TÁC PHẨM VĂN HỌC CÓ ĐƯỢC XEM LÀ TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG?

NGUYỀN THị HUYỀN – Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên – Huế

Như chúng ta đã biết thì tác giả là người sáng tạo phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học (gọi chung là tác phẩm). Quyền tác giả được bảo hộ tự động (không cần phải đăng ký) theo Luật Sở hữu trí tuệ và các quy định tại Công ước Bener, các văn bản pháp luật Sở hữu trí tuệ quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia. Tại khoản 1 Điều 738 Bộ luật dân sự quy định  “Quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản đối với tác phẩm”. Như vậy, trong quyền tác giả có chứa yếu tố quyền tài sản. Trong thực tế, đã xảy ra nhiều trường hợp tranh chấp về “quyền tác giả” mà có nhiều quan điểm khác nhau khi giải quyết; đặc biệt là việc tranh chấp này lại xuất hiện trong vụ án hôn nhân gia đình. Tác giả xin đưa ra tình huống cụ thể sau đây:

Chị X là người hoạt động trên lĩnh vực nghệ thuật, thỉnh thoảng có sở thích sáng tác thơ ngẫu hứng. Trước khi chị lấy chồng chị có sáng tác được 20 bài thơ, sau này mới in thành tập thơ riêng. Chị X lập gia đình với anh Y (hôn nhân hợp pháp) và sau khi lấy chồng, chị X vẫn tiếp tục sáng tác. Trong thời kỳ hôn nhân, chị X sáng tác được 50 bài thơ và chị đã cho in thành sách phát hành. Chị X trở thành người nổi tiếng và nhận được nhiều tiền nhuận bút vì có nhiều bài thơ được phổ nhạc. Sau đó, chị X và anh Y phát sinh mâu thuẫn và thuận tình ly hôn, nhưng có tranh chấp về tài sản. Tài sản tranh chấp trong trường hợp này là các bài thơ của chị X. Anh Y cho rằng đây là tài sản chung của vợ chồng, vì trong thời gian hôn nhân chị X đã sáng tác những bài thơ này và thời gian chị X dành làm thơ đồng nghĩa với anh việc phải cáng đáng việc nhà và chăm sóc con cái thay chị X; cho nên phải chia đôi 50 bài thơ do chị X sáng tác trong thời kỳ hôn nhân cũng như nhuận bút và những lợi nhuận đã phát sinh từ các tác phẩm của chị X cũng phải chia đôi cho anh một nửa. Chị X không đồng ý với ý kiến của anh Y, chị cho rằng: 50 bài thơ của chị là tác phẩm văn học, là tài sản sở hữu trí tuệ của chị, gắn liền với tên tuổi, nhân thân của chị nên không thể chia được. Chị cho rằng việc sáng tác của chị không làm ảnh hưởng gì đến cuộc sống gia đình, hầu hết chị sáng tác thơ tại phòng làm việc tại cơ quan lúc rảnh rỗi hoặc ở công viên.

Vụ việc trên được Tòa án thụ lý giải quyết và có hai quan điểm khác nhau xung quanh việc giải quyết yêu cầu của anh Y; cụ thể là:

Quan điểm thứ nhất: không chấp nhận ý kiến của anh X. Tác phẩm văn học là tài sản sở hữu trí tuệ, là tài sản đặc biệt gắn với quyền nhân thân của chị X nên không thể là tài sản chung được. Việc sáng tác thơ của chị X là thuộc là năng khiếu của một người. Chị X là tác giả thì chị X được bảo hộ quyền tác giả theo quy định pháp luật sở hữu trí tuệ đối với các tác phẩm này. Và đương nhiên chị X có các quyền tài sản đối với tác phẩm: Quyền hưởng nhuận bút; quyền được hưởng thù lao khi tác phẩm được sử dụng; quyền được hưởng lợi ích vật chất từ việc cho người khác sử dụng dưới một số hình thức nhất định; quyền được nhận giải thưởng khi tác phẩm đạt giải. Hiện tại chưa có một văn bản quy định pháp lý nào quy định tác phẩm văn học sáng tác trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chung để có căn cứ chia tài sản theo yêu cầu của anh X được.

Quan điểm thứ hai: Quan điểm này chấp nhận một phần yêu cầu của anh X vì cho rằng: chị X là tác giả của 50 bài thơ sáng tác trong thời kỳ hôn nhân, nên đương nhiên chị X được bảo hộ quyền tác giả. Thời hạn bảo hộ là từ khi 50 bài thơ phát hành suốt đời đến 50 năm sau khi tác giả chết. Cho nên không thể chia 50 bài thơ này theo yêu cầu anh X được.

Tuy nhiên, cũng cần xem xét các tác phẩm sở hữu trí tuệ này dưới góc độ là tài sản như: quyền hưởng nhuận bút; quyền được hưởng thù lao khi tác phẩm được sử dụng; quyền được hưởng lợi ích vật chất từ việc cho người khác sử dụng dưới một số hình thức nhất định; quyền được nhận giải thưởng khi tác phẩm đạt giải. Đối chiếu với các quy định này thì các tác phẩm của chị X đã in thành sách và có phổ nhạc nhiều bài nổi tiếng, từ đó phát sinh tài sản là nhuận bút và hợp đồng in sách, phổ nhạc nên đó là khoản thu nhập khá cao và  phải được chia đôi cho anh Y mới đảm bảo quyền lợi cho anh Y. Chị X vẫn có đây đủ quyền tác giả và quyền nhân thân, riêng các quyền tài sản phát sinh trong thời kỳ hôn nhân thì được xem là tài sản chung, nếu 02 vợ chồng anh không có thỏa thuận khác. Còn sau khi ly hôn, các tác phẩm này tiếp tục có tái bản, chuyển thể, đạt giải thưởng hay phát sinh bất cứ lợi ích vật chất nào khác đều thuộc quyền sở hữu riêng của chị X.

Tác giả đồng ý với phân tích của quan điểm thứ hai thứ hai vì phù hợp với các quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ và quy định của Luật hôn nhân gia đình. Rất mong các bạn đồng nghiệp cùng tham gia trao đổi để nâng cao nghiệp vụ.

SOURCE: Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao

Trích dẫn từ: http://toaan.gov.vn/portal/page/portal/tandtc/Baiviet?p_page_id=1754190&p_cateid=1751909&item_id=51955772&article_details=1

Advertisements

5 Responses

  1. Tài sản trí tuệ là tài sản vô hình không thể không thể phân chia theo cách thưc phân chia tài sản hưu hình thông thường. Xin phép bình luận ngắn gọn như thế tại đây, sẽ có dịp trao đoi thêm sau.

  2. đọc nội dung đã thể hiện sự lủng củng rồi,trên thì anh Y?dưới lại anh X?chán không muốn bình luận 🙁

  3. Tác phầm như một tài sản riêng. Nó là tài sản vô hình của trí tuệ và được pháp luật bảo hộ bằng bản quyền nên k thể là tài sản chung.
    ______________________________________
    Bạn có biết thành lập doanh nghiệp | dịch vụ thành lập công ty | dịch vụ thu hồi nợ | dịch vụ làm sổ đỏ | thủ tục ly hôn không?

  4. Điều 181, Bộ luật Dân sự quy định: Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ.

    Đối với tác phẩm văn học thì áp dụng điều 737 và điều 738 Bộ luật Dân sự. Trong đó Quyền tác giả gồm 02 thành phần là Quyần nhân thân (không thể tách rời tác giả) và Quyền tài sản (có thể tách rời tác giả).

    Như vậy phần quyền tài sản của quyền sở hữu trí tuệ được hình thành trong thời kỳ hôn nhân phải được coi là tài sản chung của vợ và chồng.

    Hiện nay Cục giá, Bộ tài chính đã ban hành Tiêu chuẩn thẩm định giá số 13 tại thông tư số 06/2014/TT-BTC. Đây là cơ sở để các tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp thực hiện việc thẩm định giá quyền sở hữu trí tuệ và các tài sản vô hình khác.

    Để giải quyết trường hợp được nêu trong bài viết, Thẩm phán cần chấp thuận yêu cầu của anh Y. Sau đó yêu cầu tổ chức định giá chuyên nghiệp xác định giá trị các tác phẩm mà chị X sáng tác trong thời kỳ hôn nhân để làm căn cứ hòa giải hoặc giải quyết vụ án.

    LƯU Ý: các bên có thể mời nhiều tổ chức định giá độc lập định giá trị tài sản. Các chứng thư thẩm định sẽ có giá trị ngang nhau. Thẩm phán có thể chọn một giá trị phù hợp nhất để ra phán quyết.

  5. Ý kiến của em cho rằng khoản tiền nhuận bút, lợi nhuận phát sinh từ các tác phẩm của chị X có thể được xem là lợi tức phát sinh từ việc khai thác tài sản (theo K1, điều 33, luật HN&GD 2014) để làm căn cứ xác định là tài sản chung của vợ chồng.
    Còn về quyền tác giả của chị X đối với các tác phẩm là tài sản riêng của chị X.
    Do chỉ là sinh viên năm 2 nên kiến thức của em còn rất hạn chế, rất mong sự chia sẻ, góp ý từ mọi người.

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: