, các ý kiến tư vấn hoặc bào chữa của luật sư trước Tòa án quốc gia và Tòa án quốc tế.

Những phán quyết của tòa án hoặc trọng tài quốc tế đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành về thừa nhận tập quán quốc tế. Ví dụ như quan hệ song phương về môi trường được hình thành từ phán quyết trọng tài đối với tranh chấp Trail Smelter năm 1941: ”Không quốc gia nào có quyền sử dụng hoặc cho phép sử dụng lãnh thổ của mình để phát tán khói gây thiệt hại nghiêm trọng đến lãnh thổ, tài sản và người dân của quốc gia khác” và nguyên tắc này được mở rộng bằng tuyên bố Stockholm: ”Các quốc gia có trách nhiệm bảo đảm những hoạt động chủ quyền quốc gia không gây thiệt hại đến môi trường của các quốc gia khác hoặc các khu vực vượt quá giới hạn chủ quyền quốc gia” (Môi trường và luật quốc tế về môi trường, Nhà xuất bản chính trị quốc gia 1996).

Còn nhiều các văn bản quốc tế khác về tập quán quốc tế khác, nhất là ý kiến tư vấn của Tòa án quốc tế ngày 08/07/1996: ”Môi trường không phải là khái niệm trừu tượng, mà thể hiện một không gian nhằm đảm bảo chất lượng cuộc sống và sức khỏe của con người, kể cả những thế hệ chưa được sinh ra. Do đó, các quốc gia có nghĩa vụ bảo đảm những hoạt động trong phạm vi chủ quyền quốc gia phải được tiến hành theo cách thức tôn trọng môi trường quốc gia khác hoặc những khu vực vượt quá giới hạn chủ quyền quốc gia. Đây trở thành một cách giải thích luật quốc tế trong những vấn đề môi trường” (GS. Trần Văn Thắng – GS Lê Mai Anh, Luật quốc tế – Lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản Giáo dục, 2001).

Do đó, nghĩa vụ của các quốc gia là phải thông báo cho các quốc gia khác về hiểm họa môi trường cũng được thừa nhận, về bản chất được coi là một quy tắc tập quán, nguyên tắc này được ghi nhận vào năm 1974, trong một văn bản khuyến nghị của Tổ chức Hợp Tác và Phát Triển Kinh Tế (OECD – Organization for Economic Cooperation and Development) của các quốc gia công nghiệp phát triển, đã có nhiều văn bản tập quán, khuyến nghị và cưỡng chế…

Năm 1982, Công ước luật biển được chính thức qui định: “Khi biết được môi trường biển đang có nguy cơ sắp phải chịu thiệt hại do ô nhiễm, các quốc gia phải thông báo cho quốc gia có nguy cơ phải chịu tổn thất, cũng như thông báo cho các tổ chức có thẩm quyền (Điều 198)”. Một điều quan trọng là dù không hành động (bất hành vi) cũng được xem là sự áp dụng thường xuyên của quốc gia như chấp nhận một mức độ ô nhiễm hoặc gây suy thoái môi trường, đương nhiên hiểu rằng các quốc gia thừa nhận điều đó phù hợp với luật quốc tế.

Như vậy, được xem là tập quán quốc tế được thành lập là sự áp dụng thường xuyên được phổ biến, mà không đòi hỏi sự thừa nhận áp dụng của tất cả các quốc gia trên thế giới hoặc tại một khu vực nào đó, ví dụ như tranh chấp thềm lục địa Biển Bắc (North Sea Continental Shelf Case), Tòa án quốc tế đã xác định :“một qui tắc có thể được công nhận là tập quán ngay khi có sự thừa nhận của những đại diện, miễn sao bao gồm cả những quốc gia bị ảnh hưởng trực tiếp từ việc áp dụng quy tắc đó”; nếu có một quốc gia không thừa nhận áp dụng không có nghĩa là quy tắc này sẽ không có giá trị ràng buộc đối với quốc gia đó; do đó có thể hiểu là các quốc gia không cần thiết phải chính thức, mà đương nhiên bị ràng buộc vào quy tắc tập quán, vì sự hình thành tập quán luôn phải xuất phát từ những cách thức thừa nhận ở bất kỳ lúc nào (tài liệu Luật quốc tế, Khoa Luật Trường Đại học Groningen Hà Lan, 1996 – bản tiếng Anh).

Tuy nhiên xu hướng mới hiện này là dù không trực tiếp chứng minh quốc gia thừa nhận những quy phạm bắt buộc, và có thể suy luận một cách gián tiếp thông qua những xử sự thực tế của quốc gia, cũng không cần phải qui định rằng quốc gia phải tuyên bố chính thức thừa nhận, sự thừa nhận quy phạm bắt buộc có thể thông qua hành vi hoặc bất hành vi; với mục đích này, cho nên các quy tắc xử sự của luật quốc tế điều chỉnh hành vi của quốc gia trong mối quan hệ với những quốc gia khác; vì vậy không thể xem xét hành vi xử sự của một quốc gia, mà phải xem phản ứng của quốc gia khác như thế nào; nếu các quốc gia cùng khẳng định tính trái pháp luật trong những xử sự của một quốc gia, thì sự áp dụng thường xuyên vẫn không hình thành một quy tắc tập quán quốc tế.

Luật tập quán gắn liền với một cơ chế, nếu các quốc gia tán thành nên thay đổi một quy tắc, một quy tắc mới xuất hiện từ sự áp dụng thường xuyên của các quốc gia, có thể hình thành nhanh chóng. Nếu số lượng quốc gia ủng hộ, hoặc phản đối sự thay đổi quá ít, thì phải theo cách xử sự của số đông quốc gia đã tán thành quy tắc tập quán quốc tế đã áp dụng thường xuyên, không những luật quốc tế thừa nhận, mà quốc gia cũng mặc nhiên thừa nhận tập quán đó.

SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trích dẫn từ: http://www.hcmcbar.org/NewsDetail.aspx?CatPK=4&NewsPK=319

CÁC BÀI VIẾT CÙNG TÁC GIẢ

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: